5. Những đóng góp mới của đề tài
1.3. Một số kết quả nghiên cứu chọn tạo giống ngô tại Việt Nam
Nghiên cứu ngô lai ở Việt Nam đã bắt đầu từ những năm 1970 và đã thực sự có những chuyển biến hiệu quả từ năm 1990. Đây là một thành công lớn trong lĩnh vực nghiên cứu nông nghiệp của Việt Nam. Ngô là cây sinh trưởng phát triển mạnh, thích hợp cho nhiều vùng sinh thái khác nhau. Tuy nhiên, tại mỗi vùng sinh thái sẽ có những yêu cầu khác nhau về giống nhằm phát huy hết tiềm năng ở môi trường đất đai, khí hậu phù hợp và biện pháp canh tác hợp lý. Trong những năm qua, nhiều giống ngô lai đã được nghiên cứu chọn tạo thành công có năng năng suất cao, thích hợp với điều kiện canh tác (có những đặc điểm thích hợp cho vùng đó như: giống chín sớm, chống chịu tốt với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận như nắng nóng, hạn, chống đổ, ít bị nhiễm sâu bệnh, có khả năng trồng mật độ cao…)
Vũ Ngọc Quý (2014), đánh giá khả năng kết hợp của 63 dòng thuần được tạo ra bằng phương pháp tự phối từ các nguồn vật liệu khác nhau đã chọn tạo được hai giống ngô lai LVN68 và DP113 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm trung ngày, lõi cứng, kháng bệnh, chịu hạn, năng suất cao thích nghi với điều kiện sinh thái của vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên [20].
Phạm Văn Ngọc và cộng sự (2018), thực hiện nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai cho các vùng trồng ngô chính cả nước được thực hiện từ năm 2009 - 2017 đã xác định giống ngô lai đơn MAX7379 cho năng suất cao và có khả năng thích nghi tốt với nhiều vùng sinh thái khác nhau. Giống ngô lai MAX7379 có thời gian sinh trưởng trung bình 100 - 105 ngày ở Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, 114 - 120 ngày ở TâyNguyên và 103 - 120 ngày ở các tỉnh phía Bắc; chiều cao cây từ 180 - 245 cm, nhiễm nhẹ bệnh khô vằn, rỉ sắt và cháy lá; khả năng chịu hạn và chịu rét tốt, tỷ lệ hạt 78 - 80%, hạt dạng đá màu vàng cam. Giống có tiềm năng năng suất cao từ 6 - 11 tấn/ha. Giống MAX7379 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận cho sản xuất thử theo Quyết định số 30/QĐ-TT-CLT, ngày 12 tháng 02 năm 2018 và được cho mở rộng sản xuất thử tại các vùng Tây Nguyên, Đồng bằng sông Hồng, Trung du miền núi phía Bắc và Bắc Trung bộ theo Công văn số 255/TT-CLT ngày19/03/2018 [19].
Giống ngô lai VN667 được chọn tạo bằng phương pháp truyền thống, các dòng bố mẹ được tạo ra bằng phương pháp tự phối, trong đó dòng mẹ TC67 tạo dòng từ giống ngô NK67, dòng bố PC665 tạo dòng từ giống P4097. Giống ngô lai VN667 là giống chín trung bình sớm: 96 - 106 ngày vụ Thu Đông, 110 ngày vụ Đông Xuân ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên ngắn hơn đối chứng CP888 từ 4 - 5 ngày. VN667 có khả năng chống chịu tốt đối với rệp cờ, thối thân, đốm lá nhỏ (điểm 1), chịu hạn, chịu rét tốt (điểm 1), nhiễm nhẹ bệnh khô vằn, sâu đục thân, đục bắp, chống đổ khá.
Kết quả khảo nghiệm cơ bản ở vùng Đông Nam Bộ năng suất của VN667 đạt 73,3 tạ/ha cao hơn đối chứng CP888 là 10,1%, vùng Tây Nguyên đạt 85,0 tạ/ha cao hơn đối chứng CP888 là 13,6%. Trong khảo nghiệm sản xuất ở vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên năng suất trung bình của VN667 đạt 75,2 - 85,4 tạ/ha cao hơn đối chứng CP888 từ 12,4 - 13,6%. Giống ngô lai VN667 là giống có triển vọng, phù hợp phát triển ở các vùng trồng ngô Đông Nam Bộ và Tây Nguyên và đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận cho sản xuất thử từ năm 2016 theo Quyết định số 462/QĐ-TT- CLT ngày 2 tháng 11 năm 2016 [4].
Giống ngô lai đơn VN665 được Viện Nghiên cứu Ngô chọn tạo theo hướng chín sớm, chịu hạn phù hợp cho mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng vụ. Giống ngô VN665 có các dòng bố mẹ được tạo ra bằng phương pháp tự phối từ nguồn vật liệu là các giống ngô thương mại, trong đó, dòng mẹ G46 được tạo ra từ giống C919 và dòng bố B67a được tạo ra từ giống NK67. VN665 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm chín sớm: 105 ngày vụ Đông, 115 ngày vụ Xuân ở các tỉnh phía Bắc, 90-95 ngày vụ Hè Thu ở các tỉnh phía Nam, năng suất khá cao và ổn định, tính thích ứng rộng. Kết quả khảo nghiệm cơ bản ở các tỉnh phía Bắc, VN665 có năng suất đạt 69,1 đến 71,9 tạ/ha cao hơn giống đối chứng DK9901 là 10,13%; Ở vùng Nam bộ VN665 có năng suất trung bình đạt 75,0 tạ/ha cao hơn giống đối chứng CP888 là 11,9%.
VN665 là giống có triển vọng phát triển trên phạm vi các tỉnh phía Bắc, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long [5].
Lê Thị Kim Cúc (2017), đã tuyển chọn được giống ngô lai mới AIQ1268 có thời gian sinh trưởng trung ngày, ít nhiễm sâu bệnh, khả năng chống chịu tốt, thích
nghi rộng, năng suất cao và ổn định. Giống AIQ1268 được đánh giá có triển vọng cho sản xuất tại tỉnh Quảng Ngãi và các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ, đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận cho phép sản xuất thử tại Quyết định số 460/QĐ- TT-CLT, ngày 22/10/2015 củaCục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và PTNT [2]. Từ năm 2015-2016, Trịnh Đức Toàn và cộng sự (2017), đã tiến hành nghiên cứu đánh giá 22 giống ngô lai trên vùng đất dốc tại huyện Anh Sơn - tỉnh Nghệ An. Kết quả đã tuyển chọn được giống ngô lai VS71 cho năng suất cao nhất qua các năm (63,46 - 64,69 tạ/ha), chịu hạn tốt và chống chịu khá với một số sâu bệnh hại chính như sâu đục thân, bệnh khô vằn. Kết quả xây dựng mô hình trình diễn giống ngô VS71 trong vụ Xuân 2017 cho năng suất đạt 67,25 tạ/ha, cao hơn 10,44 tạ/ha so với giống đối chứng DK6919 (56,81 tạ/ha), hiệu quả kinh tế tăng thêm 7,7 triệu đồng/ha [25].
Đào Ngọc Ánh (2015), đã nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai cho vùng Tây Bắc Việt Nam được 02 giống ngô lai LVN255 và LVN26 có khả năng chống chịu tốt với các điều kiện thời tiết bất thuận, chống đổ, chịu hạn, ít nhiễm sâu bệnh, bắp chắc, kín lá bi, năng suất cao và ổn định ở nhiều vùng [1]. Nguyễn Tiến Trường (2017), đã nghiên cứu chọn tạo thành công đã 2 giống ngô lai triển vọng ngắn ngày, năng suất cao, thích hợp với điều kiện trồng tăng vụ tại vùng núi Đông Bắc Việt Nam là LVN111 và LVN883. Trong đó LVN111 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống chính thức theo quyết định số 227/QĐ-TT-CLT ngày 09/6/2015 [35]. Bùi Văn Hiệu (2023), đã xác định được một số tổ hợp lai ưu tú thử nghiệm cho sản xuất, trong đó tổ hợp lai VN636 (H29 x H24) được khảo nghiệm ở nhiều vùng sinh thái, đặc biệt là ở điều kiện hạn và phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho một số tỉnh miền núi phía Bắc, được Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận cho sản xuất thử với tên là GL-797 theo Quyết định số 460/QĐ-TT-CLT ngày 31/12/2019 [11].
Nghiên cứu về khả năng chịu hạn của ngô ở Việt Nam từ 1990 đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, từ đánh giá kiểu hình, sinh lý, sinh hóa. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ sinh học đã góp phần hiệu quả trong nghiên cứu nâng cao khả năng chịu hạn những vật liệu ưu tú để phục vụ chọn tạo giống ngô. Bên cạnh đó nhiều
giống ngô lai năng suất cao, chịu hạn đã được Viện nghiên cứu Ngô nghiên cứu thành công và ứng dụng trong thực tiễn sản suất trong những năm gần đây như: Giống ngô lai đơn MK399 có thời gian sinh trưởng trung bình, sinh trưởng phát triển khỏe, chống đổ tốt, chịu hạn, chịu rét, nhiễm nhẹ các loại sâu bệnh hại, năng suất trung bình giống dao động trong khoảng từ 70,0 - 90,0 tạ/ha. Giống MK399 được tạo ra từ tổ hợp lai giữa hai dòng ngô đơn bội kép THD9/THC17; trong đó: dòng mẹ THD9 được tạo ra từ giống ngô lai đơn CP333 và dòng bố THC17 được tạo từ giống ngô lai đơn 30Y87 bằng phương pháp kích tạo đơn bội [29].
Nguyễn Đức Thành và cộng sự (2020), đã nghiên cứu từ dòng ngô mẹ THA1 (được tạo ra từ giống ngô lai kép NK4300xNK67) và bố THB12 (được tạo từ giống ngô lai DK8868 bằng phương pháp kích tạo đơn bội) đã tạo ra giống ngô lai đơn Thịnh Vượng 9999 có thời gian sinh trưởng trung bình, chống đổ tốt, chịu hạn, chịu rét, nhiễm nhẹ các loại sâu bệnh hại. Năng suất trung bình giống Thịnh Vượng 9999 trong khảo nghiệm cơ bản, sản xuất và sản xuất thử đạt từ 71,5 - 79,1 tạ/ha [28].
Giống ngô lai chịu hạn AVA559 do Viện Nghiên cứu Ngô lai tạo từ dòng mẹ D30 được rút dòng từ giống lai PA33 theo phương pháp tự thụ kết hợp với fullsib;
dòng bố D37 được rút dòng từ tổ hợp lai CP999 theo phương pháp tự thụ truyền thống. AVA559 là giống ngô lai có khả năng chịu hạn khá, khả năng kết hạt tốt, chống chịu tốt với một số loại sâu bệnh hại chính (khô vằn điểm 2,0 - 3,0; rỉ sắt điểm 2,0 - 2,5), khả năng thích ứng rộng và cho năng suất cao ổn định (52,95 - 99,42 tạ/ha trong vụ Xuân và Xuân Hè; 53,20 - 82,21 tạ/ha trong vụ Đông) [36].
Bên cạnh các nghiên cứu chọn tạo thành công các giống ngô mới, nhiều nghiên cứu đánh giá và tuyển chọn các giống ngô lai thích hợp cho các vùng phía Bắc cũng được thực hiện như: Vũ Văn Dũng và cộng sự (2019) đã đánh giá khả năng chịu hạn của 6 giống ngô lai: LVN146; LVN092; LVN152; VS71; LVN17; HT119 và giống đối chứng NK4300 tại huyện Văn Chấn và huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái trong hai vụ Xuân và Hè Thu năm 2017 cho thấy: Các giống sinh trưởng phát triển tốt, chịu hạn khá, kháng sâu đục thân và nhiễm bệnh khô vằn nhẹ và cho năng suất cao. Năng suất trung bình ở hai điểm thí nghiệm của đa số các giống đều cao hơn đối chứng NK4300. Tại huyện Văn Chấn, năng suất trung bình của các giống cao, giống
LVN092 đạt 7,16 tấn/ha cao hơn giống đối chứng 7,6 tạ/ha đối chứng ở mức tin cậy 95% (NK4300 đạt 6,4 tấn/ha). Tại huyện Trạm Tấu các giống tham gia thí nghiệm đều cho năng suất cao tuy nhiên chỉ có giống LVN17 đạt năng suất 7,22 tấn/ha cao hơn giống đối chứng (NK4300 đạt 6,4 tấn/ha) 8,2 tạ/ha vượt giống đối chứng ở mức sai khác có ý nghĩa [7].
Nguyễn Ngọc Diệp và cộng sự (2020) đã khảo sát, đánh giá đặc điểm nông học và năng suất của 23 tổ hợp ngô lai triển vọng trong vụ Thu năm 2019 tại Hà Nội (vùng Đồng bằng sông Hồng) và Hòa Bình (vùng Trung du miền núi phía Bắc).
Kết quả thu được là tương đồng giữa 2 địa điểm thí nghiệm, các tổ hợp lai có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm trung ngày (108 - 112 ngày), có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện bất thuận của môi trường. Xác định được 7 tổ hợp lai ưu tú là THL3, THL9, THI15, THL16, THL19, THL21, THL22 có năng suất đạt trên 85 tạ/ha tại Hòa Bình và trên 90 tạ/ha tại Hà Nội và tương đương đối chứng, đặc biệt là 2 tổ hợp lai THL9 và THL15 có năng suất cao nhất ở cả 2 điểm thí nghiệm. Các tổ hợp lai ưu tú này tiếp tục được khảo nghiệm và đánh giá tại các vùng sinh thái trong các vụ tiếp theo để phục vụ cho công tác chọn tạo giống ngô năng suất cao và chống chịu tốt.
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đánh giá, chọn tạo giống ngô lai cho vùng Trung du và miền núi phía Bắc được thực hiện và thu được kết quả khả quan, nhiều giống mới đã được công nhận. Sơn La là vùng sản xuất ngô hàng hóa trọng điểm của cả nước, mang đặc điểm của tiểu vùng khí hậu, vụ Hè Thu là vụ gieo trồng chính cây ngô thường gặp hạn ở giai đoạn cây con, quá trình sinh trưởng bị ảnh hưởng của mưa, dông gây đổ gãy, nhiễm sâu bệnh (đặc biệt bệnh đốm lá, bệnh mốc hồng) làm ảnh hưởng lớn đến năng suất, sản lượng. Hiện nay, các nghiên cứu về giống ngô lai cho Sơn La mới chỉ dừng ở các đánh giá, khảo sát hoặc sử dụng các giống chung cho vùng miền núi, vùng khó khăn, chưa có các nghiên cứu, chọn tạo giống ngô lai có năng suất, chất lượng phù hợp phục vụ cho sản xuất tại Sơn La.