Đối tượng của văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

Một phần của tài liệu Báo cáo công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản (Trang 24 - 27)

CHƯƠNG 2. KỸ NĂNG CÔNG CHỨNG VĂN BẢN THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ

2. Về văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

2.2. Đối tượng của văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

Đối tượng của thỏa thuận phân chia là khối di sản thuộc sở hữu chung của những người thừa kế. Theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.” Để xác định tài sản có phải di sản thừa kế hay không thì cần chứng minh quyền sở hữu của người chết đối với tài sản đó khi còn sống. Theo đó công chứng viên cần xét kỹ các giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản thuộc di sản thừa kế.

2.2.1. Di sản thừa kế là tài sản thuộc sở hữu riêng của người chết.

Tài sản riêng của người chết được hiểu là toàn bộ tài sản mà thuộc sở hữu của cá nhân người đó, vì thế khi thực hiện các quyền năng về chiếm hữu, sử dụng định đoạt đối với tài sản cá nhân không bị chi phối bởi bất kỳ một chủ thể nào, trừ sự chi phối của pháp luật4. Liên quan đến tài sản riêng của cá nhân, pháp luật điều chỉnh phổ biến nhất là xác định tài sản riêng của vợ, chồng. Tài sản riêng của vợ, chồng được xác định dựa trên những cơ sở sau đây:

- Tài sản có trước khi kết hôn; được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, được chia riêng trong thời kỳ hôn nhân (quy định tại Điều 38, 39, 40 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014);

3 Ths. Đoàn Thị Ngọc Hải, Thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật dân sự, Chuyên mục Nghiên cứu - Xây dựng pháp luật, Tạp chí Tòa Án Nhân Dân Điện Tử, đăng ngày 08 tháng 04 năm 2019.

4 Tiến sĩ Phạm Văn Tuyết (2007), Thừa kế - Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, NXB Chính Trị Quốc Gia, tr 70, 71.

- Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng;

- Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được (theo quy định tại Khoản 1 Điều 33 và Khoản 1 Điều 40 Luật Luật Hôn nhân và gia đình 2014);

(Quy định tại Khoản 1 Điều 33, 38,39,40 Luật Luật Hôn nhân và gia đình 2014);

- Tài sản mà vợ hoặc chồng xác lập là sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có hiệu lực pháp luật;

- Khoản trợ cấp mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng.

(Quy định tại Điều 11 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình)

2.2.2. Di sản thừa kế là tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác

Thực tế cho thấy, một tài sản không chỉ thuộc sở hữu của một cá nhân mà có thể do nhiều cá nhân đồng sở hữu. Phần tài sản của người chết có thể nằm trong tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất hoặc nằm trong khối tài sản thuộc sở hữu chung theo phần với người khác, tuỳ theo cách thức và căn cứ xác lập nên các hình thức sở hữu.

* Di sản thừa kế là tài sản của người chết trong khối tài sản chung hợp nhất với người khác: Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.

Các chủ sở hữu chung hợp nhất có các quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung. Đối với di sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, khi vợ hoặc chồng chết trước, phần di sản của người chết trước là chồng hoặc vợ được xác định là ẵ giỏ trị trong tổng giỏ trị tài sản chung hợp nhất của vợ chồng.

* Di sản thừa kế là tài sản của người chết trong khối tài sản chung theo phần với người khác: Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 217 Bộ luật Dân sự 2015, mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Để xác định di sản thừa kế của người chết để lại trong trường hợp này, cần xác định phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung với các chủ thể khác theo tỉ lệ.

2.2.3. Di sản thừa kế không thể thỏa thuận phân chia hoặc bị hạn chế phân chia.

* Di sản thờ cúng:

Theo quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Về bản chất, di sản thờ cúng là tài sản dùng vào việc thờ cúng, có thể là hiện vật, tiền (phụ thuộc vào tài sản mà người lập di chúc đã chỉ rõ). Phần di sản này không được phép chia thừa kế. Di sản dùng vào việc thờ cúng chỉ là một phần của di sản do người chết để lại, còn phần không định đoạt vào việc thờ cúng được chia theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật5. Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

* Di sản bị hạn chế phân chia do thủ tục hành chính:

Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của con người được pháp luật bảo hộ. Tuy nhiên, quyền này cũng bị hạn chế trong một số trường hợp bởi quy định của thủ tục hành chính. Chẳng hạn trong trường hợp diện tích đất nhỏ hơn diện tích tối thiểu trên thì các đồng thừa kế khi làm thủ tục khai nhận hoặc thỏa thuận di sản thừa kế phải đứng tên đồng sở hữu nhà, sử dụng đất hoặc phải tặng cho một trong các người thừa kế đứng tên sở hữu, không được thỏa thuận tách thửa cho từng cá nhân được.

* Có người hưởng di sản chưa có hoặc mất năng lực hành vi dân sự:

Người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự tham gia vào các giao dịch dân sự thông qua người đại diện hợp pháp của họ. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3, Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015 người đại diện không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế cũng là một giao dịch dân sự, vì vậy nếu một người vừa là người thừa kế, vừa là người đại diện của người thừa kế là người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì không thể thỏa thuận phân chia di sản do người này không thể xác lập giao dịch với chính mình.

* Theo ý chí của người lập di chúc:

Di sản có thể bị hạn chế phân chia do di sản theo ý chí của người để lại di sản phân chia hiện vật cho từng người thừa kế hoặc di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định (Điều 659, Điều 661 Bộ luật Dân sự 2015).

5 . Phùng Trung Tập (2001), "Di sản dùng vào việc thờ cúng trong mối liên hệ với di sản thừa kế", Tạp chí Luật học, 01/2001, tr. 49

* Trường hợp chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc bên chồng và gia đình (Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015):

Trong trường hợp nếu có yêu cầu chia di sản thừa kế, mà hậu quả của việc chia đó sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu tòa án xác định phần di sản của mỗi người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia trong một thời hạn nhất định.

+ Thời hạn hạn chế phân chia di sản thừa kế không quá ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế là người để lại di sản chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết.

+ Nếu bên còn sống đã kết hôn với người khác hoặc thời hạn hạn chế phân chia di sản do tòa án xác định đã hết thì người thừa kế khác có quyền yêu cầu tòa án cho chia lại di sản thừa kế

+ Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm.

* Di sản bị hạn chế phân chia do trường hợp có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra (khoản 1 Điều 660 BLDS 2015).

Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

* Di sản bị hạn chế phân chia do tài sản thừa kế là nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất:

Trường hợp có người thừa kế “nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất” không phải là chủ sở hữu nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất thì người thừa kế được thanh toán phần giá trị nhà ở mà họ được thừa kế (Điều 142 Luật Nhà ở 2014).

Một phần của tài liệu Báo cáo công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản (Trang 24 - 27)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(33 trang)
w