Một số nhận xét rút ra từ tổng quan

Một phần của tài liệu Nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai có năng suất, chất lượng phù hợp với sản xuất ở sơn la (Trang 56 - 61)

5. Những đóng góp mới của đề tài

1.7. Một số nhận xét rút ra từ tổng quan

Ngô là cây trồng sinh trưởng phát triển mạnh, thích ứng với nhiều vùng sinh thái, tuy nhiên với sự thay đổi rất nhanh của biến đổi khí hậu toàn cầu, sản xuất nông nghiệp nói chung và cây ngô nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn. Khi gặp các điều kiện bất thuận (các yếu tố sinh học và phi sinh học) sẽ ảnh hưởng lớn đến năng suất như: các vùng không chủ động nước tưới (phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời), tình trạng sâu bệnh (mốc hồng, sâu keo mùa thu, đốm lá nhỏ…), đổ gốc, gãy thân ngô…

Để đáp ứng với sự thay đổi này, các nhà chọn giống ngô hiện nay đã áp dụng rất nhiều các phương pháp tạo giống nhằm tạo ra các giống có những đặc tính phù hợp, có năng suất ổn định trong nhiều điều kiện sản xuất. Một số giải pháp đã được thực hiện thành công:

- Phát triển giống ngô lai: Một trong những thành tựu quan trọng nhất trong chọn tạo giống ngô là sự phát triển của giống ngô lai đã góp phần rất lớn vào việc tăng năng suất. Ngô lai được tạo ra bằng cách lai hai dòng bố mẹ đa dạng về mặt di truyền để tạo ra giống lai với các đặc điểm được cải thiện, chẳng hạn như tăng tiềm năng năng suất.

- Cải thiện khả năng chịu hạn: Hạn hán là yếu tố hạn chế chính đối với sản xuất ngô, đặc biệt ở những vùng có lượng mưa không ổn định. Nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung vào việc lai tạo các giống ngô có thể chịu được hạn hán, chẳng hạn như

bằng cách phát triển hệ thống rễ sâu hoặc bằng cách tăng khả năng bảo tồn nước của cây trồng.

- Phát triển giống ngô kháng bệnh: Ngô dễ mắc một số bệnh có thể làm giảm đáng kể năng suất. Các nhà nghiên cứu đã làm việc để phát triển các giống ngô có khả năng kháng các bệnh như bệnh mốc hồng, bệnh gỉ sắt ngô và bệnh đốm lá…

- Nâng cao hiệu quả sử dụng đạm: Đạm là một trong những chất dinh dưỡng quan trọng nhất đối với quá trình sinh trưởng và phát triển của cây ngô. Tuy nhiên, việc sử dụng quá nhiều phân đạm có thể dẫn đến các vấn đề môi trường như ô nhiễm nitrat. Lai tạo các giống ngô có hiệu quả sử dụng nitơ được cải thiện có thể giúp giảm lượng phân bón cần thiết trong khi vẫn duy trì năng suất cao.

- Phát triển giống ngô chịu được áp lực của biến đổi khí hậu: Ngô thường được trồng ở những vùng có điều kiện trồng trọt khó khăn, chẳng hạn như độ phì nhiêu của đất thấp, canh tác trên đất dốc. Các nhà nghiên cứu đã phát triển các giống ngô chịu được áp lực có thể phát triển mạnh trong những điều kiện này, chẳng hạn như bằng cách cải thiện khả năng hấp thụ.

Việc chọn tạo giống ngô nói chung về phương pháp lai tạo không có sự khác biệt nhiều, tuy nhiên cách đánh giá, tiêu chí đánh giá về cả vật liệu đầu vào và các giống lai cũng có những tiêu chí riêng. Tức là, về vật liệu cần chọn theo các tiêu chí đáp ứng được điều kiện sản xuất và thị hiếu của vùng, về phương pháp cần quan tâm đến đánh giá các đặc tính cần thiết, quan trọng cho cây ngô phát triển tốt tại vùng nghiên cứu.

Qua các nghiên cứu và thực tiễn sản xuất tại Việt Nam nói chung và Sơn La nói riêng cho thấy, yêu cầu về giống ngô phù hợp cho sản xuất ở Sơn La cần có một số đặc điểm quan trọng sau đây:

- Chịu hạn tốt

- Thân cứng, lõi cứng, chống đổ tốt

- Ít nhiễm sâu bệnh (sâu đục thân, sâu keo, bệnh đốm lá, mốc hồng,..) - Bắp ít hàng hạt (12 – 14 hàng/bắp)

- Hạt dạng đá, bán đá, bán răng ngựa, màu sắc hạt đẹp (đỏ, vàng cam)

- Lá bi bao kín bắp

- Năng suất ổn định trong nhiều điều kiện.

Với cơ sở khoa học nêu trên, để có giống ngô phù hợp cho Sơn La cần thực hiện các công việc sau:

1. Đánh giá đặc tính nông học, mức độ chịu hạn, chịu sâu bệnh của các dòng ngô bố mẹ (dòng thuần)

2. Lai thử và đánh giá khả năng kết hợp của các dòng 3. Xác định các tổ hợp lai triển vọng

4. Thử nghiệm và đánh giá các tổ hợp lai tại các vùng sinh thái

CHƯƠNG II.

VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Vật liệu nghiên cứu.

- Vật liệu cho thí nghiệm: Gồm 50 dòng tự phối được tạo ra từ các vật liệu trong và ngoài nước của Viện Nghiên cứu Ngô (bảng 2.1).

Bảng 2.1. Danh sách các dòng ngô tham gia thí nghiệm TT Tên

dòng Đời tự

phối Nguồn gốc TT Tên

dòng Đời tự

phối Nguồn gốc

1 H31 S15

Quần thể ngô đá tự tạo từ các vật liệu nhập nội

26 CH31 S15

Quần thể ngô đá tự tạo từ các vật liệu Thái Lan (thấp cây) 2 949 S15 Quần thể lai ba giữa

DK9955 x DF4 27 H386 S15

Quần thể ngô đá tự tạo (cao cây) từ

nguồn CP 3 VP1 S20 Tạo ra từ giống ngô

lai NK4300 28 VHB3 S20 Dòng tạo ra từ

giống ngô lai 30Y87 4 VP2 S16 Tạo ra từ giống ngô

lai NK7328 29 502N S15 Dòng tạo ra từ

giống lai NT6621 5 VP4 S16 Quần thể lai kép

NK4300 x LVN14 30 V152 Dòng DH C919/AC24 6 VP5 S16 Quần thể lai ba

LVN14 x CML451 31 L6 S16

Quần thể lai kép giữa DK9955 x

LCH9 7 VP6 S20 Quần thể lai ba

VN8960 x CML451 32 L8 S16

Quần thể lai kép giữa DK9901 x

LVN10 8 VP7 S16 Quần thể LVN14 x

NK6253 (răng ngựa) 33 H411 S20

Quần thể lai trở lại (BC) DF414 với

DF2 (bán răng ngựa)

9 H71 S16

Quần thể ngô đá tự tạo từ các vật liệu Thai Lan (cao cây)

34 T518 S15 Tạo ra từ giống lai 30B80 của Pioneer

10 H665 S20

Quần thể tự tạo từ các vật liệu trong nước và nhập nội

35 H20 S15

Quần thể ngô đá tự tạo từ các vật liệu Thái Lan (thấp cây) 11 H26A S15 Tạo ra từ THL

BC2630 của Bioseed 36 B67 S16 Giống ngô lai NK67 12 H29 S15 Tạo ra từ THL

BC2630 x 30P95 37 89N > S20 Dòng tạo ra từ giống lai CP999

TT Tên

dòng Đời tự

phối Nguồn gốc TT Tên

dòng Đời tự

phối Nguồn gốc 13 H95 S16 Tạo ra từ giống lai

30P95 38 H171 S20

Quần thể ngô răng ngựa tạo từ các vật liệu trong nước và

nhập nội

14 24S S20

Dòng tạo ra từ quần thể P24 của

CIMMYT

39 L17 S16

Tạo ra từ giống lai NSX020017 của

Thái Lan 15 H306 S15 Tạo ra từ giống lai

CP 999 của Thái Lan 40 H56 S15 Tạo ra từ cặp lai NK6650 16 H245 S20 Quần thể LVN10 x

NK54 (răng ngựa) 41 H64 S16 Tạo ra từ cặp lai NK6654

17 H60 S15

Quần thể ngô đá (cao cây) nguồn từ

Pioneer

42 H603 S20 Tạo ra từ giống lai NK603 18 CML161 > S20 Dòng QPM từ

CIMMYT 43 T5 >S20 Tạo ra từ giống ngô lai Cargill777

19 TC21 S16

Quần thể ngô bán răng ngựa, chịu hạn

(từ các dòng chịu hạn)

44 C4 S16

Quần thể ngô bán răng ngựa, chịu hạn

(từ các dòng chịu hạn) 20 H18 S16 Quần thể ngô răng

ngựa tự tạo 45 C32 S16

Quần thể ngô bán răng ngựa, chịu hạn

(từ các dòng chịu hạn) 21 88N > S20 Dòng tạo ra từ giống

lai CP999 46 H84 S16

Quần thể lai trở lại (BC) CML161 với

DF2 (hạt đá)

22 D3 S20

Dòng tạo ra từ vật liệu thu thập từ Ấn

Độ

47 K7 >S20

Tạo ra từ quần thể thu thập từ VIR

(Nga)

23 H70 S15

Quần thể ngô bán răng ngựa, chịu hạn

(từ các dòng chịu hạn)

48 H82 S15

Quần thể từ lai kép LVN14 x H119 (hạt

bán đá) 24 T8 > S20 Tạo ra từ giống ngô

lai CP999 49 H67 S16 Quần thể LVN99 x

NK67 (bán đá) 25 H675 S16 Quần thể lai kép

NK6725 x LVN4 50 H35 S20

Quần thể LVN4 x NK6253 (răng

ngựa)

- Vật liệu cho thí nghiệm lai đỉnh: Bao gồm 15 dòng tự phối được lựa chọn ra từ thí nghiệm đánh giá đặc điểm nông sinh học của 50 dòng và thí nghiệm chịu hạn nhân tạo và thí nghiệm lây nhiễm mốc hồng nhân tạo: H665, H411, H245, H171, H31, H71, H20, H67, H35, H60, H70, H18, H386, H84, H82 và 2 cây thử H1, H2 (là 2 dòng thuần ưu tú trong tập đoàn nguyên liệu của Viện Nghiên cứu Ngô nằm ở 2 nhóm ưu thế lai khác nhau).

- Vật liệu cho thí nghiệm lai luân phiên: Gồm 9 dòng tự phối được chọn ra từ thí nghiệm lai đỉnh: H665, H411, H245, H71, H20, H35, H386, H60 và H70.

- Vật liệu cho thí nghiệm chọn tổ hợp lai triển vọng thông qua thử nghiệm tại một số điểm nghiên cứu: Bao gồm 7 tổ hợp lai được lai từ các dòng có khả năng kết hợp chung và riêng cao nhất trong các thí nghiệm lai đỉnh và lai luân phiên.

- Giống đối chứng CP511: Là giống ngô lai của Công ty TNHH hạt giống CP Việt Nam, có thời gian sinh trưởng chín trung bình, sinh trưởng phát triển mạnh, chịu hạn, chống chịu sâu bệnh tốt, tiềm năng năng suất cao từ 8-12 tấn/ha, đang được trồng tại nhiều vùng của Sơn La.

- Khảo nghiệm, mô hình trình diễn: THL VN116 và các giống đối chứng.

- Các dụng cụ thí nghiệm, xô chậu, phân bón, hóa chất khác,...

- Vật liệu nghiên cứu trong lây nhiễm nhân tạo: Nguồn nấm F. verticilloides gây bệnh mốc hồng

Một phần của tài liệu Nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai có năng suất, chất lượng phù hợp với sản xuất ở sơn la (Trang 56 - 61)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(222 trang)