Điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình sản xuất ngô tại Sơn La

Một phần của tài liệu Nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai có năng suất, chất lượng phù hợp với sản xuất ở sơn la (Trang 21 - 26)

5. Những đóng góp mới của đề tài

1.2. Điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình sản xuất ngô tại Sơn La

Tỉnh Sơn La nằm ở trung tâm vùng Tây Bắc gồm 1 thành phố và 11 huyện, thị với diện tích tự nhiên là 1.410.983 ha, tỉnh có diện tích lớn thứ 3 của cả nước chiếm 39% diện tích vùng Tây Bắc và bằng 4,15% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc [27].

Sơn La có địa hình đa dạng với nhiều đồi, các dãy núi, thung lũng sâu, hệ thống sông suối đa dạng. Sơn La có vị thế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của cả vùng Tây Bắc.

Địa hình Sơn La chiếm trên 85% diện tích là đồi núi, với thung lũng, các vùng bồn trũng giữa núi chiếm khoảng 15% diện tích. Chính các điều đó làm cho đại bộ phân đồng ruộng của tỉnh rất nhỏ hẹp, manh mún, chủ yếu là ruộng bậc thang, đất và dinh dưỡng trong đất bị rửa trôi, sự xói mòn diễn ra rất mạnh. Nhìn chung đất đai trên địa bàn tỉnh Sơn La còn khá tốt, tầng đất dày, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, tỷ lệ mùn và chất dinh dưỡng khá, độ chua không cao lắm, nghèo bazơ trao đổi phù hợp với nhiều loài cây trồng như cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp... tạo cho tỉnh có lợi thế về cây trồng phong phú. Tuy nhiên do địa hình dốc, trong khi độ che phủ của thảm thực vật thấp nên đất bị xói mòn rửa trôi, việc canh tác trên đất dốc cũng như việc lạm dụng các loại phân bón hoá học làm cho đất bị chai cứng... dẫn đến làm giảm độ phì đất. Tầng đất khá dày, thấm nước tốt, tỷ lệ các chất dinh dưỡng, đạm và lân trong đất cao là các đặc điểm chung của thổ nhưỡng Sơn La.

Tây Bắc nói chung và tỉnh Sơn La nói riêng có chế độ mưa mùa hạ của vùng nhiệt đới gió mùa. Chế độ mưa có sự tương phản rõ rệt: mùa mưa (là thời kỳ hoạt động của gió mùa tây nam) kéo dài 6 tháng, từ tháng 4 đến tháng 9; mùa khô (là thời kỳ hoạt động của gió mùa đông bắc) kéo dài khoảng 5-6 tháng, từ tháng 10 hoặc 11 của năm trước đến hết tháng 3 của năm sau. Lượng mưa phân bổ không đều theo thời gian, mưa lớn tập trung vào tháng 6, 7, 8, và lượng mưa cũng không đều giữa các khu vực của tỉnh. Sơn La nằm trong khu vực ít chịu ảnh hưởng của gió bão hơn các vùng khác nhưng thường hay xảy ra các cơn dông lốc, gió lớn. Do ảnh hưởng của các dãy núi cao trung bình chạy dọc biên giới Việt - Lào nên trong thời gian tháng 3, 4, Sơn La chịu ảnh hưởng của hiệu ứng phơn nên có gió tây nam (gió Lào) khô, nóng, thời tiết tương đối khắc nghiệt. Qua đó có thể nhận thấy, ngoài các lợi thế về thổ nhưỡng, khí hậu thì Sơn La gặp khó khăn rất lớn khi việc trồng ngô hoàn toàn phụ thuộc vào nước trời, đầu vụ có thể gặp hạn hán giai đoạn cây con, đến giai đoạn thu hoạch có thể gặp mưa kéo dài, gây ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng ngô hạt.

Theo báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2022 của Cục thống kê Sơn La, dân số trung bình của tỉnh ước tính 1.300,125 nghìn người người, tăng 12,4 nghìn người, tương đương tăng 0,96% so với năm 2021. Trong tổng dân số, dân số thành thị 181,801 nghìn người, chiếm 13,98%; dân số nông thôn 1.198,324 nghìn người, chiếm 86,02%; nam 659,785 nghìn người, chiếm 50,75%; nữ 640,340 nghìn người, chiếm 49,25%. Tỷ số giới tính của dân số là 103,03 nam/100 nữ. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính 626,964 nghìn người, tăng 13,99% so với năm 2021. Trong đó:

Nam 323,188 nghìn người, nữ 303,776 nghìn người. Lao động từ 15 tuổi đang làm việc hàng năm ước tính 582,477 nghìn người, bằng 92,90% tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên. Tỷ trọng lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản có xu hướng giảm mạnh, trong khi tỷ trọng lao động làm việc trong các ngành công nghiệp xây dựng, ngành dịch vụ có xu hướng tăng. Trong mức tăng trưởng chung của tỉnh, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,23% (giảm 4,81% so với tốc độ tăng năm 2021); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 17,42% (tăng 20,95% so với

tốc độ tăng năm 2021); khu vực dịch vụ tăng 7,91% (tăng 2,02% so với tốc độ tăng năm 2021) [15].

Hiện nay, tỉnh Sơn La có diện tích cây ăn quả lớn nhất miền Bắc và đứng thứ 2 cả nước, cây ăn quả được phát triển ở tất cả các huyện của tỉnh. Năm 2019, diện tích cây ăn quả toàn tỉnh đạt 70,33 nghìn ha (tăng 2,98 lần so với năm 2015), bình quân mỗi năm tăng 36,5%. Diện tích cây ăn quả toàn tỉnh năm 2020 là 78,85 nghìn ha tăng 12% so với 2019. Mục tiêu đến năm 2025 diện tích trồng cây ăn quả đạt 104,82 nghìn ha [17]. Trước sự đầu tư, phát triển mạnh của cây ăn quả, ngô Sơn La đang dần mất đi vị thế số một. Tuy vậy ngô vẫn là một trong những cây trồng chủ lực ở Sơn La, canh tác ngô trên đất dốc vẫn là một trong những nguồn sinh kế chính của nông dân địa phương. Tỉnh đã lập kế hoạch, áp dụng, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ để tăng sản lượng, sản xuất ngô bền vững và hiệu quả. Tỉnh sẽ duy trì diện tích ngô ổn định đến năm 2025 ở mức 70 nghìn ha, năng suất đạt 315 nghìn tấn, định hướng năm 2030 diện tích ở mức 65 nghìn ha, năng suất đạt 320 nghìn tấn [16].

1.2.2. Tình hình sản xuất ngô tại Sơn La

Tại Sơn La, cây ngô là cây lương thực quan trọng, cây trồng chủ lực của người dân, góp phần xóa đói, giảm nghèo. Cùng với xu thế phát triển chung của đất nước, sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc cũng đang có sự chuyển biến, tuy có sự thay đổi tăng, giảm về diện tích nhưng ngô được coi là cây trồng chủ lực ổn định lương thực và cung cấp thức ăn cho chăn nuôi của vùng. Sơn La là 1 trong 4 tỉnh phía Tây Bắc, không chỉ là vùng trồng ngô lớn nhất phía Bắc mà còn là vùng trồng ngô trọng điểm của cả nước với diện tích và sản lượng luôn cùng Đak Lak dẫn đầu cả nước. Ngô Sơn La được trồng chủ yếu trong vụ Xuân Hè – Hè Thu trên các đồi, núi, một phần được trồng vào vụ Thu Đông tại các vùng đất bãi ven sông, suối. Do là vùng trồng ngô hàng hoá, nên giống ngô được sử dụng ở đây chủ yếu là giống lai và rất đa dạng về chủng loại như: LVN10, CP888, NK67, NK66, NK4300, LVN99, DK9901, DK9955,... Tại đây, hầu hết giống ngô của các tập đoàn hạt giống lớn nhất thế giới đều đang có mặt và phục vụ sản xuất tại Sơn La (Bayer, Pioneer, CP, Bioseed,

Sygenta, Cty CP Giống Cây trồng miền Nam, Cty CP giống Cây trồng TW,... và Viện Nghiên cứu Ngô.

Cây ngô từ lâu đã khá phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu của Sơn La, dễ gieo trồng, dễ chăm sóc, cho thu nhập khá nên cây ngô là cây lương thực quan trọng của tỉnh trong nhiều chục năm qua. Trong khoảng gần 30 năm trở lại đây, ngô tại Sơn La đã có sự tiến bộ, tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Có được sự thay đổi đó là nhờ việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, thay thế việc trồng các giống ngô thụ phấn tự do bằng các giống ngô lai có tiềm năng năng suất cao. Điều đó được thể hiện rõ trong bảng 1.5.

Bảng 1.5. Diện tích, năng suất và sản lượng ngô Sơn La từ năm 2000-2021

Năm Diện tích

(nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

1995 25,2 18,1 45,6

2000 51,6 26,3 135,8

2010 132,7 31,5 417,4

2011 127,5 39,8 506,7

2012 168,7 39,6 667,3

2013 162,8 40,2 654,7

2014 162,5 40,6 657,7

2015 159,9 36,8 588,7

2016 152,4 39,3 598,6

2017 138,1 40,7 561,8

2018 113,8 41,5 472,0

2019 95,4 41,1 392,0

2020 85,3 42,7 364,2

2021 78,2 43,4 339,2

(Nguồn: Niên giám thống kê 2014-2021)[26, 27]

Năm 1995, diện tích trồng ngô của Sơn La là 25,2 nghìn ha, năng suất chỉ đạt 18,1 tạ/ha và sản lượng là 45,6 nghìn tấn. Tuy nhiên năm 2000, diện tích đã tăng lên gấp đôi (51,6 nghìn ha), năm 2010 diện tích tăng hơn 5 lần (đạt 132,7 nghìn ha), sản lượng tăng gần 10 lần (đạt 417,4 nghìn tấn) có được bước nhảy vọt này cũng nhờ sự cải thiện rất lớn về mặt năng suất, tăng gần 2 lần (đạt 31,5 tạ/ha). Nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật, năng suất ngô đã từng bước được cải thiện, bên cạnh đó việc mở rộng

diện tích gieo trồng, đã giúp cho sản lượng ngô Sơn La có những bước tiến vượt bậc, đạt cao nhất tại các năm 2012 (667,3 nghìn tấn), 2013 (654,7 nghìn tấn) và 2014 (657,7 nghìn tấn). Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, mặc dù vẫn có sự bổ sung, thay thế nhiều bộ giống ngô mới cho vùng, có sự cải thiện về năng suất, nhưng sự sụt giảm mạnh về diện tích gieo trồng đã làm cho sản lượng ngô Sơn La giảm mạnh.

Theo số liệu ước tính của Tổng cục thống kê năm 2022, diện tích ngô Sơn La năm 2021 đạt 78,2 nghìn ha giảm 53,64% so với năm 2012, kéo theo sự suy giảm về sản lượng, chỉ đạt 339,2 nghìn tấn giảm 49,16%. Sở dĩ có nguyên nhân này là do sự thay đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện chủ trương giảm diện tích cây lương thực trên đất dốc, dành diện tích đất cho phát triển cây ăn quả, các loại cây có hiệu quả kinh tế cao hơn.

Tuy nhiên, trong cơ cấu sản phẩm nông nghiệp thì cây ngô vẫn chiếm thị phần quan trọng trong kinh tế của Sơn La.

Trong những năm gần đây, trước sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi, nhu cầu thức ăn chăn nuôi tăng cao, dẫn đến ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi và các cây làm nguyên liệu cho ngành này cũng không ngừng tăng trưởng. Ngô hạt và thức ăn chăn nuôi có mối liên quan chặt chẽ với nhau, ngô hạt chiếm vị trí rất quan trọng trong ngành công nghiệp này. Ngô hạt của tỉnh Sơn La cung cấp một lượng lớn nguyên liệu thô cho các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi phía Bắc. Từ việc sản xuất ngô với mục đích chính để sử dụng cho nhu cầu làm thực phẩm, chăn nuôi ở các hộ gia đình, đến nay ngô đã trở thành 1 loại nông sản mang tính hàng hóa cao. Theo nghiên cứu của Nguyễn Đăng Học (2017), ngô Sơn La có tính hàng hóa cao với tỷ lệ ngô tiêu thụ của các nhóm hộ trồng ngô từ 83,9 – 96,2% tổng sản lượng ngô của hộ, chỉ 1 phần nhỏ được giữ lại phục vụ nhu cầu làm thực phẩm và chăn nuôi. Trong đó, ngô của các hộ có quy mô lớn hơn 3 ha có tính hàng hóa cao nhất so với quy mô từ 1-3 ha và nhỏ hơn 1 ha. Ngô Sơn La được tiêu thụ qua 4 kênh phân phối thông qua các mối liên kết đó là: hộ trồng ngô - người thu gom thương lái, hộ trồng ngô - người bán buôn đại lý, hộ trồng ngô - cơ sở sơ chế địa phương và hộ trồng ngô - người tiêu dùng (chủ yếu là các hộ chăn nuôi trên địa bàn có nhu cầu sử dụng ngô làm thức ăn chăn nuôi) [12].

Một phần của tài liệu Nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai có năng suất, chất lượng phù hợp với sản xuất ở sơn la (Trang 21 - 26)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(222 trang)