TRANH CHÁP HỢP ĐÒNG LÀM KHUÔN ÉP NHỰA” CỦA TÒA PHÚC THẢM TÒA ÁN NHÂN DÂN TÓI CAO

Một phần của tài liệu Những quy định về chất lượng trung bình của hàng hóa trong hợp đồng theo pháp luật thương mại việt nam và công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Trang 102 - 105)

(Nguyên đơn: Doanh nghiệp tư nhân sản xuất thương mại Đông Phú Bị đơn: Công ty TNHH sản xuất thương mại Đại Hải)

XÉT THAY

Về thủ tục: Ông Phạm Gia Đức Đại diện nguyên đơn Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú

đề nghị xử vắng mặt. Sau khi nghe ý kiến của bị đơn, đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Về nội dung: Tại đơn kháng cáo và trước phiên tòa phúc thẩm hôm nay đại diện Công ty TNHH sản xuất thương mại Đại Hải là ông Vũ Đức Tiến cho rằng Công ty Đại Hải không vỉ phạm hợp đồng về thời gian, đề nghị cho giám định lại mẫu, và đề nghị Tòa phúc thâm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử theo như hợp đồng.

Căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết ngày 29-5-2003 giữa Công ty TNHH sản xuất

thương mại Đại Hải và Doanh nghiệp tư nhân sản xuất thương mại Đông Phú thì ngày 03-

62003 Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú đã đặt cọc số tiền 84.914.500 đồng (tương đương š.500 USD). Công ty Đại Hải tiến hành sản xuất khuôn MI, M2, đến khoảng giữa tháng 9/2003 thì ép thử sản phẩm và giao cho Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú. Do sản phẩm ép

thử không đạt như mẫu nên Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú đã yêu cầu Công ty Đại Hải chỉnh sửa khuôn. Đến ngày 02-12-2003 Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú nghiệm thu và

nhận khuôn M2. Riêng khuôn MI Công ty Đại Hải tiếp tục sửa chữa nhiều lần nhưng sản phẩm làm ra vẫn không đạt như sản phẩm mẫu của Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú.

Trong quá trình này, Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú tiếp tục ứng tiền 209.549.500 đồng (tương đương 13.500 USD) cho Công ty Đại Hải, nhưng Công ty Đại Hải vẫn không giao được khuôn MI làm ra sản phẩm đúng như sản phẩm mẫu.

Xét lỗi của các bên thực hiện hợp đồng kinh tế đã được ký kết thì thấy rằng: Thời hạn giao hàng là 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận tiền đặt cọc. Ngày 3-6-2003 Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú đặt cọc thì ngày 30-9-2003 Công ty Đại Hải phải giao hàng. Nhưng đến ngày 02-12-2003 Công ty Đại Hải mới giao được khuôn M2 nhưng đã quá thời hạn 2

tháng. Đối với khuôn MI thì Công ty Đại Hải sản xuất không đạt như sản phẩm mẫu và

cũng quá thời hạn được quy định trong hợp đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay đại diện Công ty TNHH sản xuất thương mại Đại Hải

cho rằng các khuôn theo đơn đặt hàng đã hoàn thành từ tháng 10/2003, nhưng Doanh nghiệp tư nhân sản xuất thương mại Đông Phú không nhận. Song căn cứ vào bản Fax ngày

3-3-2004 của ông Tiến là giám đốc Công ty TNHH sản xuất thương mại Đại Hải gửi cho

ông Đức là giám đốc Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú đã thể hiện việc Công ty TNHH sản xuất thương mại Đại Hải chưa hoàn thành bộ khuôn MI là đã quá hạn giao sản phẩm mẫu là 210 ngày.

VỀ phía Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú ngày 16-9-2003 nhận được sản phẩm MI và M2, theo hợp đồng thì phải thanh toán thêm 45% nhưng hợp đồng không nói rõ trong thời gian bao lâu phải thanh toán thêm 45%, Ngày 19-9-2003 Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú

yêu cầu sửa chữa sản phẩm. Mặc dù sau đó Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú yêu cầu Công ty Đại Hải tiếp tục sửa chữa nhiều lần, nhưng đã tiếp tục ứng tiền cho Công ty Đại Hải 3 lần (từ ngày 29-9-2003 đến ngày 04-3-2003) nâng tổng số tiền lên 209.549.500 đồng (tương đương 13.500 USD và bằng 87% giá trị hợp đồng). Đến nay Công ty Đại Hải vẫn không giao được khuôn MI làm ra sản phẩm đúng như sản phẩm mẫu thể hiện ở các bảng so sánh sản phẩm mẫu do Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú cung cắp và sản phẩm do Công

ty Đại Hải sản xuất ra có sự sai biệt các thông số kỹ thuật so với sản phẩm mẫu.

Bộ khuôn MI và M2 làm ra sản phẩm đồng bộ và theo đơn đặt hàng của phía đối tác nước ngoài, nay Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú không có nhu cầu sản xuất nữa. Do đó, Tòa án cắp sơ thẳm buộc Công ty Đại Hải phải nhận lại khuôn M2 và hoàn trả số tiền đã nhận tạm ứng cùng với số tiền phạt vỉ phạm hợp đồng là có căn cứ.

Đối với yêu cầu kháng cáo về thẩm quyền, Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ vào điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý giải quyết vụ kiện là

CÓ cơ Sở,

Các quyết định khác của bản án kinh tế sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có

hiệu lực thi hành.

Vì các lẽ trên,

TÒA PHÚC THÂM TÒA ÁN NHÂN DÂN TÓI CAO TẠI THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH

QUYÉT ĐỊNH Căn cứ vào khoản I điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng điều 68, 70 và điều 228 Luật thương mại.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Doanh nghiệp tư nhân Đông Phú.

Buộc Công ty TNHH sản xuất thương mại Đại Hải phải hoàn trả cho Doanh nghiệp tư

nhân sản xuất thương mại Đông Phú 209.549.500 đồng.

Phạt Công ty TNHH sản xuất thương mại Đại Hải 8% giá trị hợp đồng với số tiền là 19.479.160 đồng. Tổng cộng Công ty TNHH sản xuất thương mại Đại Hải phải thanh toán cho Doanh nghiệp tư nhân sản xuất thương mại Đông Phú số tiền là 229.028.600 đồng.

Buộc Công ty TNHH sản xuất thương mại Đại Hải nhận lại khuôn M2.

Các quyết định khác của bản án kinh tế sơ thẩm đã có hiệu lực thi hành,

Án phí kinh tế phúc thẩm Công ty TNHH sản xuất thương mại Đại Hải phải nộp 200.000 đồng.

Bản án này là chung thẩm.

Phụ lục 6: BẢN ÁN SÓ 37/KTPT NGÀY 12/5/2004 VE

Một phần của tài liệu Những quy định về chất lượng trung bình của hàng hóa trong hợp đồng theo pháp luật thương mại việt nam và công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Trang 102 - 105)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(126 trang)