VĂN 9 1.Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu
A, Kiến thức cần nhớ
3. Cha tự hào nói với con về sức sống bền bỉ, mãnh liệt, về truyền thống cao đẹp của người đồng mình, về
SH nhận xét đánh giá vvef nội dung , nghệ thuật
GV yêu cầu HS phát hiện các hình ảnh thơ cần phân tích ở phần thứ 2?
GV gợi ý HS pâh tích vẽ đẹp ngôn ngữ trong từng đoạn thơ.
GV hường dẫn HS viết kết luận
Gợi ý: đánh giá nội dung và nghệ thuật
GV chia lớp thành 3,4
truyền thống ấy.
Người đồng mình là cha mẹ, là đồng bào, là những người cùng quê hương, dân tộc Tày, Nùng.
Với lời nói mộc mạc, giản dị, hình ảnh cụ thể, những điệp từ, điệp ngữ, cách so sánh cụ thể, kết hợp với kiểu câu ngắn dài khác nhau, tác giả gợi bao tình yêu thương về người đồng mình :
+ Người đồng mình sống vất vả mà mạnh mẽ, khoáng đạt, bền bỉ gắn bó với quê hương, thuỷ chung với nơi chôn rau cắt rốn cho dù quê hương còn cực nhọc, đói nghèo. Biết lấy chiều cao để đo nỗi buồn, khoảng cách xa để nuôi chí lớn, không bao giờ lùi bước trước mọi thử thách, khó khăn.
Tâm càng sáng, chí càng cao, tầm nhìn càng xa càng rộng, tràn đầy niềm vui và lòng lạc quan.
“Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói”
“Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc”
Từ đó người cha mong muốn con: Có nghĩa tình chung thuỷ với quê hương. Biết chấp nhận và vượt qua những khó khăn, thử thách bằng ý chí, nghị lực và niềm tin của mình.
+ Người đồng mình mộc mạc, dung dị, giàu ý chí và niềm tin. Họ có thể “Thô sơ da thịt” nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn và ý chí. Họ biết lo toan và mong ước: “Cao đo nỗi buồn – Xa nuôi chí lớn”. Họ biết tự lực, tự cường xây dựng quê hương, duy trì truyền thống với những tập quán tốt đẹp của người đồng mình.
“Người đồng mình đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục”
Câu thơ có 2 lớp nghĩa:Nghĩa tả thực: Đục đá kê cao là hành động có thực thường thấy ở miền núi. “Quê hương”
vốn là khái niệm trừu tượng, chỉ nơi chốn sinh thành của một người nào đó. Nghĩa ẩn dụ: Nói đục đá kê cao quê hương là Muốn khái quát về tinh thần tự tôn, ý thức xây dựng bảo tồn quê hương, văn hoá, cội nguồn. Tiếng cồng chiêng, điệu múa xoè hoa, tiếng khèn, tiếng đàn then…đều do người đồng mình làm nên, gìn giữ và phát huy đó sao.
+ Kết thúc bài thơ là lời nhắn nhủ, dặn dò của người cha mong muốn con mình phải tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê hương, hãy lấy những tình cảm đó làm hành trang để vững bước trên đường đời.
“Con ơi tuy thô sơ da thịt
nhóm
Yêu cầu viết thành đoạn văn hoàn chỉnh cho từng phần
Mở bài Thân bài
Đoạn thơ 1, đoạn thơ 2 Viết kết bài
Sau khi hoàn thành, GV cho đại diện nhóm lên đọc, các nhóm khjasc nghe và nhận xét cách viết của bạn
Lwy ý: mỗi thành viên nhóm làm bài độc lập
…….
Nghe con”.
Hình ảnh “thô sơ da thịt” lặp lại hai lần như muốn con khắc cốt ghi xương. “Người đồng mình” tuy mộc mạc, chân chất nhưng có lẽ sống cao đẹp. Trên đường đời con phải sống cao thượng, tự trọng để sứng đáng với “người đồng mình”. Con “không bao giờ nhỏ bé được”, dù con đường phía trước còn đầy chông gai. Con hãy tự tin bước đi, bởi sau lưng con có gia đình, quê hương, bởi trong tim con sẵn ẩn chứa những phẩm chất quý báu của “người đồng mình”.
Hai tiếng “nghe con” chứa đựng tấm lòng yêu thương và niềm tin sâu nặng cha đặt nơi con. Hai tiếng ấy khép lại bài thơ để lại một dư âm nhẹ nhàng mà âm vang xao xuyến.
III. KB:
Nói với con là bài thơ hay, một bông hoa nghệ thuật đầy hương sắc của núi rừng phía Bắc. Với thể thơ tự do, mạch cảm xúc tự nhiên, cách nói giàu hình ảnh vừa mộc mạc mà vẫn giàu chất thơ, cụ thể mà giàu sức khái quá, giọng điệu tha thiết, trìu mến: lúc bay bổng, nhẹ nhàng, lúc khúc triết, rành rọt, lúc mạnh mẽ, sắc nhọn, bài thơ thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và dân tộc mình, giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống, với quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống.
Phải chăng Y Phương thấu hiểu tất cả những điều đó nên ông đã lột tả cái hồn cốt trong bản sắc của người dân tộc.
Cha nói với con – hay chính là lời trao gửi với thế hệ tiếp nối?
LUYỆN TẬP
1. VIết từng phần phân tích bài thơ * Củng cố:
Khái quát nội dung bài học.
*. HDHB ở nhà:
- Học bài cũ và làm bài tập, chuẩn bị bài ôn tập về thơ RÚT KINH NGHIỆM SAU BÀI DẠY
Lớp 9a1:
………
………...
………
……….
……….…………..
Lớp 9a2: ……….
………...
………
………
………
………
Buổi 21: LUYỆN MỘT SỐ ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 Ngày soạn: 15/3/2018
Lớp 9a1………..lớp 9a2……….
I. Mức độ cần đạt 1. Kiến thức
- HS củng cố lại kiến thức tổng hopwj về vưn tiếng việt và tập làm văn - Biết cách xác định yêu cầu đề, lập dàn ý cho một bài văn nghị luận 2. Rèn luyện kĩ năng tìm hiểu đề, lập dàn bài và làm một đề thi cụ thể.
3. Giáo dục ý thức học tập và tự học tập II. Các bước tiến hành
CÂU HỎI ÔN TẬP TIẾNG VIỆT HỌC KÌ II
Câu 1. Xác định thành phần biệt lập và gọi tên các thành phần đó trong các câu sau : a. Chao ôi, có biết đâu rằng : hung hăng, hống hách láo chỉ tổ đem thân mà trả nợ cho những cử chỉ ngu dại của mình thôi.
b. Nhưng hình như lão cũng biết vợ tôi không ưng giúp lão.
Câu 2.Thế nào là khởi ngữ ? Cho ví dụ ?
Câu 3. Hãy kể tên các thành phần biệt lập đã học ? Câu 4: Trình bày khái niệm nghĩa tường minh và hàm ý Câu 5. Nêu đều kiện để sử dụng hàm ý ?
Câu 6. Xác định hàm ý của câu in đậm sau : Người nhà một bệnh nhân nặng hỏi bác sĩ :
- Tình trạng sức khoẻ của nhà tôi như thế nào, thưa bác sĩ ? - Anh cứ yên tâm. Còn nước còn tát.
Câu 7. Xác định hàm ý của câu sau : Bao giờ chạch đẻ ngọn đa Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình.
Câu 8. Xác định khởi ngữ trong đoạn văn sau :
Còn về diện mạo tôi, nó không đến nỗi đen cháy như các bạn có thể nghĩ…
Câu 9.Tìm từ ngữ liên kết và phép liên kết trong đọan văn sau :
Hằng ngày, việc ăn uống của người cũng rất đạm bạc, với những món ăn dân tộc không chút cầu kì, như cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa.
Và người sống ở đó, một mình, với một tư trang ít ỏi, một chiếc va li con với vài bộ quần áo, vài vật kỉ niệm của một cuộc đời dài.
Câu 10. Hãy viết lại các câu sau đây bằng cách chuyển phần được in đậm thành khởi ngữ(có thể thêm trợ từ thì)
a. Anh ấy làm bài cẩn thận lắm.
b. Tôi hiểu rồi nhưng tôi chưa giải được.
Câu 11. Xác định từ ngữ liên kết và các phép liên kết trong các đoạn văn sau :
a. Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng làm thoái hoá dân tộc ta.
b. Mùa xuân đã về thật rồi. Mùa xuân tràn ngập đất trời và lòng người.
Câu 12. Xác định các thành phần biệt lập trong các câu sau ? a. Chẳng lẽ ông ấy không biết.
b. Thưa ông, ta đi thôi ạ!
c. Anh Sơn (vốn dân Nam bộ gốc) làm điệu bộ như sắp ca một câu vọng cổ.
Câu 13. Hàm ý là gì ? Viết một đoạn đối thoại ngắn có sử dụng hàm ý. Gạch chân và giải thích hàm ý vừa dùng.
Câu 14. Đặt hai câu có sử dụng thành phần phụ chú và thành phần tình thái.
Câu 15. Đặt câu có sử dụng khởi ngữ. Gạch chân khởi ngữ đó Câu 16. Xác định thành phần biệt lập trong các câu văn sau:
- Mà tôi nhớ một cái gì đấy, hình như mẹ tôi, cái cửa sổ hoặc những ngôi sao to trên bầu trời thành phố. Chao ôi, có thể là tất cả những cái đó.
Câu 17. Viết hai câu (một câu có thành phần tình thái, một câu có thành phần cảm thán).
Từ đó, hãy chỉ ra sự giống nhau và khác nhau giữa thành phần tình thái và thành phần cảm thán?
Câu 18. Chỉ ra và nói rõ tên thành phần biệt lập trong các câu thơ sau:
a. Sương chùng chình qua ngõ - Hình như thu đã về.
b. Trời cao xanh ngắt, ô kìa! - Hai con hạc trắng bay về bồng lai.
c. Bác ơi, tim Bác mênh mông thế - Ôm cả non sông mọi kiếp người.
d. Cô bé nhà bên ( ai có ngờ) - Cũng vào du kích
Câu 20. Hãy hoàn thành đoạn đối thoại sau đây bằng câu nói có chứa hàm ý.
- Mai đi xem phim với mình nhé!
Câu 21. Chỉ ra các phép liên kết câu trong đoạn văn sau: Có thể nói ít có vị lãnh tụ nào lại am hiểu nhiều về các dân tộc và nhân dân thế giới, văn hóa thế giới sâu sắc như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến đâu, Người cũng học hỏi, tìm hiểu văn hóa, nghệ thuật đến một mức khá uyên thâm. Người cũng chịu ảnh hưởng của tất cả các nền văn hóa, đã tiếp thu mọi cái đẹp và cái hay đồng thời với việc phê phán những tiêu cực của chủ nghĩa tư bản.
ĐỀ LUYỆN THI
Câu 1: Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi
“ Tôi thích nhiều bài.(1) Những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả đường mặt trận.(2)Tôi thích dân ca quan họ mềm mại, dịu dàng.(3) Thích Ca-chiu-sa của Hồng quân Liên Xô.(4) Thích ngồi bó gối mơ màng: “Về đây khi mái tóc còn xanh xanh...”.(5) Đó là dân ca ý trữ tình giàu có, phải lấy giọng thật trầm.(6) Thích nhiều.(7) Nhưng tôi không muốn hát lúc này”.
a. Chỉ ra các phép liên kết và các phương tiện liên kết trong đoạn văn trên. (4 điểm) b. Chỉ ra lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn trên
a. Câu : “thích nhiều” và “Chị không khóc đó thôi, chị không ưa cả nước mắt” là kiểu câu gì?
Câu 2: chỉ ra và gọi tên các thành phần biệt lập trong câu sau:
- chao ôi, có thể là tất cả những thứ đó.
Câu 3: thêm thành phần khởi ngữ vào câu sau:
...bạn ấy thì nhất lớp Câu 4 (2 điểm)
Cho đoạn văn sau:
“ Lại một đợt bom. Khói vào hang. Tôi ho sặc sụa và tức ngực. Cao điểm bây giờ thật vắng. Chỉ có Nho và chị Thao. Và bom. Và tôi ngồi đây. Và cao xạ đặt bên kia quả đồi. Cao xạ đang bắn.”
(Trích “Những ngôi sao xa xôi” – Lê Minh Khuê) a) Đoạn văn trên diễn tả tâm trạng của ai? Trong hoàn cảnh nào?
b) Cách đặt câu trong đoạn văn có gì đặc biệt? Nêu tác dụng của cách đặt câu như thế đối với việc diễn tả nội dung của đoạn văn.
Câu 5 ( 3điểm)
Thương cảm cho số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa , Nguyễn Du đã từng viết:
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung 1.Em hiểu như thế nào về ý thơ trên ?
2. Qua số phận nàng Vũ trong “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ , em có suy nghĩ gì về “ phận đàn bà “ trong xã hội xưa và nay?
Gợi ý 1. Giải thích ý thơ:
- Niềm thương cảm của Nguyễn Du dành cho những người phụ nữ. “Phận” là thân phận,“mệnh” là số phận do trời định.“Lời bạc mệnh”là “lời chung ” dành cho những người phụ nữ => Đó là kiếp “ đàn bà” đều phải chịu đắng cay, khổ cực.
2. Trình bày suy nghĩ về số phận người phụ nữ xưa và nay:
Luận điểm 1: Suy nghĩ về nhân vật Vũ Thị Thiết : khái quát ngắn gọn
- Vũ Thị Thiết là hiện thân của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến xưa: đức hạnh đủ đầy mà có cuộc đời oan trái.Vốn con nhà kẻ khó thuộc tầng lớp bình dân nhưng cũng như bao người phụ nữ khác nàng cũng có khát khao,có ước mơ giản dị
muôn đời:Thú vui nghi gia nghi thất. Nàng hội tụ vẻ đẹp chuẩn mực của xã hội : công, dung, ngôn, hạnh lẽ ra phải được hưởng hạnh phúc nhưng lại gặp bất hạnh.
Luận điểm 2: Suy nghĩ về người phụ nữ trong xã hội xưa
- Người phụ nữ muốn có hạnh phúc, muốn nuôi dưỡng hạnh phúc nhưng họ bất lực trước những thế lực vô hình.Họ sống trong thế bị động.Mọi niềm vui nỗi buồn,hạnh phúc,đau khổ đều phụ thuộc vào đàn ông.Trong gia đình Vũ Thị Thiết (nói riêng) và xã hội phong kiến nói chung,người phụ nữ như nàng không có quyền được bảo vệ mình huống chi là quyền quyết định hạnh phúc của mình.
Luận điểm 3: Suy nghĩ về người phụ nữ trong xã hội ngày nay
- Ngày nay trong xã hội mới,xã hội hiện đại khi nam nữ đã bình quyền, phụ nữ đã được tôn trọng,đánh giá ngang với đàn ông.Pháp luật đã bảo vệ họ
- Người phụ nữ ngày nay vẫn kế thừa và phát huy được truyền thống tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam: vẫn coi trọng tứ đức, tam tòng nhưng không chỉ dừng lại ở đó.Tứ đức cùng với đạo tam tòng không phải là tư tưởng chính thống quyết định số phận họ.Ngày nay phụ nữ có quyền bình đẳng như nam giới:tự mình quyết định hạnh
phúc,tương lai,cuộc đời mình.
- Thực tế xã hội ngày nay bạo lực gia đinh không hẳn đã chấm hết,người phụ nữ chưa hẳn đã được bình đẳng tuyệt đối như nam giới vốn do thiên bẩm là thế nhưng họ đã thực sự có một cuộc đời mới, số mệnh mới...
Câu 6: Vẻ đẹp của người anh hùng tài hoa, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài qua đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga ( Nguyễn Đình Chiểu- Truyện Lục Vân Tiên) ( 5 điểm)
a) Mở bài:
- Truyện “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu là một tác phẩm có sức sống mạnh mẽ và lâu bền trong lòng nhân dân, đặc biệt là nhân dân Nam Bộ.
- Nhân vật chính trong tác phẩm là Lục Vân Tiên, một người anh hùng tài hoa, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài.
- Đoạn trích “Lục Vân Tiên” nằm ở phần đầu của truyện.
b) Thân bài:
Lục Vân Tiên là người anh hùng tài hoa, dũng cảm:
- Trên đường xuống núi, về kinh đô ứng thi Vân Tiên đã đánh cướp để cứu dân lành:
“ Tôi xin ra sức anh đào
Cứu người cho khỏi lao đao buổi này”
- Mọi người khuyên chàng không nên chuốc lấy hiểm nguy vì bọm cướp thì quá đống mà lại hung hãn.
“Dân rằng lẽ nó còn đây
Qua xem tướng bậu thơ ngây đã đành E khi họa hổ bất thành
Khi không mình lại xô mình xuống hang”
- Trước một dối thủ nguy hiểm như vậy nhưng Vân Tiên không hề run sợ.
“Vân Tiên ghé lại bên đàng Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô”
- Vân Tiên đã quát vào mặt bọn chúng:
“ Kêu rằng: “ Bớ đảng hung đồ
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”
- Tướng cướp Phong Lai thì mặt đỏ phừng phừng trông thật hung dữ. Vậy mà Vân Tiên vẫn xông vô đánh cướp. Hình ảnh Vân Tiên đánh cướp được miêu tả rất đẹp.
“Vân Tiên tả đột hữu xông
Khúc nào Triệu Tử phá vòng đươn dang”
Hành động của Vân Tiên chứng tỏ là người vì việ nghĩa quên mình, cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu, chiến thắng những thế lực bạo tàn.
Vân Tiên là người chính trực, trọng nghĩa kinh tài:
- Thái độ cư xử với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp lại bộc lộ tư cách con người chính trực hào hiệp , trọng nghĩa khinh tài, cũng rất từ tâm, nhân hậu của Lục Vân Tiên.
Khi thấy hai cô gái chưa hết hãi hùng, Vân Tiên động lòng tìm cách an ủi họ và ân cần hỏi han.
Vân Tiên nghe nói dộng lòng Đáp rằng: “Ta đã trừ dòng lâu la”
_ Khi nghe họ nói muốn được lạy tạ ơn, Vân Tiên đã cười và khiêm nhường tả lời: “ Là ơn há đễ trông người trả ơn” .
- Quan niệm sống của Vân Tiên là cách cư xử mang tính thần nghĩa hiệp của các bậc anh hùng hảo hán. Vân Tiên quan niệm:
Nhớ cậu kiến ngã bất vi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng c) Kết bài:
- Vân Tiên là người tài hoa, dũng cảm, chính trực hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài.
- Hình ảnh Lục Vân Tiên là hình ảnh đẹp, hình ảnh lí tưởng mà Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm niềm tin và ước vọng của mình.
- Ngôn ngữ mộc mạc, bình dị gần với lời nói thông thường trong nhân dân và mang đậm màu sắc địa phương Nam Bộ. Ngôn ngữ thiếu phần trau chuốt uyển chuyển nhưng lại phù hợp với ngôn ngữ người kể chuyện, rất tự nhiên, dễ đi vào quần chúng.
Câu 7 : Nhan đề Bài thơ tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật có gì khác lạ? Vì sao có thể nói hình ảnh những chiếc xe không kính trong bài thơ là hình ảnh độc đáo?
a) Nhan đề:
- Nếu lhoong có hai chữ bài thơ thì người đọc vẫn nhận ra đây là một bài thơ
Nhan đề bài thơ về tiểu đội xe không kính khá dài , có vẽ lạ nhưng đã có tác dụng làm nổi bật hình ảnh độc đáo của toàn bài:Những chiếc xe không kính. Hai chữ ” Bài thơ”
tưởng thừa nhưng thể hiện rõ cách nhìn, cách khai thác hiện thực của tác giả.
- Ông viết về những chiếc xe không kính không chỉ phản ánh hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà còn nói về chất thơ của hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ anh hùng hiên ngang dũng cảm , vượt lên gian khổ, hiểm nguy của cuộc chiến vì lí tưởng cao đẹp.
b) Hình ảnh:
- Hình ảnh những chiếc xe không kính là hình ảnh độc đáo vì đó là hình ảnh thực, bị bom đạn làm cho biến dạng thêm” không có kính, rồi xe không có kính- không có mui xe, thùng xe có xước” Nhưng xe băng ra chiến trường.Nó trở thành hình tượng thơ độc đáo của thời chống Mĩ qua hồn thơ nhạy cảm, ngang tàng của Phạm Tiến Duật.