DẠNG 1: THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU
B. LUYỆN ĐỀ ĐỌC HIỂU
II. LUYỆN ĐỀ ĐỌC HIỂU
Đề bài 01: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Người nhà quê hồi1 mình con nít toàn người nghèo, sân nhà quê hồi ấy cũng rặt2 sân đất, nên nhà nào cũng cặm3 cái giàn trước nhà, suốt sáu tháng mưa sân chìm trong nước cũng có chỗ mà đem phơi củi, hay gối, chiếu. Những ngày hửng nắng trên giàn luôn có thứ gì đó ngóng nắng, khi cám mốc, khi thì mớ bột gạo thừa trong lúc làm bánh, khi thì mớ cơm nguội hay mớ lá dừa khô dùng để nhen lửa, mấy trái đậu bắp già làm giống cho mùa sau… Phơi trên giàn mọi thứ khô mau, vì nắng ngun ngút trên mặt, gió lộng phía lưng. Những nhà có sân rộng người ta còn phơi lúa trên giàn, lúa khô đem vô4 bồ được mấy hôm đã thấy trên mặt sân săm sắp nước lúa rày5 đã lấm tấm xanh. Qua nhà nào có trẻ nhỏ gặp những tấm chiếu manh con con nằm uống nắng.
Càng gần về cuối năm giàn phơi càng bận rộn. Dầu dãi oằn mình suốt năm, giờ trên giàn bày ra những món ngon chuẩn bị cho cuộc hội hè. Bánh phồng vừa quết xong, củ kiệu6 mới trộn đường xong, mứt gừng mới ngào nửa lửa… thứ nào cũng ưa nắng. Nhưng cá khô mới là ưa nắng nhứt hạng, mới cần thứ nắng ròng ròng như thắp lửa, thứ nắng như cháy trên đầu. Mùa Chạp cá làm đìa7 người ta lớp8 rọng9 lớp làm mắm để ăn dần dần cho tới mùa lúa sau, mớ xẻ làm khô ăn Tết. Mùa đìa kéo dài cả tháng nghĩa là lúc nào giàn phơi cũng những con cá nằm nhuộm nắng cho đỏ au da thịt.
Mùa Chạp thể nào cũng gặp người ta ép chuối khô. Chuối xiêm chín cây sẵn ngoài vườn, lột vỏ phơi một nắng, rồi đem ép mỏng. Không như cá khô rủ rê bọn ruồi nhặng đến mức phải đốt nắm nhang cắm nơi đầu gió để xua đuổi chúng, mật chuối tươm ướt rượt chỉ mê dụ quyến rũ lũ ong. Kéo tới dập dìu, lảo đảo bay đậu
như say, những con ong sa đà ở giàn phơi cho đến khi những miếng chuối ép mỏng bắt đầu khô quắt, vàng óng như vừa nướng trên than hồng. Chuối phơi đủ nắng có thể ăn tới ra Giêng, mật lặn vào trong vừa ăn vừa tợp10 miếng trà, hoặc ngào qua với khóm11, me… đem dầm nước đá uống cũng ngon thấu trời.
Vậy là nước miếng mình ứa ra, trên từng mét đường về nhà ngoại. Tâm hồn mệt nhoài với những món ăn cực kỳ mời gọi trong sân thiên hạ. Đang thèm tô cơm nguội chan nước dừa ăn với khô lóc nướng thì bỗng nghĩ giờ phải có thịt kho Tàu để ăn với dưa kiệu nhà kia, rồi cái hủ12 mắm tép dầm nắng sát hàng rào làm mình nhớ nhung chuối chát, khế chua cùng với gừng xắt mịn thì mâm mứt tắc13 đỏ au đằng kia làm mình lịm chết một cách lim dim như tụi kiến.
(Nguyễn Ngọc Tư, Mùa phơi sân trước, in trong Bánh trái mùa mưa, NXB Hội nhà văn, 2015)
(1) Rặt (từ địa phương miền Nam): toàn, đều là.
(2) Cặm (từ địa phương miền Nam): dựng (3) Vô(từ địa phương miền Nam): vào
(4) Rày (từ địa phương miền Nam): nay, lúc này
(5) Củ kiệu một loại củ cùng nhóm họ hành, thường dùng muối dưa ngày tết, làm thành dưa kiệu.
(6) Đìa (từ địa phương miền Nam): ao vũng, chỗ moi sâu như cá đồng (7) Lớp(từ địa phương miền Nam): một phần
(8) Rọng: chưa ăn tới thì để trong nước bảo quản sống (9) Tợp (từ địa phương miền Nam): hớp một ngụm.
(10) Khóm (từ địa phương miền Nam): còn gọi là trái thơm, quả dứa (11) Hủ (từ địa phương miền Nam): hũ
(12) Tắc (từ địa phương miền Nam): tức quả quất theo tiếng địa phương miền Bắc
Câu 1. Xác định nội dung của đoạn trích.
Câu 2. Chỉ ra chất trữ tình trong đoạn trích.
Câu 3. Cái tôi của tác giả thể hiện như thế nào trong đoạn trích?
Câu 4. Nhận xét ngôn ngữ của tản văn trong đoạn trích trên.
Câu 5. Em hãy viết đoạn văn nêu cảm nhận về một món ăn gắn liền với kí ức tuổi thơ.
Gợi ý làm bài
Câu 1. Nội dung của đoạn trích: Hình ảnh giàn phơi với những thức quà tuổi thơ gắn liền với kỉ niệm của nhà văn.
Câu 2. Chất trữ tình được thể hiện qua những từ ngữ, hình ảnh đầy cảm xúc về giàn phơi; sự hoà quyện tình cảm, cảm xúc của tác giả vào trong những câu văn miêu tả thức quà trên giàn phơi, với những món ăn tuổi thơ, với quê hương => Câu văn đầy chất thơ, chan chứa tình cảm, cảm xúc của người viết.
Câu 3. Cái tôi được thể hiện rõ qua cách xưng hô, cách bộc lộ tình cảm trực tiếp của tác giả trong bài viết: Thể hiện rõ sự thân mật trong cách xưng hô “mình” với
“người ta”, sự quan sát tỉ mỉ với từng món “đặc sản tuổi thơ trên giàn phơi” như quết bánh phồng, phơi kiệu, phơi chuối khô,…sự cảm nhận của tác giả với từng món ăn đó và sự xót xa của tác giả cho những thân phận nghèo.
Cái tôi trong bài viết là cái tôi chân thực, nhẹ nhàng mà sâu lắng.
Câu 4. Ngôn ngữ: Đậm chất Nam Bộ, bình dị, tinh tế, văn phong gợi hình, gợi cảm,…
Câu 5. Viết đoạn văn ngắn theo yêu cầu của đề bài:
*Về hình thức: đảm bảo hình thức đoạn văn, dung lượng khoảng 5-7 câu; đúng chính tả và ngữ pháp.
*Về nội dung: Có thể sử dụng một số gợi ý;
- Món ăn nào gắn liền với kí ức tuổi thơ?
- Món ăn đó được chế biến như thế nào? Hương vị ra sao?
- Món ăn đó gắn liền với kỉ niệm nào đặc biệt không?
- Ý nghĩa của món ăn đó với bản thân, mọi người, quê hương?
ĐỌC HIỂU NGOÀI SÁCH GIÁO KHOA Đề bài 02: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
CÁ CƠM KHÔ
Biển miền Trung mỗi năm hai mùa cá cơm. Cá cơm chủ yếu đem làm mắm, nhưng ăn tươi cũng ngon, ăn khô cũng không tệ. Quãng giữa năm rộ mùa, cá cơm giá rẻ mà trời lại được nắng, mẹ hay mua nhiều về rải phơi, xong cho vô bịch nilon cất kỹ, dự trữ trong nhà món cá cơm khô.
Vào mùa, mẹ bận đi làm không thể lo chợ búa, bịch cá cơm khô thành nguồn thực phẩm chính cung cấp chất đạm cho cả nhà. Cá cơm khô dễ nấu, phổ biến là kho, rang nhưng mùa hè ăn khô khó nuốt nên cũng có thể dùng cá nấu canh. Canh
rau muống, canh tập tàng, canh chua… đều nấu được với cá cơm khô. Mẹ đem ngâm với nước ấm cho cá mềm ra, ngắt bỏ đầu cá, dội lại bằng nước sạch vài ba lần cho hết mùi tanh. Trút cá lên rổ để ráo nước, xong đem nấu bình thường giống như với cá tươi. Trong các món canh nấu bằng cá cơm khô, tôi thích nhất món canh chua. Không ngọt bằng nấu với cá tươi nhưng canh có vị là lạ khá hấp dẫn. Thêm nữa, con cá khô nấu chín nhai vẫn còn độ dai cùng vị ngọt, không bở, nhạt như cá cơm tươi đem nấu canh.
Bước sang mùa mưa lạnh, bịch cá cơm khô mẹ dự trữ trong nhà bỗng nhiên biến thành… đặc sản! Ấy là khi những món sở trường chế biến từ cá cơm khô được mẹ bày lên mâm cơm mỗi bữa: cá kho rim mắm tỏi, kho keo với tiêu, kho cùng thịt mỡ
hoặc đem rang giòn…; món nào cũng tuyệt diệu, chết cơm trong tiết trời se lạnh mùa đông. Tôi hảo ngọt nên thích nhất món cá kho rim mắm tỏi cho nhiều đường.
Anh Ba ưa cá cơm kho cùng thịt mỡ. Thằng Út lại khoái món cá cơm rang giòn…
Mẹ chiều các con, bữa làm món này bữa thay món khác. Luân phiên vậy qua vài đợt mưa dài ngày, bịch cá cơm lưng nhanh thấy rõ.
May mà mẹ tính toán giỏi, còn biết lo xa nên chưa năm nào nguồn cá cơm khô dự trữ qua mùa mưa bị đứt. Không thiếu nhưng cũng… không thừa mới lạ! Năm nào cũng vậy, cứ dứt mưa là bịch cá khô cũng vừa vặn cạn đáy. Ba khen: Bà tính sao hay dữ? Mẹ cười: Hay gì đâu, năm nào thấy sắp hết mùa đông mà cá còn nhiều mình cho con ăn thoải mái chút. Năm cá còn ít thì… mẹ dừng, bỏ lửng. À, giờ nghĩ lại tôi mới nhớ, những năm ấy cứ ngồi vào mâm, ba mẹ toàn gắp rau chan mắm, nhường cá cho con…
Sẵn cá trong nhà, thi thoảng mẹ còn làm món gỏi cá cơm khô. Ấy là những khi ba có khách cần mồi nhậu – hoặc lâu lâu mẹ muốn cho đàn con đổi món. Gỏi cá cơm trộn đậu phộng, xoài băm, rau thơm cùng nước mắm ớt chanh đường ăn kèm với bánh tráng nướng rất tuyệt. Khách tới nhà, ai cũng gật gù khen món gỏi của mẹ.
Các con thì khỏi nói, ăn ngốn tới mức… nhịn cơm luôn! Tuy vậy, mẹ thường không làm nhiều, sợ con tham ăn đau bụng. Thêm nữa, trộn gỏi hao cá lắm, còn phải để dành ăn cho tới lúc dứt mưa, qua mùa biển động. Không căn cơ đâu phải là mẹ. Vậy nên mẹ phán gì cha con cũng nghe răm rắp, khỏi bàn…
(Y Nguyên, nguồn: https://vanhocsaigon.com/tan-van-cua-y-nguyen-ca-com- kho/)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt của văn bản.
Câu 2. Hãy chỉ ra những đặc điểm của tản văn được thể hiện trong văn bản Ngọt lành ruốc biển quê tôi
Câu 3. Chủ đề của văn bản này là gì?
Câu 4. Theo tác giả bài viết, ruốc biển quê hương mình có thể chế biến những món ăn nào?
Câu 5. Qua văn bản, em có nhận xét gì về tình cảm của người viết dành cho ruốc biển quê mình?
Câu 6. Viết đoạn văn ngắn (3 – 5 câu) chia sẻ về một hình ảnh thiên nhiên đã gắn bó với tuổi thơ của em.
Gợi ý làm bài
Câu 1. Phương thức biểu đạt của văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm.
Câu 2: Đặc điểm của thể loại tản văn trong văn bản:
+ Văn bản nói về các món ăn từ cá cơm khô. Từ đó, thể hiện tình cảm yêu thương, gắn bó của tác giả với kí ức tuổi thơ, với người mẹ.
+ Bộc lộ trực tiếp suy nghĩ, cảm xúc của người viết đối với cá cơm khô – sản vật gắn liền với tuổi thơ, với gia đình, quê hương.
+ Chất trữ tình”: Cảm xúc, suy nghĩ của tác giả hoà quyện với món ăn chế biến từ cá cơm khô, sự am hiểu từ cách chế biến và sự thèm thuồng từ những hương vị khó quên, chẳng hạn: “Bước sang mùa mưa lạnh, bịch cá cơm khô mẹ dự trữ trong nhà bỗng nhiên biến thành… đặc sản! Ấy là khi những món sở trường chế biến từ cá cơm khô được mẹ bày lên mâm cơm mỗi bữa: cá kho rim mắm tỏi, kho keo với tiêu, kho cùng thịt mỡ hoặc đem rang giòn…; món nào cũng tuyệt diệu, chết cơm trong tiết trời se lạnh mùa đông”. hay mỗi món ăn đó đều thấp thoáng hình ảnh của mẹ: "May mà mẹ tính toán giỏi, còn biết lo xa nên chưa năm nào nguồn cá cơm khô dự trữ qua mùa mưa bị đứt. Không thiếu nhưng cũng… không thừa mới lạ! Năm nào cũng vậy, cứ dứt mưa là bịch cá khô cũng vừa vặn cạn đáy"”
+ Cái tôi của tác giả thể hiện trong văn bản là cái tôi chân thành, giàu cảm xúc; cách nhìn, cách nghĩ, cách xưng hô mang nét riêng của tâm hồn tác giả, chẳng hạn như cách bộc lộ sự am hiểu của tác giả với món ngon từ ruốc biển: "Gỏi cá cơm trộn đậu phộng, xoài băm, rau thơm cùng nước mắm ớt chanh đường ăn kèm với bánh tráng nướng rất tuyệt" hay cách tác giả bộc lộ tình cảm về ba mẹ: "À, giờ nghĩ lại tôi mới nhớ, những năm ấy cứ ngồi vào mâm, ba mẹ toàn gắp rau chan mắm, nhường cá cho con…"
+ Ngôn ngữ trong tản văn này thể hiện đặc điểm thể loại: chân thực, mang hơi thở đời sống, giàu cảm xúc.
Câu 3: Chủ đề của văn bản được xác định dựa vào việc nắm đối tượng và vấn đề chính mà văn bản muốn biết đến.
Văn bản có thể chia làm 2 phần với các nội dung chính sau:
+ Phần 1(từ đầu đến “dự trữ trong nhà món cá cơm khô”): Giới thiệu món cá cơm khô.
+ Phần 2 (còn lại): Các món ngon chế biến từ cá cơm khô gắn liền với tuổi thơ, với người mẹ.
Chủ đề văn bản: Tình cảm, cảm xúc của tác giả với món cá cơm khô gợi kí ức tuổi thơ. Từ đó, thể hiện tình cảm của tác giả với mẹ, với quê hương.
Đề bài 02: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
THÁNG TÁM MÙA THU
Lọt thỏm giữa tiết trời cuối hạ – chớm thu đầy ngập ngừng và bỏ ngỏ, tháng tám về trong sự ngóng trông vội vàng như thế!
Dù nắng chưa đủ dịu để gọi là đầu thu, mưa chưa đủ nhạt để cho rằng cuối hạ, tháng tám lặng lẽ đến làm cho bao cảm xúc miên man trôi nổi, chẳng biết vơi hay đầy. Người ta thường bảo tháng tám là mùa yêu thương, mùa của hoa sữa ngát hương, mùa của ngày lập thu da diết vị mát lành. Còn với mình, miễn trong tâm thấy an vui thì mùa nào cũng đẹp, cũng đủ đầy yêu thương.
Tháng tám, mang chút nắng hạ gửi lại vào thu. Cơn gió lãng bãng thổi màu kí ức làm lòng mình hoang hoải tìm ngày đã cũ. Tháng tám luôn vậy, làm cho lòng người khó rạch ròi trong từng suy nghĩ. Chút đan xen mộng mơ rồi lại về với nỗi lo toan phiền muộn. Nắng tháng tám vẫn dịu dàng, hiền hoà như bản chất vốn có. Đến khi những tia nắng cuối cùng trong ngày cũng không còn lưu luyến, bịn rịn đổ dài trên những cành cây. Cũng là lúc gió lạnh lùa qua làn áo chạy vào da thịt thấm chút khí trời, tẩm chút hương vị mùa thu.
Những cơn mưa tháng tám chẳng vội vã, cứ chầm chậm, lặng lẽ mà dai dẳng.
Đâu đó có cơn gió lạc mùa, nghe rít lên từng hồi bên tiếng chuông gió kêu leng keng. Ướt đẫm mưa ngoài đó, bao phận người lục đục cho cuộc sống mưu sinh.
Mình nằm chăn ấm nghe mưa thì người ta đã thức dậy khi trời chưa sáng. Hòa vào lối mưa dày đặc, nhịp sống hằng ngày của họ vẫn tiếp diễn bởi miếng cơm manh áo. Nên mỗi khi bất an hoài nghi với cuộc đời dặn mình nên nhìn quanh đi đã. Có bao phận người đang cố gắng bươn chải dù cuộc sống khó khăn chăng nữa vẫn không hề bỏ cuộc.
Thu về, chiếc lá vàng khẽ rơi vì hết một chu kỳ sinh tồn thì những chiếc lá xanh lìa cảnh vẫn luôn mang một nỗi buồn đau đáu. Người ra đi đã đau đớn rồi, người ở lại cũng khó khăn trăm bề. Người ta thường nói thời gian sẽ chữa lành mọi vết thương. Thật ra thời gian không thần kỳ như thế. Nó chỉ làm chúng ta quen dần với nó. Sự quen dần này khiến cho vết thương trở thành vết sẹo, nhưng sẽ không bao giờ quên nó đã đau như thế nào?
Tháng tám vẫn đẹp hút hồn với những mảng màu của mùa thu. Dẫu lâu rồi cảm xúc như bị chai sạn nhưng vẫn xao động bởi những con đường đấy nắng mà không gay gắt chói chang, phố xá đẹp trầm tĩnh và cả sắc trời của tháng tám. Chẳng còn ai để phải lòng, chẳng còn ai để nhớ thương nhưng vẫn vấn vương một bóng hình ai đó. Nỗi nhớ dành cho người cũ hay chính là mình của những ngày vô ưu khi xưa ấy. Tự nhiên muốn chững lại một nhịp, hít hà mùi hương trời đất mà xuýt xoa. Rồi hình dung năm tháng về sau, lại đặt tay lên tim để bình tâm yên tĩnh thật nhiều trong tiết trời tháng tám xuyến xao.
Tháng tám mùa thu luôn đem lại cho lòng người những xúc cảm kỳ diệu. Nên sống sao cho trọn vẹn từng khoảnh khắc để thời gian có qua đi cũng không nuối tiếc điều gì. Mặc đâu đó ngoài kia vẫn vang lên thì thầm lời bài hát: Tháng tám mùa thu, lá rơi vàng chưa nhỉ?….
( Hoàng Nhung, nguồn: http://congnghieptieudung.vn/tan-van-thang-tam-mua-thu- dt12303) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2. Nêu chủ đề của văn bản.
Câu 3. Chất trữ tình thể hiện trong văn bản.
Câu 4. Cái tôi của tác giả biểu hiện như thế nào trong văn bản.
Câu 5. Tháng tám mùa thu mang lại trong em những cảm xúc gì? Trả lời trong khoảng đoạn văn 5 – 7 dòng
Gợi ý trả lời
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Biểu cảm.
Câu 2. Chủ đề của văn bản: Tháng 8 mùa thu với nhiều cảm xúc kì diệu trong lòng tác giả vừa mộng mơ, vừa phiền muộn, vừa nhung nhớ lại vừa bình tâm. Qua đó, tác giả thể hiện cảm xúc trân trọng, muốn lưu giữ từng khoảnh khắc của tháng tám mùa thu qua đi.
Câu 3. Chất trữ tình thể hiện trong sự hoà quyện cảm xúc của tác giả với những hình ảnh của tháng tám mùa thu. Những hình ảnh thiên nhiên không đơn thuần là tả cảnh mà được cảm nhận qua những câu văn thấm đẫm chất thơ: “Cơn gió lãng bãng thổi màu kí ức làm lòng mình hoang hoải tìm ngày đã cũ.” hay “Đến khi những tia nắng cuối cùng trong ngày cũng không còn lưu luyến, bịn rịn đổ dài trên những cành cây. Cũng là lúc gió lạnh lùa qua làn áo chạy vào da thịt thấm chút khí trời, tẩm chút hương vị mùa thu.” Hoặc là hình ảnh những cơn mưa với những xúc cảm đặc biệt: “Những cơn mưa tháng tám chẳng vội vã, cứ chầm chậm, lặng lẽ mà dai dẳng. Đâu đó có cơn gió lạc mùa, nghe rít lên từng hồi bên tiếng chuông gió kêu leng keng.”, “Thu về, chiếc lá vàng khẽ rơi vì hết một chu kỳ sinh tồn thì những chiếc lá xanh lìa cảnh vẫn luôn mang một nỗi buồn đau đáu”.