Kết quả đánh giá khả năng kết hợp của các dòng

Một phần của tài liệu Nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai có năng suất, chất lượng phù hợp với sản xuất ở sơn la (Trang 105 - 119)

Mục đích của đánh giá dòng giúp các nhà chọn tạo giống có cái nhìn chính xác về đặc điểm hình thái, các giai đoạn sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu và năng suất của dòng, giúp quá trình tạo giống bước đầu loại bỏ được các dòng không đạt yêu cầu theo mục tiêu chọn giống. Tuy nhiên, các dòng được tạo ra ngoài đáp ứng được yêu cầu về mặt hình thái, chống chịu và cho năng suất cao còn phải có khả năng kết hợp tốt nhằm giúp tạo được các con lai có năng suất cao.

3.2.1. Đánh giá khả năng kết hợp chung của các dòng bằng phương pháp lai đỉnh trong vụ Thu 2015

Từ kết quả đánh giá các đặc tính nông sinh học, mức độ nhiễm bệnh mốc hồng qua lây nhiệm nhân tạo và mức độ chịu hạn ở giai đoạn cây con qua thí nghiệm gây hạn nhân tạo của 50 dòng trong tập đoàn đã xác định được 15 dòng có một số đặc tính nông học tốt, ít nhiễm mốc hồng, có khả năng chịu hạn tốt ở giai đoạn cây con để đưa vào thí nghiệm lai thử đánh giá khả năng kết hợp. 15 dòng H386, H411, H665, H71, H70, H245, H60, H20, H35, H171, H82, H31, H18, H84, H67 được lai với 2 cây thử H1 và H2 tạo ra 30 tổ hợp lai. Thí nghiệm khảo sát các tổ hợp lai được thực hiện trong vụ Thu năm 2015 tại Đan Phượng – Hà Nội (ĐP), Mai Sơn – Sơn La (MS) và Phù Yên – Sơn La (PY). Từ kết quả khảo sát các tổ hợp lai đỉnh có thể chọn được những dòng có khả năng kết hợp chung cao, loại bỏ những dòng kém, giảm được số lượng dòng trước khi tiến hành lai luân phiên. Trong thực tế, đôi khi từ kết quả lai đỉnh, các nhà chọn tạo giống cũng có thể đưa ra được các giống lai thương mại tốt giúp tiết kiệm thời gian, công sức nghiên cứu.

Kết quả theo dõi năng suất của các tổ hợp lai đỉnh tại các điểm thí nghiệm (bảng 3.11) cho thấy: Năng suất ngô tại Mai Sơn và Phù Yên có xu hướng cao hơn tại Đan Phượng, mặc dù tại Đan Phượng có điều kiện thí nghiệm thuận lợi, tuy nhiên sự ổn định về thời tiết tại Mai Sơn và Phù Yên là tốt hơn. Năng suất của các THL tại Đan Phượng biến động từ 6,50 tấn/ha đến 8,82 tấn/ha, tại Mai Sơn biến động từ 6,57 tấn/ha đến 8,85 tấn/ha, tại Phù Yên từ 6,48 tấn/ha đến 8,76 tấn/ha. Các cặp lai tại các điểm thí nghiệm khác nhau không có sự chênh lệnh quá lớn về năng suất, điều này cho thấy

tính ổn định về năng suất là khá cao, chỉ số CV% giữa các điểm thí nghiệm của các THL chỉ biến động từ 0,41 đến 7,97%.

Bảng 3.11. Năng suất của các THL lai tại Hà Nội và Sơn La trong vụ Thu 2015

TT THL

Năng suất (tấn/ha) Đan

Phượng Mai Sơn Phù Yên Trung

bình CV(%)

1 H665 X H1 7,54 8,49 8,03 8,02 5,91

2 H665 X H2 8,51 8,70 8,44 8,55 1,57

3 H411 X H1 7,20 7,35 7,53 7,36 2,24

4 H411 X H2 7,32 7,36 7,38 7,35 0,41

5 H245 X H1 8,17 8,50 8,70 8,46 3,20

6 H245 X H2 8,82 8,85 8,76 8,81 0,54

7 H171 X H1 6,88 6,77 6,75 6,80 1,03

8 H171X H2 6,74 6,77 7,00 6,84 2,06

9 H31 X H1 6,96 6,85 7,08 6,97 1,64

10 H31 X H2 6,81 6,71 6,94 6,82 1,70

11 H71 x H1 7,12 7,13 7,48 7,24 2,81

12 H71 X H2 7,01 7,87 8,23 7,70 8,13

13 H20 X H1 7,11 7,20 7,49 7,27 2,71

14 H20 X H2 7,03 7,34 7,32 7,23 2,43

15 H67 X H1 6,50 6,57 6,92 6,66 3,36

16 H67 X H2 6,50 6,72 6,73 6,65 1,99

17 H35 X H1 7,43 7,27 7,24 7,31 1,37

18 H35 X H2 7,14 7,16 7,32 7,21 1,39

19 H60 X H1 7,31 7,14 7,53 7,33 2,62

20 H60 X H2 7,32 7,18 7,10 7,20 1,51

21 H70 X H1 7,12 7,61 7,87 7,53 5,06

22 H70 X H2 7,34 7,31 7,65 7,43 2,50

23 H18 X H1 7,22 7,42 6,79 7,14 4,48

24 H18 X H2 7,27 7,57 6,48 7,11 7,95

25 H386 X H1 7,74 7,91 7,52 7,72 2,51

26 H386 X H2 7,46 7,78 7,25 7,50 3,60

27 H84 X H1 6,80 7,21 7,08 7,03 2,96

28 H84 X H2 6,72 7,31 6,95 6,99 4,31

29 H82 X H1 6,84 7,67 6,75 7,09 7,11

30 H82 X H2 6,89 7,89 6,89 7,22 7,97

Kết quả tại bảng 3.12 cho thấy, tại Đan Phượng năng suất trung bình các cặp lai có dòng H60, H386, H665 và H245 tham gia cao hơn các THL có các dòng khác tham gia. Tại Mai Sơn, các THL có các dòng H245, H386, H665 và H82 tham gia có năng suất cao hơn; Tại Phù Yên, các THL có các dòng H245, H665, H71, H70 tham gia có năng suất cao hơn. Trung bình cả 3 điểm thử nghiệm, các THL có các dòng H245, H665, H411, H60, H70, H71, H20, H35 và H386 tham gia có năng suất cao hơn các THL có các dòng khác tham gia.

Bảng 3.12. Năng suất trung bình của các THL lai đỉnh có các dòng tham gia tại Hà Nội và Sơn La trong vụ Thu 2015

TT

Tên dòng tham gia tạo

THL

Năng suất (tấn/ha) Đan

Phượng Mai Sơn Phù Yên Trung bình

1 H245 8,50 8,68 8,73 8,64

2 H665 8,03 8,60 8,24 8,29

3 H411 7,26 7,36 7,46 7,36

4 H31 6,89 6,78 7,01 6,90

5 H171 6,81 6,77 6,88 6,82

6 H71 7,07 7,50 7,86 6,82

7 H18 7,25 7,50 6,64 7,13

8 H35 7,29 7,22 7,28 7,26

9 H386 7,60 7,85 7,39 7,61

10 H20 7,07 7,27 7,41 7,25

11 H60 7,32 7,16 7,32 7,27

12 H70 7,23 7,46 7,76 7,48

13 H67 6,50 6,65 6,83 6,66

14 H82 6,87 7,78 6,82 7,16

15 H84 6,76 7,26 7,02 7,01

Trong chọn tạo giống ngô lai, tạo dòng thuần không phải là giai đoạn khó khăn nhất mà đánh giá dòng qua tổ hợp lai là quan trọng hơn. Giá trị của dòng tự phối nào đó cuối cùng dựa vào khả năng của dòng đó kết hợp với dòng khác tạo ra những tổ hợp lai tốt, thước đo tiêu chuẩn này là khả năng kết hợp [68]. Theo sơ đồ của phương pháp lai đỉnh, trong thí nghiệm này 15 dòng được chọn sẽ được lai với 2 cây thử

H1 và H2 ở nhóm ưu thế lai khác nhau, đánh giá trên chỉ tiêu năng suất hạt của các con lai.

Bảng 3.13. Phân tích phương sai khả năng kết hợp chung của các dòng trong vụ Thu 2015 tại cả 3 điểm thí nghiệm Hà Nội và Sơn La

Nguồn biến động Bậc tự do

Tổng bình phương

Bình phương

trung bình

F thực

nghiệm Pr(>F)

Điểm thí nghiệm 2 2,3701 1,1851 7,8960 0,000522

Lần lặp 6 4,6786 0,7798 5,1956 0,000061

Tổ hợp lai 29 72,1461 2,4878 16,5760 0,000000

Dòng 14 68,7646 4,9118 32,7268 0,000000

Cây thử 1 0,1349 0,1349 0,8988 0,344406

Dòng thử 14 3,2466 0,2319 1,5451 0,099592

Địa điểm/THL 58 12,4372 0,2144 1,4288 0,040676 Địa điểm/dòng 28 9,8438 0,3516 2,3424 0,000452 Địa điểm/cây thử 2 0,1674 0,0837 0,5576 0,573599 Địa điểm/dòng/cây thử 28 2,4261 0,0866 0,5773 0,956284

Sai số 174 26,1146 0,1501

Bảng 3.14. Phân tích phương sai khả năng kết hợp chung của thí nghiệm lai đỉnh tại Hà Nội và Sơn La trong vụ Thu 2015

Nguồn biến động Bậc tự do Bình phương trung bình

Đan Phượng Mai Sơn Phù Yên

Lần lặp 2 1,762 0,562 0,015

Tổ hợp lai 29 0,833 1,053 1,031

Dòng thử 14 1,547 2,078 1,990

Cây Thử 1 0,085 0,205 0,012

Dòng/cây thử 14 0,172 0,089 0,144

Sai số 58 0,210 0,104 0,136

Kết quả trong bảng 3.13 và phụ lục 2 cho thấy, bình phương trung bình có ý nghĩa do kiểu gen đối với năng suất hạt và các đặc điểm liên quan đến năng suất ở ngô, kết quả này cũng đã được báo cáo bởi các nhà nghiên cứu trước đó [44],[91].

Điều này chỉ ra rằng các con lai đủ khác biệt với nhau về những đặc điểm năng suất và do đó, có thể chọn lọc để xác định những con lai mong muốn nhất. Sự khác biệt giữa các địa điểm thí nghiệm là không đáng kể đối với yếu tố năng suất. Phát hiện

hiện tại phù hợp với những nghiên cứu của Legesse và cộng sự (2009) [77] và Mosa (2010) [86].

Bình phương trung bình của các dòng thử có ý nghĩa rất lớn đối với năng suất hạt (bảng 3.14). Đối với cây thử, cho thấy sự ảnh hưởng là không nhiều. Bình phương trung bình của dòng thử sự khác biệt không đáng kể được quan sát đối với hầu hết các đặc điểm gợi ý rằng những dòng thử được sử dụng cho nghiên cứu này có tiềm năng tương đương đối với yếu tố năng suất hạt được nghiên cứu. Cũng có kết quả như nghiên cứu này, Legesse và cộng sự (2009) đã cho rằng bình phương trung bình của các dòng thử có ảnh hưởng đáng kể đến yếu tố năng suất; Mosa (2010) đã xác định bình phương trung bình có ý nghĩa cao với các các cặp lai đỉnh, cây thử và dòng thử. Phân tích phương sai KNKH riêng đối với các cặp lai cũng cho thấy sự khác biệt rất có ý nghĩa đối với năng suất hạt. Điều này chỉ ra tầm quan trọng của tác động gen không cộng trong việc kiểm soát các tính trạng liên quan đến năng suất và năng suất hạt [86].

Bảng 3.15. Các thành phần phương sai của thí nghiệm lai đỉnh ở cả 3 điểm thí nghiệm Hà Nội và Sơn La trong vụ Thu 2015

Phương sai Toàn bộ Đan Phượng Mai Sơn Phù Yên

Phương sai kiểu gen 8,016 0,207 0,316 0,298

Phương sai của Dòng thử 0,260 0,229 0,332 0,308

Phương sai của Cây thử 0,000 0,000 0,003 0,000

Phương sai của cặp lai

(dòng x cây thử) 0,009 0,000 0,000 0,003

Phương sai KNKH chung 0,169 0,149 0,217 0,199

Phương sai Cộng 0,676 0,594 0,867 0,797

Phương sai Trội 0,036 0,000 0,000 0,011

Phương sai của Môi trường 0,038 0,070 0,035 0,045

Di truyền rộng 0,949 0,894 0,962 0,947

Di truyền hẹp 0,901 0,894 0,962 0,934

Kết quả phân tích phương sai di truyền trong bảng 3.15 và phụ lục 2 cho thấy, phương sai kiểu gen ảnh hưởng rất lớn đến giá trị năng suất của các cặp lai. Ảnh hưởng của dòng thử là khá lớn, trong khi đó cây thử không có tác động nhiều. Phương sai khả năng kết hợp chung cũng có ảnh hưởng nhất định đến năng suất, trong khi

ảnh hưởng của phương sai di truyền cộng tính là rất lớn so với phương sai di truyền theo tính trội. Phương sai do môi trường không cao chứng tỏ trong thí nghiệm này điều kiện môi trường là khá tương đồng ở tất cả các địa điểm. Ảnh hưởng do phương sai di truyền theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp là có ý nghĩa tương đương đối với năng suất của các tổ hợp lai đỉnh của thí nghiệm này. Những kết quả trên cho thấy khả năng của dòng thử là rất quan trọng trong chương trình chọn giống, các dòng có nhiều tính trạng tốt (kể các tính trạng đó được di truyền theo hướng cộng tính hay tính trội) thì cũng có đóng góp rất lớn cho thành tích của con lai mà dòng đó tham gia.

Bảng 3.16. Giá trị khả năng kết hợp chung (GCA) về năng suất của các dòng và cây thử tham gia thí nghiệm lai đỉnh tại Hà Nội và Sơn La trong vụ Thu 2015

Dòng

Đan Phượng Mai Sơn Phù Yên Toàn bộ

NSTB (tấn/ha) (dòng/cây

thử)

GCA

NSTB (tấn/ha) (dòng/cây

thử)

GCA

NSTB (tấn/ha) (dòng/cây

thử)

GCA

NSTB (tấn/ha) (dòng/cây

thử)

GCA

H171 6,81 -0,416 6,77 -0,681 6,88 -0,497 6,82 -0,531

H18 7,25 0,018 7,49 0,037 6,63 -0,741 7,12 -0,229

H20 7,07 -0,157 7,27 -0,182 7,40 0,031 7,25 -0,103

H245 8,49 1,266 8,68 1,222 8,73 1,356 8,63 1,281

H31 6,89 -0,339 6,78 -0,673 7,01 -0,363 6,89 -0,458

H35 7,29 0,058 7,22 -0,238 7,28 -0,090 7,26 -0,090

H386 7,60 0,375 7,85 0,391 7,38 0,011 7,61 0,259

H411 7,26 0,032 7,35 -0,100 7,45 0,080 7,36 0,004

H60 7,31 0,087 7,16 -0,292 7,31 -0,059 7,26 -0,088

H665 8,02 0,796 8,60 1,141 8,24 0,863 8,29 0,933

H67 6,50 -0,728 6,65 -0,808 6,82 -0,549 6,66 -0,695

H70 7,23 0,003 7,46 0,006 7,76 0,386 7,48 0,132

H71 7,06 -0,163 7,50 0,046 7,86 0,482 7,47 0,122

H82 6,86 -0,365 7,78 0,322 6,82 -0,552 7,15 -0,198

H84 6,76 -0,468 7,26 -0,192 7,02 -0,358 7,01 -0,339

Số liệu trình bày tại bảng 3.16 và phụ lục 2 cho thấy:

- Tại Đan Phượng cho thấy các dòng H245, H386 và H665 có hiệu ứng khả năng kết hợp chung tích cực và ảnh hưởng đáng kể đến năng suất các tổ hợp lai mà dòng đó tham gia (năng suất trung bình của các tổ hợp lai có cá dòng đó tham gia cũng cao hơn các tổ hợp lai khác: 8,49 tấn/ha, 7,60 tấn/ha và 8,02 tấn/ha).

Một số dòng có khả năng kết hợp chung tích cực nhưng mức ảnh hưởng chưa lớn đến năng suất của các tổ hợp lai mà dòng đó tham gia như dòng H18, H35, H411, H60 và H70. Trong khi các dòng khác có hiệu ứng khả năng kết hợp chung ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất hạt (H82, H84, H71, H67H31, H20 và H171).

- Tại Mai Sơn, ngoài các dòng H245, H386 và H665 có hiệu ứng khả năng kết hợp chung tích cực và ảnh hưởng đáng kể đến năng suất các tổ hợp lai mà dòng đó tham gia thì dòng H82 cũng có hiệu ứng tích cự đáng kể, điều này cho thấy ngoài ảnh hưởng của hiệu ứng khả năng kết hợp chung thì giá trị môi trường cũng có tác động tích cực đến năng suất của các con lai mà dòng đó tham gia. Các dòng có hiệu ứng khả năng kết hợp chung ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất ở điểm Đan Phượng cũng cho giá trị âm tại điểm thí nghiệm Mai Sơn.

- Tại điểm thí nghiệm Phù Yên, ngoài dòng H245 và H665 vẫn giữ được hiệu ứng tích cực của khả năng kết hợp chung đối với năng suất hạt thì H386 có giảm hiệu ứng này đáng kể, trong khi đó một số dòng lại có hiệu ứng khả năng kết hợp chung tích cực đối với năng suất như H70 và H71. Một lần nữa cho thấy, hiệu ứng khả năng kết hợp chung là khá ổn định nhưng cũng có những biến đổi tiêu cực khi thay đổi môi trường. Kết quả của nghiên cứu này phù hợp với những phát hiện của Asif và cộng sự (2007) [72], Habtamu và Hadji (2010) [65].

Tổng hợp kết quả đánh giá khả năng kết hợp chung qua lai đỉnh tại 3 điểm thí nghiệm cho thấy các dòng H245, H386 và H665 có hiệu ứng KNKHC tích cực đối với chỉ tiêu năng suất hạt, một số dòng có hiệu ứng tích cực ở mức thấp hơn như H70, H71, còn lại các dòng khác có hiệu ứng tiêu cực với mức độ khác nhau.

Bảng 3.17. Giá trị khả năng kết hợp riêng (SCA) về năng suất của các dòng và cây thử tham gia thí nghiệm lai đỉnh tại Hà Nội và Sơn La trong vụ Thu 2015

Dòng

Cây thử

Đan Phượng Mai Sơn Phù Yên Toàn bộ

NSTB

(tấn/ha) SCA NSTB

(tấn/ha) SCA NSTB

(tấn/ha) SCA NSTB

(tấn/ha) SCA H171 x H1 6,88 0,103 6,773 0,048 6,75 -0,134 6,80 0,005 x H2 6,74 -0,103 6,773 -0,048 7,00 0,134 6,84 -0,005 H18 x H1 7,22 0,002 7,415 -0,028 6,79 0,145 7,14 0,040

x H2 7,27 -0,002 7,567 0,028 6,48 -0,145 7,11 -0,040 H20 x H1 7,11 0,075 7,201 -0,023 7,49 0,076 7,27 0,043

x H2 7,03 -0,075 7,342 0,023 7,32 -0,076 7,23 -0,043 H245 x H1 8,17 -0,297 8,502 -0,127 8,70 -0,039 8,46 -0,154 x H2 8,82 0,297 8,851 0,127 8,76 0,039 8,81 0,154 H31 x H1 6,96 0,106 6,855 0,121 7,08 0,061 6,97 0,096 x H2 6,81 -0,106 6,707 -0,121 6,94 -0,061 6,82 -0,096 H35 x H1 7,43 0,175 7,271 0,103 7,24 -0,052 7,31 0,075

x H2 7,14 -0,175 7,161 -0,103 7,32 0,052 7,21 -0,075 H386 x H1 7,74 0,170 7,909 0,111 7,52 0,127 7,72 0,136

x H2 7,46 -0,170 7,782 -0,111 7,25 -0,127 7,50 -0,136 H411 x H1 7,20 -0,027 7,350 0,043 7,53 0,066 7,36 0,028

x H2 7,32 0,027 7,359 -0,043 7,38 -0,066 7,35 -0,028 H60 x H1 7,31 0,028 7,143 0,029 7,53 0,200 7,33 0,086

x H2 7,32 -0,028 7,180 -0,029 7,10 -0,200 7,20 -0,086 H665 x H1 7,54 -0,452 8,488 -0,059 8,03 -0,220 8,02 -0,244 x H2 8,51 0,452 8,702 0,059 8,44 0,220 8,55 0,244 H67 x H1 6,50 0,032 6,566 -0,031 6,92 0,081 6,66 0,027 x H2 6,50 -0,032 6,725 0,031 6,73 -0,081 6,65 -0,027 H70 x H1 7,12 -0,080 7,608 0,195 7,87 0,099 7,53 0,071

x H2 7,34 0,080 7,313 -0,195 7,65 -0,099 7,43 -0,071 H71 x H1 7,12 0,085 7,135 -0,317 7,48 -0,387 7,24 -0,206 x H2 7,01 -0,085 7,865 0,317 8,23 0,387 7,70 0,206 H82 x H1 6,84 0,005 7,666 -0,062 6,75 -0,079 7,09 -0,046

x H2 6,89 -0,005 7,886 0,062 6,89 0,079 7,22 0,046 H84 x H1 6,80 0,076 7,212 -0,003 7,08 0,054 7,03 0,042 x H2 6,72 -0,076 7,313 0,003 6,95 -0,054 6,99 -0,042

Ghi chú: NSTB: năng suất trung bình Số liệu trình bày tại bảng bảng 3.17 và phụ lục 2 cho thấy: Giá trị KNKH riêng (dòng x cây thử) có một số tổ hợp lai biểu hiện hiệu ứng khả năng kết hợp riêng về

năng suất hạt đáng kể, đồng thời có năng suất cao tại cả 3 điểm thí nghiệm, đó là:

H245 x H2, H386 x H1 và H665 x H2, các tổ hợp lai có biểu hiện hiệu ứng KNKH riêng khá hơn như H35 x H1, H70 x H2, H71 x H1, H411 x H2, tuy nhiên khi thay đổi môi trường thì hiệu ứng KNKH riêng có sự thay đổi. Kết quả này cho thấy, hiệu ứng KNKH riêng cũng bị ảnh hưởng bởi tương tác với môi trường. Điều này cho thấy rằng hầu hết năng suất các con lai được đánh giá trong nghiên cứu này không sai lệch đáng kể so với những gì đã được dự đoán dựa trên hiệu suất của các dòng bố mẹ của chúng, kết quả này phù hợp với phát hiện của Shashidhara (2008) [97].

Từ thí nghiệm đánh giá khả năng kết hợp chung bằng phương pháp lai đỉnh của 15 dòng với 2 cây thử đã chọn được các dòng H665, H245, H411, H71, H70, H386, H20, H35 và H60 đưa vào chương trình lai luân phiên trong vụ Xuân 2016 tại Đan Phượng – Hà Nội, Mai Sơn và Phù Yên – Sơn La

Hình 3.7. KNKH chung về năng suất của 15 dòng tại Hà Nội và Sơn La trong vụ Xuân 2015

Hình 3.8. KNKH chung về năng suất của các dòng tại Hà Nội và Sơn La trong vụ Xuân 2015

Hình 3.9. KNKH riêng về năng suất của các dòng tại Hà Nội và Sơn La trong vụ Xuân 2015

Hình 3.10. KNKH riêng về năng suất của các dòng tại Hà Nội và Sơn La trong vụ Xuân 2015

3.2.2. Đánh giá khả năng kết hợp riêng của các dòng bằng phương pháp lai luân phiên trong vụ Xuân 2016

9 dòng chọn từ kết quả thí nghiệm lai đỉnh được đưa vào thí nghiệm lai luân phiên theo mô hình 4 của Griffing (tức là chỉ có các cặp lai thuận), số cặp lai được tạo ra theo công thức n(n-1)/2. Tức là có 9(9-1)/2 = 36 tổ hợp lai được tạo ra. Các tổ hợp lai được khảo sát, đánh giá tại Hà Nội (Đan Phượng), Mai Sơn và Phù Yên (Sơn La) trong vụ Xuân 2016. Số liệu năng suất tại các điểm thí nghiệm được sử dụng để phân tích khả năng kết hợp.

Bảng 3.18. Phân tích phương sai khả năng kết hợp về năng suất hạt của các dòng ngô lai tham gia thí nghiệm luân phiên vụ Xuân 2016 Nguồn biến động Bậc tự do Tổng bình phương trung bình

Đan Phượng Mai Sơn Phù Yên

Lần lặp 2 3,7711 0,3582 2,7626

Tổ hợp lai 35 56,3066 64,3251 34,7271

KNKH chung 8 30,7161 34,9932 17,3999

KNKH riêng 27 25,5905 29,3320 17,3272

Sai số 70 11,7722 10,8378 11,7989

Các phân tích về phương sai cho thấy rằng các giá trị bình phương trung bình là có ý nghĩa (LSD0,05) đối với các kiểu gen của tính trạng năng suất được nghiên cứu. Phân tích các phương sai khả năng kết hợp cho thấy rằng cả hai phương sai khả năng kết hợp

chung và khả năng kết hợp riêng đều có ý nghĩa rất lớn đối với chỉ tiêu năng suất hạt, điều này cho thấy tầm quan trọng của loại hoạt động gen cộng cũng như không cộng trong việc kiểm soát các tính trạng. Ảnh hưởng của lặp lại là không đáng ở tất cả các địa điểm thí nghiệm vì tính đồng nhất của đất thí nghiệm và các kỹ thuật nông học được sử dụng. Tổng bình phương trung bình của KNKH chung cao hơn KNKH riêng (bảng 3.18 và phụ lục 3). Ở cả 3 điểm thí nghiệm đều cho kết quả tương tự, điều này cho thấy ưu thế của tác động gen cộng đối với năng suất hạt là cao hơn. Kết quả này trùng hợp với các kết quả nghiên cứu của Debnath và cộng sự (1988) [54] và Das và Islam (1994) [53], các tác giả cũng báo cáo rằng tác động của gen cộng chiếm ưu thế đối với năng suất ngũ cốc trong cùng một thời vụ và điểm thí nghiệm.

Bảng 3.19. Giá trị khả năng kết hợp chung về năng suất hạt của các dòng tham gia thí nghiệm lai luân phiên tại 3 điểm thí nghiệm trong vụ Xuân 2016

TT Dòng KHKH chung

Đan Phượng Mai Sơn Phù Yên

1 H665 0,547 0,561 0,432

2 H411 0,351 0,302 0,190

3 H245 0,496 0,473 0,380

4 H71 0,127 0,163 0,119

5 H20 -0,444 -0,432 -0,378

6 H35 -0,183 -0,163 -0,075

7 H60 -0,072 0,065 -0,090

8 H70 -0,731 -0,886 -0,538

9 H386 -0,090 -0,083 -0,040

SE 0,0597 0,0572 0,0597

Bảng 3.19 và phụ lục 3 cho thấy, tại Đan Phượng và Phù Yên, các dòng H665, H411, H245 và H71 có giá trị hiệu ứng KNKH chung dương, các dòng còn lại có hiệu ứng KNKH chung âm. Tuy nhiên ở điểm thí nghiệm Mai Sơn, ngoài các dòng H665, H411, H245 và H71 thì có thêm dòng H60 có hiệu ứng KNKH chung dương.

Điều này chứng tỏ sự tương tác kiểu gen và môi trường có ảnh hưởng đến hiệu ứng khả năng kết hợp chung. Các dòng H665, H411, H245, H71 và phần nào đó là dòng H60 có thể hữu ích trong việc phát triển các tổ hợp lai mới vì được đặc trưng với giá trị KNKH chung cao và cho thấy các dòng đó có nhiều alen tốt đóng góp cho năng suất của các con lai mà chúng tham gia.

Các hiệu ứng khả năng kết hợp chung và hiệu suất của dòng bố mẹ cho ta biết rằng không có bố mẹ nào được coi là một tổ hợp chung tốt cho tất cả các tính trạng.

Một loạt các biến đổi của hiệu ứng khả năng kết hợp chung đã được quan sát giữa các dòng bố mẹ. Đối với năng suất hạt, các dòng H665, H411, H245, H71 và H60 cho thấy hiệu ứng khả năng kết hợp chung tích cực đáng kể và đồng thời sở hữu giá trị trung bình cao, điều này cho thấy rằng hiệu suất của bố mẹ có thể chứng minh là một chỉ số hữu ích cho khả năng kết hợp và cho thấy chúng đã đóng góp các alen tốt và quan trọng trong việc cải thiện năng suất hạt. Hussain và cộng sự (2003) [70] cũng quan sát thấy kết quả tương tự. Năng suất hạt cho thấy tỷ lệ KNKH chung/KNKH riêng dẫn đến kết luận rằng hiệu ứng gen cộng có tầm quan trọng trong việc di truyền tính trạng này. EL-Hosary và Elgammaal (2013) [60] đã chỉ ra rằng hiệu ứng gen cộng thể hiện vai trò chính trong việc di truyền năng suất hạt và các đặc điểm nông học khác. Về mặt lý thuyết, hiệu ứng gen cộng gộp có thể được cố định ở dòng thuần, trong khi gen không cộng có thể được biểu hiện ở giống lai.

Một thực tế đã được thừa nhận trước đó rằng hiệu ứng KNKH riêng lớn thường bao gồm một bên dòng bố mẹ có hiệu ứng KNKH chung lớn và bên kia có KNKH chung nhỏ [61]. Hiệu ứng khả năng kết hợp riêng được thể hiện trong bảng 3.20 và phụ lục 3. Đối với năng suất hạt nói chung, các tổ hợp lai cho thấy hiệu ứng KNKH riêng dương cũng có hiệu suất trung bình cao và các hiệu ứng KNKH riêng âm có hiệu suất trung bình thấp. Điều này phản ánh rằng giá trị cao của các tổ hợp lai biểu thị tiềm năng của chúng. Tại Đan Phượng (Hà Nội), 3 tổ hợp lai H665 x H411, H665 x H60 và H411 x H245 cho thấy hiệu ứng KNKH riêng tích cực đáng kể đối với năng suất hạt. Những tổ hợp lai này liên quan đến bố mẹ kết hợp chung cao × cao, cao × thấp và thấp × thấp. Giá trị năng suất ở 3 tổ hợp lai là 8,29 tấn/ha; 8,18 tấn/ha và 8,47 tấn/ha tương ứng với giái trị hiệu ứng KNKH riêng lần lượt là 0,803; 1,111 và 1,035.

Tại các điểm thí nghiệm Mai Sơn và Phù Yên cũng cho thấy kết quả và những nhận xét tương tự.

Một phần của tài liệu Nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai có năng suất, chất lượng phù hợp với sản xuất ở sơn la (Trang 105 - 119)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(222 trang)