MỘT SỐ HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG VĂN BẢN THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Một phần của tài liệu Báo cáo công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản (Trang 29 - 32)

1. Một số hạn chế trong hoạt động công chứng văn bản văn bản thỏa thuận phân chia di sản

Thứ nhất, khó khăn trong việc cung cấp giấy chứng tử. Đối với những trường hợp chết đã quá lâu, chết trong thời kỳ chiến tranh, loạn lạc hoặc thiên tai, lũ lụt, hay không rõ chết nơi nào… người thân của người chết không thực hiện đăng ký khai tử cũng như không còn lưu giữ được bất cứ giấy tờ nào để chứng minh sự kiện chết.

Trong những trường hợp này, người yêu cầu công chứng rất khó đáp ứng được yêu cầu của công chứng viên khi có yêu cầu công chứng việc thỏa thuận phân chia di sản. Tuy nhiên vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể. Hiện nay, các cơ quan có thẩm quyền cũng như công chứng viên vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau dẫn tới yêu cầu giấy tờ mỗi nơi một khác, việc hướng dẫn giấy tờ thiếu thống nhất dẫn đến việc áp dụng pháp luật tùy tiện sẽ làm giá trị pháp lý của văn bản thừa kế thiếu chặt chẽ.

Tình trạng khai tử cho người còn sống ngày càng phổ biến, nhiều trường hợp người còn sống nhưng bị người nhà khai là đã chết để chiếm đoạt di sản thừa kế, thậm chí vợ khai tử chồng để bán rẫy là vụ việc mới nhất xảy ra tại xã Ea Kênh, huyện Krông Păk, tỉnh Đăk Lăk như Báo Tiền Phong đã đưa tin ngày 20/9/20196.

Thứ hai, hoạt động công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản nói chung và công chứng hợp đồng, giao dịch nói riêng vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như: chất lượng đội ngũ công chứng viên chưa đồng đều, còn có công chứng viên vi phạm pháp luật, đạo đức hành nghề, không tuân thủ đúng thủ tục, quy trình nghiệp vụ công chứng theo quy định. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công

6 Hy hữu vợ 'quyết' khai tử cho chồng dù đang vô cùng khỏe mạnh (https://www.tienphong.vn/xa-hoi/hy-huu-vo- quyet-khai-tu-cho-chong-du-dang-vo-cung-khoe-manh-1466335.tpo).

chứng tuy đã được thực hiện nhưng mới chỉ là bước đầu, chưa tương xứng với sự phát triển các nhu cầu giao dịch trong công chứng cũng như sự tinh vi trong các hành vi lừa đảo, lợi dụng công chứng để hợp pháp hóa trong thời gian gần đây.

Cùng với đó, trong thời gian gần đây, số lượng sai sót, vi phạm của văn phòng công chứng và công chứng viên hành nghề tại văn phòng công chứng có xu hướng tăng: sai phạm trong việc công chứng hợp đồng, giao dịch không có căn cứ xác định quyền sử dụng, sở hữu riêng đối với tài sản khi tham gia giao dịch; công chứng khi hồ sơ không đầy đủ các giấy tờ, tài liệu theo quy định, ghi lời chứng không đúng mẫu quy định…

Thứ ba, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 được đánh giá là hoàn thiện, trong đó có chế định thừa kế và nhiều nội dung mới được luật hóa, từng bước đáp ứng yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên, qua một thời gian đi vào cuộc sống đã cho thấy vẫn còn một số vướng mắc, bất cập, từ đó dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau, việc áp dụng trên thực tế cũng không thống nhất. Bất cập trong các quy định của Bộ Luật Dân sự 2015 về thừa kế còn khá nhiều, gây khó khăn trong thực tiễn thực hiện, áp dụng luật trong hoạt động công chứng.

Ngoài ra, còn một số hạn chế xuất phát từ thể chế pháp luật quy định về công chứng còn bất cập, chồng chéo. Hoạt động quản lý nhà nước về công chứng còn hạn chế do thiếu nhân lực. Các tổ chức hành nghề công chứng phát triển nhanh nhưng công tác thanh, kiểm tra còn hạn chế, chưa kịp thời phát hiện để chấn chỉnh những vi phạm của các tổ chức hành nghề công chứng. Công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng hành nghề công chứng mặc dù được quan tâm, thực hiện thường xuyên nhưng hiệu quả chưa cao.

2. Một số kiến nghị giải pháp

Thứ nhất, việc nghiên cứu bổ sung quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký khai tử là một vấn đề cấp thiết cần sớm được quy định hướng dẫn cụ thể, nhằm hạn chế ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan. Cần nhanh chóng có văn bản hướng dẫn các địa phương để thực hiện thống nhất vấn đề về giấy tờ chứng minh việc tử để những người thân của người chết có thể thực hiện một cách nhanh chóng và hạn chế được những khó khăn, phiền hà. Trong đó, cơ quan thực hiện đăng ký hộ tịch cần kiểm tra, xác minh chặt chẽ, bảo đảm thông tin, xác nhận sự kiện tử là đúng sự thật để hạn chế sai sót hay tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng kẽ hở quản lý để hợp thức hóa giấy tờ.

Thứ hai, cần có các giải pháp khắc phục hạn chế về chất lượng đội ngũ công chứng viên, nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên theo hướng chuyên nghiệp hoá. Công chứng viên không phải chỉ là người được đào tạo cơ bản về luật pháp, về nghề công chứng, tinh thông nghề nghiệp, giàu kinh nghiệm, vốn sống mà còn phải có

phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp (trung thực, vô tư, khách quan, liêm khiết, nhiệt tình, trách nhiệm...). Đồng thời, công chứng viên còn cần phải có kiến thức về ngoại ngữ, tin học để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với công chứng.

Trước các yêu cầu trên, để nâng cao chất lượng đội ngũ công chứng viên theo hướng chuyên nghiệp hoá, cần xây dựng kế hoạch, chiến lược đào tạo toàn diện. Trước mắt, làm tốt công tác đào tạo nghề công chứng với việc xây dựng chương trình, giáo trình chuẩn và đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, kết hợp nhuần nhuyễn giữa giảng dạy lý thuyết và thực hành. Đồng thời, cần phải xây dựng quy tắc đạo đức nghề nghiệp của công chứng viên; bảo đảm các nguyên tắc bổ nhiệm công chứng viên với điều kiện bổ nhiệm và quy trình bổ nhiệm chặt chẽ. Đổi mới chế độ chính sách đối với công chứng viên, tạo động lực để công chứng viên phát huy tính tích cực, chủ động, đề cao trách nhiệm phục vụ trong hoạt động nghề nghiệp của mình. Cùng với đó, cần hoàn thiện chế độ trách nhiệm pháp lý của công chứng viên đối với văn bản công chứng, nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên.

Thứ ba, đối với những bất cập của Bộ luật Dân sự 2015 trong lĩnh vực thừa kế, nhà làm luật cần có phương án nghiên cứu, sửa đổi để quy định về thừa kế được hoàn thiện và phù hợp hơn, nhưng trước hết cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn để tránh trường hợp có nhiều cách hiểu khác nhau.

Đối với những hạn chế trong quy định pháp luật về lĩnh vực công chứng, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện bảo đảm chặt chẽ hơn nữa về trình tự thủ tục công chứng, chứng thực hợp đồng, giao dịch nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, hạn chế rủi ro cho người thực hiện công chứng, chứng thực. Và cần có công cụ pháp lý đủ mạnh chế tài tận gốc, nghiêm khắc nạn giấy tờ giả lọt qua khâu công chứng. Bộ Tư pháp sớm tham mưu Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi Luật Công chứng trên cơ sở mối tương quan với các quy định pháp luật khác (pháp luật về dân sự, đất đai, nhà ở, chứng thực), đặc biệt là các quy định pháp luật về chứng thực liên quan đến trình tự, trách nhiệm của người chứng thực và công chứng viên.

Thứ tư, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm tại các tổ chức hành nghề công chứng, đặc biệt là xử phạt nghiêm các hành vi vi phạm của công chứng viên, bảo đảm việc thực hiện pháp luật công chứng luôn đúng đắn và chính xác.

Để hoạt động này được thực hiện tốt, cần hoàn thiện tổ chức bộ máy cơ quan thành tra, tăng cường số lượng cũng như chất lượng cán bộ, công chức thanh tra, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kinh nghiệm cũng lĩnh vực thanh tra cũng như lĩnh vực công chứng, không chỉ nắm vững quy định của pháp luật mà còn phải có kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động công chứng.

Cuối cùng, tăng cường xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, công chứng viên, người yêu cầu công chứng trong hoạt động công chứng. Bảo đảm mọi hành vi trái pháp luật đều bị xử lý, bất kể người vi phạm có vị trí xã hội, nghề nghiệp, thành phần xuất thân nào. Việc xử lý cần nghiêm minh, kịp thời, không thiên vị, đặc biệt là đối với hành vi trái pháp luật của các công chứng viên vì hành vi trái pháp luật của công chứng viên sẽ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ảnh hưởng đến an toàn pháp lý của hợp đồng, giao dịch, gây mất trật tự, an toàn xã hội.

Một phần của tài liệu Báo cáo công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản (Trang 29 - 32)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(33 trang)
w