Từ các kết quả đánh giá dòng, đánh giá khả năng kết hợp về năng suất của các dòng tham gia thí nghiệm, giúp chọn được các dòng có khả năng kết hợp cao, từ đó làm cơ sở để chọn được các tổ hợp lai ưu tú, rút gọn được các công việc cần làm trong việc khảo sát các tổ hợp lại triển vọng. Qua kết quả các thí nghiệm lai đỉnh, lai luân phiên bước đầu đã xác định được 7 tổ hợp lai triển vọng có nhiều đặc điểm nông sinh học tốt (cây phát triển khỏe mạnh, khả năng chống chịu tốt, kháng sâu bệnh tốt,…) cho năng suất cao, có triển vọng phát triển thành giống ngô mới thích hợp cho vùng Sơn La. Các tổ hợp lai triển vọng được đưa vào thí nghiệm khảo sát trong 3 vụ (Xuân
2017, Thu 2017 và Xuân 2018) tại 4 địa điểm Đan Phượng – Hà Nội (ĐP) – có điều kiện tưới nước đầy đủ; Mộc Châu (MC), Mai Sơn (MS) và Phù Yên (PY) của Sơn La – sản xuất nhờ nước trời. Danh sách các tổ hợp lai triển vọng được trình bày ở bảng 3.21.
Bảng 3.21. Danh sách các tổ hợp lai triển vọng
TT THL Ký hiệu
1 H665 x H1 VN111
2 H665 x H2 VN112
3 H245 x H1 VN113
4 H245 x H2 VN114
5 H665 x H411 VN115
6 H665 x H60 VN116
7 H411 x H245 VN117
8 Giống đối chứng CP511
3.3.1. Đánh giá đặc điểm nông sinh học các tổ hợp lai triển vọng
3.3.1.1. Thời gian sinh trưởng và đặc điểm hình thái của các tổ hợp lai tại các điểm thí nghiệm trong 3 vụ
Bảng 3.22. Thời gian sinh trưởng của các THL trong năm 2017, 2018 tại Hà Nội và Sơn La
TT THL
Thời gian sinh trưởng (ngày)
Xuân 2017 Thu 2017 Xuân 2018
ĐP MC MS PY ĐP MC MS PY ĐP MC MS PY 1 VN111 120 122 118 116 112 115 115 112 122 124 119 117 2 VN112 118 121 117 117 114 116 115 114 120 121 118 118 3 VN113 118 122 118 116 115 117 115 114 119 122 118 117 4 VN114 121 124 120 118 116 116 115 115 122 124 122 119 5 VN115 120 123 118 118 116 117 116 116 121 122 119 118 6 VN116 121 123 120 119 116 117 116 115 121 124 122 120 7 VN117 118 120 118 116 114 116 115 115 118 121 120 118 8 CP511(đ/c) 118 120 117 116 114 115 115 115 120 121 117 117
Ghi chú: đ/c: đối chứng; ĐP: Đan Phượng, MC: Mộc Châu; MS: Mai Sơn; PY: Phù Yên Do tính chất thời vụ tại mỗi vùng, nên thời điểm gieo thí nghiệm trong vụ Xuân ở các địa điểm là khác nhau. Tại Đan Phượng, Mộc Châu và Phù Yên được gieo đầu tháng 2, Mai Sơn gieo giữa tháng 4; vụ Thu các thí nghiệm đều gieo cuối tháng 8. Số liệu theo dõi thời gian sinh trưởng được trình bày tại bảng 3.22.
Vụ Xuân tại Đan Phượng và Mộc Châu có nhiệt độ thấp, ánh sáng yếu kéo dài từ tháng 2 đến cuối tháng 3, nên ở thời điểm gieo trồng và giai đoạn cây con các THL phát triển chậm và ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của hầu hết các tổ hợp lai.
Tại Mai Sơn và Phù Yên có điều kiện thời tiết nhiều nắng ấm hơn, nhiệt độ cao hơn giúp cây con sinh trưởng nhanh hơn và thời gian sinh trưởng ngắn hơn. Do vậy, thời gian sinh trưởng của các tổ hợp lai tại Đan Phượng và Mộc Châu trong vụ Xuân 2017 biến động từ 118 – 124 ngày, tại Mai Sơn và Phù Yên biến động từ 116 – 120 ngày.
Theo dõi thời gian sinh trưởng của các THL trong vụ Xuân 2018 cũng cho thấy kết quả tương tự. Vụ Thu 2018, các điểm thí nghiệm được gieo trồng trong điều kiện nắng nhiều, đủ nước và nhiệt độ cao nên không có sự chênh lệch về thời gian sinh trưởng của các THL tại các điểm khác nhau. Các THL sinh trưởng ngắn hơn trong vụ xuân, trên tất cả các điểm thí nghiệm và biến động từ 112 – 117 ngày.
Từ kết quả đánh giá cho thấy, tất cả các THL đều có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm trung bình, tương đương với giống đang thịnh hành trong sản xuất hiện nay là CP511. Từ kết quả theo dõi này có thể sắp xếp thời vụ, lựa chọn vùng trồng hợp lý để cây ngô sinh trưởng, phát triển tốt nhất và thu được năng suất và hiệu quả cao nhất.
Bảng 3.23. Chiều cao cây của các THL năm 2017, 2018 tại Hà Nội và Sơn La Đơn vị tính: cm
TT THL Xuân 2017 Thu 2017 Xuân 2018
ĐP MC MS PY ĐP MC MS PY ĐP MC MS PY 1 VN111 225,6 232,5 235,4 228,7 231,2 235,6 238,5 228,4 230,6 235,4 237,3 226,5 2 VN112 221,6 220,5 228,7 216,8 228,5 230,7 232,5 225,4 231,5 235,3 232,6 220,5 3 VN113 225,5 228,7 233,6 231,8 236,5 238,5 241,2 235,4 228,6 231,2 230,5 232,6 4 VN114 234,1 238,5 240,3 234,5 235,2 236,5 241,5 238,6 231,6 235,5 238,7 232,6 5 VN115 235,5 238,6 242,5 237,4 238,5 237,4 236,6 236,5 234,1 237,5 242,6 235,5 6 VN116 237,4 235,6 241,2 234,5 236,7 238,4 243,5 237,6 235,5 237,6 238,2 236,5 7 VN117 241,2 242,5 245,3 238,6 244,1 245,6 243,7 237,5 239,6 245,3 244,4 239,6 8 CP511(đ/c) 233,5 237,6 240,5 236,4 234,6 238,5 240,5 233,6 235,5 237,5 242,7 235,3
Ghi chú: đ/c: đối chứng; ĐP: Đan Phượng, MC: Mộc Châu; MS: Mai Sơn; PY: Phù Yên Kết quả theo dõi chiều cao cây tại bảng 3.23 cho thấy, tất cả các tổ hợp lai đều có chiều cao cây trung bình, không có sự biến động quá khác biệt trong các vụ và các
địa điểm thí nghiệm, tuy vẫn có xu thế cao cây hơn tại điểm thí nghiệm Mai Sơn và Mộc Châu so với các điểm thí nghiệm khác. Kết quả trên cho thấy tất cả các tổ hợp lai đều có chiều cao cây phù hợp, rất thuận lợi trong điều kiện sinh thái tại các tỉnh phía Bắc và Sơn La, dễ dàng cho chăm sóc và thu hoạch. Trong vụ Xuân các THL có chiều cao cây tại Mộc Châu, Mai Sơn cao hơn điểm thí nghiệm Đan Phượng và Phù Yên. Vụ Thu, các THL có chỉ số này cao hơn tại Mộc Châu và Mai Sơn. THL VN117 có chiều cao cây cao nhất tại các điều kiện thí nghiệm (237,5 - 246,5cm), cao hơn không nhiều so đối chứng CP511 (233,5 - 242,7 cm).
3.3.1.2. Khả năng chống chịu của các tổ hợp lai tại các điểm thí nghiệm trong 3 vụ Trong chọn tạo giống ngô lai, việc đánh giá khả năng chống chịu của dòng sẽ giúp lựa chọn được các dòng bố mẹ có khả năng chống chịu tốt với hạn, đổ, sâu bệnh,… nhờ đó có thể tạo ra các con lai mang nhiều đặc tính tốt từ bố mẹ của chúng.
Tuy nhiên, con lai không phải lúc nào cũng được thừa hưởng hoàn toàn, hoặc biểu hiện các đặc tính tốt đó ở ngoài môi trường tự nhiên. Nên việc đánh giá khả năng chống chịu tại nhiều điều kiện thí nghiệm khác nhau đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định tính ổn định, khả năng cho năng suất của con lai.
Sâu đục thân ngô là một trong vài loài dịch hại nguy hiển nhất đối với ngô hiện nay. Chúng xuất hiện trong suốt quá trình sinh trưởng của cây ngô, gây hại từ giai đoạn cây con, làm ngô có thể làm gãy gục và ngừng phát triển. Ở giai đoạn cây ngô lớn, sâu đục thân ít gây chết cây ngô nhưng có thể làm cây sinh trưởng kém, đổ gãy khi gặp gió. Chúng có thể cắn làm gãy bông cờ, cắn râu ngô, tấn công vào bắp non làm bắp không phát triển gây ảnh hưởng trực tiếp tiếp năng suất ngô, nên nếu phát triển thành dịch sẽ gây thiệt hại rất lớn.
Theo dõi số liệu bảng 3.24 cho thấy, mức độ nhiễm sâu đục thân của mỗi tổ hợp lai không có sự khác biệt lớn tại các địa điểm khác nhau trong cùng một thời vụ. Phần lớn các tổ hợp lai có mức độ nhiễm nặng hơn trong vụ Thu 2017, trong đó THL VN113, VN115, VN117 nhiễm nặng nhất tại cả Mai Sơn và Phù Yên (điểm 3). Vụ Xuân 2018, các tổ hợp lai có xu hướng nhiễm nhẹ hơn 2 vụ năm 2017. Trong cả 3 vụ, tại các điểm thí nghiệm, các THL có xu hướng nhiễm sâu
đục thân tại Phù Yên ở mức cao hơn các điểm khác, tại Đan Phượng mức độ nhiễm nhẹ nhẹ hơn các điểm thí nghiệm khác, THL VN115 bị nhiễm khá nặng, VN116 thể hiện tính kháng tốt (điểm 1-2), giống đối chứng CP511 nhiễm nhẹ (điểm 2). Phần lớn mức độ gây hại của sâu đục thân ở đây không quá cao, không ảnh hưởng nhiều tới sinh trưởng, phát triển của các THL.
Bảng 3.24. Mức độ chống chịu sâu đục thân của các THL năm 2017, 2018 tại Hà Nội và Sơn La
(Mức độ nhiễm sâu: điểm 1-5)
TT THL
Xuân 2017 Thu 2017 Xuân 2018
ĐP MC MS PY ĐP MC MS PY ĐP MC MS PY
1 VN111 2 2 2 2 2 2 2 3 2 2 2 3
2 VN112 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 3
3 VN113 1 2 2 2 2 2 3 3 1 2 2 2
4 VN114 1 2 2 2 2 2 3 2 1 2 1 2
5 VN115 3 2 3 3 3 2 3 3 1 2 1 2
6 VN116 1 2 2 1 1 2 2 2 1 1 1 2
7 VN117 2 2 2 2 2 2 3 3 1 1 1 2
8 CP511 (đ/c) 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 1 2
Ghi chú: đ/c: đối chứng; ĐP: Đan Phượng, MC: Mộc Châu; MS: Mai Sơn; PY: Phù Yên Bệnh đốm lá nhỏ rất phổ biến trên cây ngô. Bệnh phổ biến ở khắp các vùng trồng ngô và trên tất cả các giống ngô địa phương, ngô lai. Bệnh có thể xuất hiện và gây hại từ giai đoạn cây con 2-3 lá cho đến hết thời kỳ sinh trưởng của cây. Bệnh gây hại trên lá ngô làm cháy lá, chết lá, giảm khả năng quang hợp dẫn đến cây sinh trưởng kém, lá chóng tàn lụi, thậm chí cây con có thể chết, làm giảm năng suất ngô.
Từ kết quả theo dõi bảng 3.25 cho thấy, tại tất cả các thời vụ, điểm thí nghiệm, hầu hết các tổ hợp lai đều bị nhiễm đốm lá nhỏ ở các mức độ khác nhau. Bệnh có xu hướng gây hại cao hơn trong vụ Thu và tại Mai Sơn, Phù Yên. THL VN116, VN117
nhiễm bệnh ở mức thấp nhất, tương đương đối chứng CP511 (điểm 1-2); VN111, VN112, VN115 nhiễm bệnh ở mức trung bình (điểm 2); VN113 và VN114 ở mức nặng nhất (điểm 2-3) tại tất cả 4 điểm thí nghiệm.
Bảng 3.25. Mức độ nhiễm bệnh đốm lá nhỏ của các tổ hợp lai thí nghiệm năm 2017, 2018 tại Hà Nội và Sơn La
(Mức độ nhiễm bệnh: điểm 1-5)
TT THL
Xuân 2017 Thu 2017 Xuân 2018
ĐP MC MS PY ĐP MC MS PY ĐP MC MS PY
1 VN111 1 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2
2 VN112 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2
3 VN113 2 2 2 3 3 2 3 3 2 2 3 3
4 VN114 2 3 3 3 3 2 3 3 2 3 3 3
5 VN115 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2
6 VN116 1 1 2 2 2 2 2 2 1 1 2 2
7 VN117 1 1 2 2 1 2 2 2 1 1 2 2
8 CP511 (đ/c) 1 1 1 1 1 2 2 2 1 1 2 2
Ghi chú: đ/c: đối chứng; ĐP: Đan Phượng, MC: Mộc Châu; MS: Mai Sơn; PY: Phù Yên Với mục tiêu chọn các giống ngô sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện Sơn La nên chỉ tiêu đánh giá khả năng chống chịu bệnh mốc hồng đặc biệt được quan tâm. Ngoài việc làm giảm năng suất ngô, gây thất thoát sau thu hoạch, bệnh mốc hồng còn gây độc hại với con người và vật nuôi khi sử dụng các hạt ngô nhiễm bệnh làm thức ăn. Các THL tham gia thí nghiệm đều được tạo ra từ các dòng có khả năng chống chịu bệnh tốt, nên phần lớn các THL đều có biểu hiện ít nhiễm mốc hồng. Đặc biệt THL VN111, VN112, VN115, VN116, VN117 không thấy xuất hiện mốc hồng trên bắp. Giống đối chứng và THL VN113, VN114 nhiễm nặng hơn tại một số điểm thí nghiệm, có biểu hiện nhiễm nhiều trong vụ Xuân (điểm 2). Kết quả theo dõi được trình bày ở bảng 3.26.
Bảng 3.26. Mức độ nhiễm bệnh mốc hồng của các tổ hợp lai năm 2017, 2018 tại Hà Nội và Sơn La
(Mức độ nhiễm bệnh: điểm 1-5)
TT THL Xuân 2017 Thu 2017 Xuân 2018
ĐP MC MS PY ĐP MC MS PY ĐP MC MS PY
1 VN111 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1
2 VN112 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1
3 VN113 2 1 1 1 1 2 1 1 1 2 1 1
4 VN114 2 2 1 1 1 1 1 1 2 2 2 1
5 VN115 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1
6 VN116 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1
7 VN117 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1
8 CP511(đ/c) 2 2 1 1 1 1 1 1 1 2 2 1
Ghi chú: đ/c: đối chứng; ĐP: Đan Phượng, MC: Mộc Châu; MS: Mai Sơn; PY: Phù Yên Hạn là yếu tố bất thuận ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng tới năng suất ngô.
Hạn ảnh hưởng tới hầu như tất cả vùng trồng ngô trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Đặc biệt với vùng sản xuất ngô nhờ nước trời như Sơn La, khả năng chịu hạn là yếu tố được quan tâm hàng đầu trong việc lựa chọn giống ngô thích hợp sản xuất tại vùng.
Kết quả đánh giá khả năng chịu hạn của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm được trình bày tại bảng 3.27.
Các tổ hợp lai trong thí nghiệm được lựa chọn và lai tạo từ các dòng bố mẹ chịu hạn khá, đặc biệt giai đoạn cây con, bởi vậy các tổ hợp lai này đều có biểu hiện tốt về tính chịu hạn trong các điều kiện thí nghiệm. Trong điều kiện tưới nước chủ động (ngô được tưới nước đầy đủ khi có nhu cầu) tại Đan Phượng, các tổ hợp lai sinh trưởng phát triển tốt, không có các biểu hiện ảnh hưởng lớn của hạn như quăn lá, héo lá, xuống lá nhanh ở giai đoạn chín (cháy, khô, vàng lá). Tuy nhiên, trong điều kiện hoàn toàn phụ thuộc nước trời (cây ngô không được tưới chủ động) tại các điểm thí nghiệm ở Sơn La (Mộc Châu, Mai Sơn, Phù Yên), một số tổ hợp lai đã có biểu hiện chịu ảnh hưởng của hạn như vàng lá gốc hoặc vàng úa các lá dưới bắp, vào một số thời điểm trong quá trình sinh trưởng cây có hiện tượng cần nước, mép lá có biểu hiện cuộn (điểm 2, điểm 3). Các tổ hợp lai chịu ảnh hưởng của hạn nhiều nhất trong vụ Thu và điểm thí nghiệm Phù Yên. THL VN114 có biểu hiện chịu hạn kém nhất, VN116 và VN117 có khả năng chịu hạn tốt nhất và tương đương đối chứng CP511.
Bảng 3.27. Khả năng chịu hạn của các tổ hợp lai năm 2017, 2018 tại Hà Nội và Sơn La
(Mức độ chịu hạn: điểm 1-5)
TT THL Xuân 2017 Thu 2017 Xuân 2018
ĐP MC MS PY ĐP MC MS PY ĐP MC MS PY
1 VN111 1 2 2 2 1 2 2 2 1 2 2 2
2 VN112 1 2 2 2 1 2 2 3 1 2 2 2
3 VN113 1 2 2 2 2 2 2 2 1 2 2 3
4 VN114 1 2 2 2 2 3 2 3 1 2 2 3
5 VN115 1 2 2 2 2 2 2 2 1 2 2 2
6 VN116 1 1 2 2 1 2 2 2 1 1 2 2
7 VN117 1 2 2 2 1 2 2 2 1 2 2 2
8 CP511 1 1 2 2 1 2 2 2 1 1 2 2
Ghi chú: đ/c: đối chứng; ĐP: Đan Phượng, MC: Mộc Châu; MS: Mai Sơn; PY: Phù Yên Chống đổ là đặc tính quan trọng trong đánh giá khả năng chống chịu của cây ngô trong suốt quá trình sinh trưởng của chúng. Trong gieo trồng gặp bất thuận về thời tiết (mưa, gió bão), tính chống đổ đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định đến năng suất, chất lượng ngô. Đặc biệt với điều kiện, tập quán canh tác tại Sơn La, trong vụ ngô thường kèm các trận mưa và gió lớn, ngô thường được thu hoạch muộn, giữ trên nương trong thời gian dài. Nên khả năng chống đổ là tiêu chí quan trọng trong việc nghiên cứu, chọn tạo giống ngô cho vùng Sơn La.
Kết quả theo dõi tỷ lệ ngô bị đổ của các tổ hợp lai ở giai đoạn sau thụ phấn 2 tuần trình bày tại bảng 3.28 cho thấy, hiện tượng ngô đổ chỉ xuất hiện trong vụ Xuân ở các điểm Hà Nội và Mộc Châu. Vào thời điểm theo dõi (khoảng gần giữa tháng 5) tại Hà Nội và Mộc Châu thường có các trận mưa lớn, kèm dông, đây là điều kiện tốt để đánh giá tính chống đổ của ngô. Trong vụ Thu và các địa điểm Mai Sơn, Phù Yên vẫn có các trận mưa dông lớn, nhưng không xuất hiện nhiều nên các tổ hợp lai vẫn thể hiện tính chống đổ tốt, ngô không bị đổ nhiều. Nhìn chung trong các điều kiện thí nghiệm, mức độ ngô bị đổ là không lớn, trong đó THL VN113, VN116, VN117 và giống đối chứng có khả năng chống đổ tốt nhất.
Bảng 3.28. Khả năng chống đổ của các tổ hợp lai năm 2017, 2018 tại Hà Nội và Sơn La
(Đơn vị tính: %)
TT THL Xuân 2017 Thu 2017 Xuân 2018
ĐP MC MS PY ĐP MC MS PY ĐP MC MS PY
1 VN111 6,25 4,69 0 0 0 0 0 0 3,13 4,68 0 0
2 VN112 3,13 6,25 0 0 0 0 0 0 4,69 6,25 0 0
3 VN113 0 0 0 0 0 0 0 0 0,00 3,13 0 0
4 VN114 0 0 0 0 0 0 0 0 3,13 3,13 0 0
5 VN115 0 9,38 0 0 0 0 0 0 6,25 7,81 0 0
6 VN116 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
7 VN117 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
8 CP511 (đ/c) 0 0 0 0 0 0 0 0 0 3,12 0 0
Ghi chú: đ/c: đối chứng; ĐP: Đan Phượng, MC: Mộc Châu; MS: Mai Sơn; PY: Phù Yên 3.3.1.3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các tổ hợp lai tại các điểm thí nghiệm trong 3 vụ
Số liệu được trình bày tại bảng 3.29 cho thấy: Trong 2 vụ Xuân, chỉ số chiều dài bắp của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm cao hơn vụ Thu 2018, cao nhất tại vụ Xuân 2017. So sánh các điểm thí nghiệm qua 3 vụ, phần lớn các tổ hợp lai có chiều dài bắp thấp nhất tại Phù Yên, cao nhất tại Mai Sơn. THL VN114, VN116, VN117 có chiều dài bắp trung bình qua các vụ tại 4 điểm thí nghiệm cao hơn giống đối chứng.
Bảng 3.29. Chiều dài bắp của các tổ hợp lai năm 2017, 2018 tại Hà Nội và Sơn La
(Đơn vị tính: cm)
TT THL Đan Phượng Mộc Châu Mai Sơn Phù Yên
X17 T17 X18 TB X17 T17 X18 TB X17 T17 X18 TB X17 T17 X18 TB 1 VN111 17,6 16,8 16,5 17,0 17,2 17,1 16,8 17,0 17,8 16,6 17,6 17,3 17,1 15,8 17,1 16,7 2 VN112 16,8 16,2 16,7 16,6 16,4 16,5 16,5 16,5 17,0 16,3 16,8 16,7 17,3 15,7 15,7 16,2 3 VN113 18,0 17,5 17,5 17,7 18,2 17,2 16,7 17,4 18,4 17,1 17,4 17,6 17,2 16,3 16,6 16,7 4 VN114 17,4 16,7 16,3 16,8 17,8 17,3 16,5 17,2 18,0 16,7 17,5 17,4 17,8 15,5 17,4 16,9 5 VN115 17,0 16,6 16,8 16,8 17,0 16,5 17,5 17,0 17,4 16,5 16,8 16,9 16,9 15,8 16,5 16,4 6 VN116 17,6 16,8 16,6 17,0 18,1 17,5 17,6 17,7 18,4 17,5 17,8 17,9 18,2 16,8 16,7 17,2 7 VN117 18,8 17,2 17,2 17,7 19,3 18,1 16,8 18,1 19,4 18,4 18,5 18,8 19,1 16,5 16,5 17,4 8 CP511
(đ/c) 16,6 16,3 15,8 16,2 17,0 15,6 16,5 16,4 17,0 16,5 17,3 16,9 17,2 16,2 17,1 16,8 Ghi chú: đ/c: đối chứng; ĐP: Đan Phượng, MC: Mộc Châu; MS: Mai Sơn; PY: Phù Yên
Đường kính bắp của các tổ hợp lai có sự thay đổi ở các điểm thí nghiệm, thời vụ trồng khác nhau. So với vụ Xuân, đường kính bắp vụ Thu có xu hướng thấp hơn.
Trung bình trong 3 vụ của các điểm thí nghiệm, tại Mai Sơn các tổ hợp lai đều có đường kính bắp cao nhất, trừ THL VN115. Trong đó giống đối chứng có chỉ số này cao nhất, THL VN116 gần tương đương đối chứng chỉ thấp hơn tại điểm Mộc Châu.
Kết quả theo dõi được trình bày tại bảng 3.30.
Bảng 3.30. Đường kính bắp của các tổ hợp lai năm 2017, 2018 tại Hà Nội và Sơn La
(Đơn vị tính: cm)
TT THL Đan Phượng Mộc Châu Mai Sơn Phù Yên
X17 T17 X18 TB X17 T17 X18 TB X17 T17 X18 TB X17 T17 X18 TB 1 VN111 4,8 4,7 4,6 4,7 4,8 4,7 5,0 4,8 5,1 4,9 5,1 5,0 5,1 4,9 4,8 4,9 2 VN112 5,0 4,9 4,7 4,9 4,9 4,6 4,8 4,8 5,2 5,1 5,1 5,1 4,8 4,8 5,1 4,9 3 VN113 4,7 4,9 4,8 4,8 4,6 4,8 4,7 4,7 4,9 4,6 5,1 4,9 4,8 4,7 5,1 4,9 4 VN114 5,1 4,9 5,0 5,0 4,9 4,9 4,7 4,8 5,2 4,9 5,0 5,0 5,1 5,0 5,2 5,1 5 VN115 5,1 5,1 4,7 5,0 5,0 4,7 4,9 4,9 4,7 4,5 4,8 4,7 5,1 4,7 4,8 4,9 6 VN116 5,1 4,9 5,1 5,0 5,1 4,7 4,7 4,8 5,2 5,2 5,1 5,2 5,1 5,1 5,2 5,1 7 VN117 5,1 5,1 4,8 5,0 4,9 4,8 4,8 4,8 5,0 4,7 5,1 4,9 5,1 4,7 5,0 4,9 8 CP511
(đ/c) 5,2 5,1 4,9 5,1 5,1 4,9 5,1 5,0 5,3 5,1 5,2 5,2 5,2 4,9 5,2 5,1 Ghi chú: đ/c: đối chứng; ĐP: Đan Phượng, MC: Mộc Châu; MS: Mai Sơn; PY: Phù Yên
Kết quả tại bảng 3.31 cho thấy: Số hàng hạt/bắp mang tính di truyền, ít bị tác động bởi các yếu tố của môi trường, nên chỉ số này ở các tổ hợp lai ổn định qua các vụ, điểm thí nghiệm. Trong đó THL VN116, VN117 có số hàng hạt/bắp là 14, giống đối chứng và các THL còn lại đều có 16 hàng hạt/bắp.
Phần bắp không kết hạt (đuôi chuột): Hiện tượng này diễn ra khi bắp ngô xuất hiện với tỉ lệ đậu hạt kém ở đỉnh bắp. Sự phát triển không đầy đủ của hạt ở đỉnh bắp rất phổ biến trên đồng ruộng, và có liên quan đến sự phát triển đầy đủ trong suốt quá trình hình thành hạt. Nguyên nhân về mặt sinh lý học là do thụ phấn kém hoặc hỏng (hạt phấn hỏng, râu bị khô, hỏng, hạt phấn mất mức sống), các nguyên nhân sâu bệnh:
sâu cắn râu ngô, làm gẫy bông cờ, các bệnh mốc hồng, đốm lá… hay điều kiện thời