CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH

Một phần của tài liệu Những quy định về chất lượng trung bình của hàng hóa trong hợp đồng theo pháp luật thương mại việt nam và công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Trang 112 - 120)

(trích)

(Nguyên đơn: Cơ sở Hiệp Hòa Bị đơn: Công ty TNHH giày Anjin)

XÉT NHẬN

Tháng 4/2005 giữa nguyên đơn Cơ sở Hiệp Hòa và bị đơn Công ty TNHH giày Anjin

có quan hệ ký kết hợp đồng mua bán Logo (đính trên giày thể thao) dưới dạng đơn đặt hàng. Thực hiện hợp đồng theo khai nhận thống nhất của nguyên, bị đơn: số lượng hàng

mà nguyên đơn đã giao cho bị đơn là 41.600 Logo gắn trên 20.800 đôi giày trị giá

274.486.652” (hai trăm bảy mươi bốn triệu bốn trăm tám mươi sáu ngàn sáu trăm năm mươi hai đồng) bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn, nay nguyên đơn kiện bị đơn đòi

số tiền trên và số tiền lãi do việc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là từ tháng 9/2005 đến tháng 6/2006 là 9 tháng với mức lãi suất 0,975%/thang = 24.086.213,

Trong quá trình Tòa án xác minh thu thập chứng cứ thì bị đơn đồng ý thanh toán số tiền hàng còn thiếu 274.486.652” cho nguyên đơn nên chấp nhận, tuy nhiên về tiền lãi Anjin chỉ đồng ý thanh toán theo mức lãi suất không kỳ hạn là 0,2%/tháng x 09 tháng = 4.940.7594

do khi đặt hàng hai bên không quy định thời hạn trả, và bị đơn có yêu cầu phản tố đòi

nguyên đơn phải bồi thường thiệt hại số Logo 21.112 gắn trên 10.156 đôi giày thể thao trong số 41.600 Logo gắn trên 20.800 đôi giày thể thao mà nguyên đơn đã bán cho bị đơn do hàng của nguyên đơn làm kém chất lượng để khách hàng từ Đức trả về, thể hiện tại tờ khai có ghỉ xuất trả theo tờ khai nhập số 12/NKTNSC ngày 14/2/2006 và 03 bản test của khách hàng Đức cụ thẻ thiệt hại theo trình bày của bị đơn trước khi xét xử gồm:

1. Công tác phí thỏa thuận được nhận hàng

sửa chữa lại Logo (PC 1872 (19/10/2005) 15.930.000 đồng 2.. Phí chuyển tải 03 cont nhập từ Đức về VN

(HD 043938, 043939, 043940 (13/02/2006) 144.501.418 đồng 3... Phí collected cho lô hàng nhập (HĐ 019836) 30.405.888 đồng 4. Phí D/O cho lô hàng nhập (HĐ 044753) 621.582 đồng

5. Phi nang ha cont cho 16 hang nhap (HD 0113203) 1.410.000 đồng

6... Phí vận chuyển cho 03 cont 40” nhập (HĐ 0066269) 3.000.000 đồng

7.. Logo mới cho đặt tại Sao Bac (HD 0017348)

(Đơn đặt hàng AJV-060067 (08/3/2006) 15.834.000 đồng 8.. Đặt thùng carton khi tái chế (HĐ 0001875)

(Don dat hang 0304-1 (04/3/2006)) 14.099.182 đồng 9.. Kéo dán Logo khi tái chế (HĐ 0085924)

(định mức tối thiểu: 0,10 x 10.556 đôi x 15.930) 16.815.708 đồng 10. Phí gia công tái chế

(giá gia công: 0,085 USD x 10.556 đôi x 15.930) 14.251.110 đồng 11. Phí chuyển tải từ VN sang Đức (HĐ 001734001103) 192.761.046 đồng TONG CONG CHI PHÍ PHÁT SINH: 449.629.934! (bốn trăm bốn mươi chin triệu sáu

trăm hai muoi chin ngan chin tram ba mươi bốn đồng).

Tại phiên tòa bị đơn không đủ chứng cứ chứng minh phần tiền Công tác phí thỏa thuận

được nhận hàng sửa chữa lại Logo (PC 1872 (19/10/2005) 15.930.000 đồng nên rút lại

phần này còn các phần khác vẫn giữ nguyên, cụ thể tổng số tiền bồi thường thiệt hại là

423.699.3344,

Trước yêu cầu phản tố của bị đơn nguyên đơn không đồng ý vì cho rằng sau khi nghe

thông báo của bị đơn thì nguyên đơn đã cùng hợp tác với bị đơn đem 15 đôi giày có sắn

Logo trong số hàng còn tồn tại kho của bị đơn niêm phong mẫu gởi đi test tại STR (Đài

Loan). Ngày 01/10/2005 Hiệp Hòa nhận được kết quả kiểm định của STR là có hàm lượng Cadmium trong Logo nhya TPR = 127 ppm/kg >100 mg/kg, nguyên đơn đã gởi lại kết quả này cho bị đơn.

ˆ_ Sau đó việc nguyên đơn tự lấy mẫu lưu của chính cơ sở mình đi test lại lần nữa thì hàm lượng Cadmium trong Logo nhựa TPR = 127ppm/kg < 100 mg/kg, nguyên đơn thấy không

có lỗi nên khởi kiện đòi số tiền Anjin còn thiếu.

Hội đồng xét xử xét: Theo khai nhận thống nhất của nguyên bị đơn phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: ngày 14/9/2006 tức 04 tháng sau khi giao hàng phía bị đơn đã báo cho nguyên đơn biết về chất lượng hàng Logo không đạt như đã thỏa thuận khi đặt hàng, và ngày 22/9/2005 nguyên đơn đã có bản fax ngày 22/9/2005 trả lời cho bị đơn, như vậy theo điểm b Điều 241 Luật thương mại 1997 thì việc khiếu nại về chất lượng hàng hóa của phía bị đơn là đúng quy định. Sau khi bị đơn khiếu nại thì nguyên đơn đã hợp tác cùng bị đơn đem 15 đôi giày (trong số hàng còn tồn tại kho Anjin) có gắn Logo giao cho nguyên đơn đi test lại, cụ thể: Ngày 27/9/2005 bị đơn cử người sang nguyên đơn đẻ cùng nhau

niêm phong mẫu gởi đi test tại STR (Đài Loan). Ngày 01/10/2005 nguyên đơn nhận được kết quả kiểm định của STR là có hàm lượng Cadmium trong Logo nhựa TPR = 127ppm/kg

> 100 mg/kg, nguyên đơn đã gửi lại kết quả này cho bị đơn. Như vậy cho thấy Logo TPR

mà khách hàng Deichmann test ở Đức ngày 18/8/2005, 26/8/2005 và 01/9/2005 có kết quả giống như kết quả mà bị đơn cùng nguyên đơn niêm phong đi test tại STR.

Xét thấy: Sau đó nguyên đơn đơn phương tự lấy mẫu lưu của chính mình đi test lại lần nữa không có sự niêm phong đồng ý của Công ty giày Anjin và xét việc bị đơn mời nguyên đơn hai lần ngày 16 và 17/01/2006 sang bàn cách khắc phục nhưng nguyên đơn không đồng ý hợp tác tiếp tục với Công ty giày Anjin để bàn cách giải quyết hạn chế thiệt

hại là không đúng với Điều 223 Bộ luật thương mại năm 1997 vì trong trường hợp này

nguyên đơn phải chủ động khắc phục thiếu sót do trước khi đặt hàng hai bên có sự thỏa thuận chung về Logo nhựa TPR là phải đảm bảo an toàn chất lượng về chất Cadmium cho

phép có trong nhựa TPR CADMIUM < 100 mg/kg; Xét mặc dù không có sự hợp tác của phía nguyên đơn, để tránh thiệt hại xảy ra việc bị đơn Công ty giày Anjin đã chủ động sang

nước Đức đàm phán thương lượng với khách hàng Đức để xin trả lại hàng để bị đơn tái chế

là đúng với quy định tại Điều 232 Bộ luật thương mại năm 1997, Trong thời gian Tòa án

thụ lý giải quyết theo khai nhận thống nhất của nguyên bị đơn thì bị đơn mời nguyên đơn đến để giải quyết thì nguyên đơn không hợp tác và nguyên đơn trả lời rằng đã kiện đến Tòa án thì chờ Tòa án quyết định. Sau khi hàng về phía bị đơn tiếp tục mời nguyên đơn ra cảng để giải quyết hai lần, lẽ ra nguyên đơn phải hợp tác cùng với bị đơn ra cảng để xem xét lại hàng theo thông báo của bị đơn, nhưng nguyên đơn không hợp tác, để hạn chế thiệt hại bị đơn đã cùng cơ quan chức năng lấy 20 carton bắt kỳ có bao bì nguyên vẹn từ trong 03 con- tainer trả về, sau đó đóng trong 02 carton số 152 và 184 và niêm phong ngày 16/02/2006 đề nghị Tòa án cho giám định là đúng đắn phù hợp với Điều 232 Bộ luật thương mại năm

1997 và ngày 30/3/2006. Tòa án đã triệu tập nguyên bị đơn đến Tòa án, yêu cầu bị đơn đem mẫu đến để nguyên bị đơn cùng nhận diện hàng, cùng cơ quan Vinacontrol mở niêm phong và sau đó cho giám định nhưng ngày 30/3/2006 nguyên đơn đến và nộp giấy triệu tập xong bỏ về, Tòa án đã mời Viện kiểm sát đến để chứng kiến việc mở niêm phong và

lấy hàng đi giám định, đồng thời Tòa án đã có Quyết định số 653/QĐ-TCGĐ-KTST ngày

30/3/2006 gửi cơ quan Vinacontrol trưng cầu giám định số hàng mẫu nêu trên.

Tại báo cáo kết quả giám định số 06 ngày 17/4/2006 cơ quan Vinacontrol đã kết luận:

Nếu áp dụng tiêu chuẩn 100ppm max thì hàm lượng Cadmium của các mẫu đều có hàm lượng có trong nhựa TPR CADMIUM > 100 mg/kg không đạt yêu cầu cho phép, do đó xét

thấy các kết quả giám định từ nước Đức gửi về ngày 18/8/2005, 26/8/2005 và 01/9/2005 phù hợp với kết quả giám định mà nguyên đơn đã đi test tại Đài Loan và gửi kết quả cho bị đơn, phù hợp với kết quả giám định của Vinacontrol chất Cadmium cho phép có trong

nhya TPR CADMIUM > 100mg/kg. Do đó có căn cứ xác định nguyên đơn đã vị phạm hợp

đồng không đảm bảo hàm lượng CADMIUM < 100 mg/kg như đã thỏa thuận. Xác định số Logo 21.112 mà nguyên đơn làm ra, đã bán cho Bị đơn để bị đơn gắn trên 10.156 đôi giày

không đạt chất lượng bị trả về dẫn đến thiệt hại phải bồi thường cho bị đơn là có căn cứ

phù hợp với quy định tại điều 229, 230, 231 Bộ luật thương mại năm 1997. Nên căn cứ vào

thực tế thiệt hại có giấy tờ chứng minh buộc nguyên đơn phải bồi thường lại cho bị đơn là đúng đắn cụ thẻ:

1.. Phí chuyển tải 03 cont nhập từ Đức về VN

(HD 043938, 043939, 043940 (13/02/2006) 144.501.418 đồng 2. Phi collected cho 16 hang nhập (HĐ 019836) 30.405.888 đồng 3... Phí D/O cho lô hàng nhập (HD 044753) 621.582 đồng 4. Phi nang ha cont cho 16 hang nhập (HĐ 0113203) 1.410.000 đồng 5. Phí vận chuyển cho 03 cont 40” nhập (HĐ 0066269) 3.000.000 đồng 6.. Logo mới cho đặt tại Sao Bạc (HD 0017348)

(Don dat hang AJV-060067 (08/3/2006) 15.834.000 đồng 7.. Đặt thùng carton khi tái chế (HB 0001875)

(Bon dat hang 0304-1 (04/3/2006) 14.099.182 đồng 8.. Kéo dán Logo khi tái chế (HD 0085924)

(định mức tối thiểu: 0,10 x 10.556 đôi x 15.930) 16.815.708 đồng 9. Phí gia công tái chế

(giá gia công: 0,085 USD x 10.556 đôi x 15.930) 14.251.110 đồng 10. Phi chuyén tai tir VN sang Dire (HD 001734001 103) 192.761.046 đồng TÔNG CỘNG: 423.699.334! (bốn trăm hai mươi ba triệu sáu trăm chin mươi chính ngàn ba trăm ba mươi bốn đồng) là có căn cứ được chấp nhận như phân tích trên

Riêng số tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ từ tháng 9/2005 đến tháng 6/2006 là 09

tháng với mức lãi suất 0,975%/tháng = 24.086.2134 nguyên đơn kiện bị đơn yêu cầu trả là Không có căn cứ vì nguyên đơn đã có lỗi trong việc thực hiện hợp đồng thanh toán cho

nguyên đơn số tiền lãi theo mức lãi suất không kỳ hạn 0,2%/tháng x 09 tháng = 4.940.7594

là tự nguyện nên ghi nhận.

QUYÉT ĐỊNH

Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Cơ sở Hiệp Hòa kiện bị đơn Công ty TNHH giày Anjin đòi thanh toán tiền còn thiếu và phản tố của bị đơn Công ty TNHH giày Anjin kiện nguyên đơn Cơ sở Hiệp Hòa đòi tiền bồi thường thiệt hại do cung cắp hàng Logo kém

chất lượng xử:

1. Bị đơn Công ty TNHH giày Anjin có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn Cơ

sở Hiệp Hòa số tiền mua hàng Logo còn thiếu chưa thanh toán là 274.486.652 (hai trăm

bảy mươi bốn triệu bốn trăm tám mươi sáu ngàn sáu trăm năm mươi hai đồng) theo hai đơn đặt hàng AJV#HH1005 ngày 05/4/2005, số AJV#HH1205 ngày 08/4/2005.

2.. Bác yêu cầu của nguyên đơn Cơ sở Hiệp Hòa đòi bị đơn Công ty TNHH giày Anjin phải trả tiền lãi do việc chậm thực hiện nghĩa vụ là 24.086.213 (hai mươi bốn triệu không

trăm tám mươi sáu ngàn hai trăm mười ba đồng).

3.. Buộc nguyên đơn Cơ sở Hiệp Hòa bồi thường cho bị đơn Công ty TNHH giày An-

jin số tiền thiệt hại do cung cấp hàng hóa kém chất lượng là 423.699.334" (bốn trăm hai mươi ba triệu sáu trăm chín mươi chín ngàn ba trăm ba mươi bốn đồng).

4.. Ghi nhận sự tự nguyện của phía Công ty TNHH giày Anjin trả cho nguyên đơn số

tiền lãi theo mức lãi suất không kỳ hạn 0,2⁄/tháng x 09 tháng = 4.940.759 (bốn triệu chín

trăm bốn chục ngàn bảy trăm năm mươi chín đồng).

Kể từ ngày người có yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành án không trả đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thỉ hành còn phải trả bên thi hành số tiền lãi tính theo mức lãi suất nợ quá hạn do ngân hàng nhà nước quy định tương

ứng với thời gian chưa thi hành án.

Phụ lục 8: BẢN ÁN SO 87⁄2007KDTM-PT NGÀY 11/9/2007 VÈ “TRANH CHÁP HỢP ĐÒNG MUA BÁN HÀNG HÓA” CỦA TÒA PHÚC THẢM TÒA ÁN NHÂN DAN TOI CAO TẠI TP.HCM (Bản án phúc thẩm lần 2)

(trích)

(Nguyên đơn: Công ty TNHH sản xuất và thương mại Gia Lợi Bị đơn: Cơ sở Thuận Lợi

XÉT THAY

Theo bản thuyết minh (do Công ty Gia Lợi cung cấp khi chào hàng) xác định tính năng kỹ thuật máy là “in 4 màu thông qua chỉnh cơ bản chênh lệch, tiện cho đối chiếu vị trí, chính xác in ấn” (tại điểm 3 Điều 2 mục V) và tại điểm 7 Điều 3 ghỉ “thường xuyên quan

sát tình trạng màu sắc 1, 2, 3, 4 và kịp thời xoay chuyển cơ cấu chênh lệch, in chuyển động, chỉnh vị trí trang bị hướng ngang, làm cho chính xác màu sắc, không có hiện tượng

thiên lệch”,

Thực tế, ngay khi lắp đặt và thử nghiệm đã phát hiện máy do Công ty Gia Lợi bán cho Cơ sở Thuận lợi không bảo đảm chất lượng như bản thuyết minh nêu trên và hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Vì vậy nên ngày 27/2/2002, hai bên đã lập biên bản trong đó ghi nhận:

Công ty Gia Lợi sẽ cung cấp bổ sung cho Cơ sở Thuận Lợi một số phụ tùng, đổi lại trục xâm lỗ không đạt yêu cầu và trục phụ trợ xâm lỗ kê dưới; Cơ sở Thuận Lợi cho biết khi

sản xuất các loại bao khác in 04 màu chưa đạt yêu cầu, bị chồng màu, bị lem, chạy khoảng

10 cái thì bị chồng màu. Cơ sở Thuận Lợi đề nghị giữ lai 6000 USD trong số 29.800 USD

còn lại, chờ Công ty Gia Lợi làm việc với Công ty Guang Hua (Trung Quốc) giải quyết

những vấn đề tồn đọng như: bồi thường máy vi tính và phế liệu.

Tiếp theo ngày 21/5/2002, hai bên lập biên bản kiểm tra in phối màu và giải quyết tồn đọng của hợp đồng. Các bên đều thừa nhận: kết qua in thir vào ngày 20/5 và 21/5/2002 đều không đạt phối màu và Công ty Gia Lợi phải có nghĩa vụ khắc phục khiếm khuyết trên và nếu việc in thử nghiệm đạt kết quả, hai bên sẽ tiến hành nghiệm thu máy theo hợp đồng.

Ngoài ra, Công ty Gia Lợi cũng đồng ý bồi thường 1.000 USD cho tiền phế liệu thử nghiệm và giảm giá hợp đồng là 5.000 USD do không lắp đặt bộ vi tính. Sau đó, ngày 02/10 và 06/10/2002 chuyên gia Trung Quốc đã tiến hành in thử nghiệm 3 màu nhưng đều không chính xác, bị lệch nhiều.

Để thực hiện thỏa thuận trên, vào ngày 02 tháng 10 và ngày 06/10/2002 chuyên gia Trung Quốc đã tiến hành in thủ nghiệm 3 màu nhưng đều không chính xác, bị lệch nhiều.

Từ những căn cứ nêu trên cho thấy: Công ty Gia Lợi đã giao máy không đúng Điều 1 của hợp đồng phần phụ lục A về chỉ tiết thông số máy (số lượng in 4 màu) và Điều 2 phụ lục B về yêu cầu khác về đặc tính kỹ thuật. Công ty Gia Lợi chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hành của mình và chưa làm thủ tục lắp đặt và nghiệm thu theo Điều 3 và Điều 6 của hợp đồng.

Phía Công ty Gia Lợi cho rằng đã thực hiện đúng hợp đồng, những thiếu sót của máy đã được khắc phục sửa chữa nên yêu cầu Cơ sở Thuận Lợi phải thanh toán ngay số tiền còn

thiếu là chưa phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 72 của Luật thương mại quy định về

Quyền chưa thanh toán tiền mua hàng: “người mua có quyền chưa thanh toán toàn bộ hoặc một phần tiền mua hàng, nếu khi nhận hàng phát hiện thấy hàng bị hư hỏng, có khuyết tật

và chỉ thanh toán khi người bán khắc phục những hư hỏng, khuyết tật đó, trừ trường hợp trong hợp đồng có thỏa thuận khác, Đồng thời cũng trái với thỏa thuận trong hợp đồng về

việc thanh toán số tiền còn lại trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ký nghiệm thu máy. Tại

phiên tòa phúc thẳm hôm nay, Công ty Gia Lợi cũng thừa nhận hai bên chưa nghiệm thu

về chất lượng in phối màu.

Do đó, kháng cáo của Cơ sở Thuận Lợi về việc đề nghị không chấp nhận yêu cầu của Công ty Gia Lợi kiện đòi Cơ sở Thuận Lợi phải thanh toán ngày số tiền còn lại là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên phúc thẩm hôm nay Cơ sở Thuận Lợi đồng ý thanh toán cho Công

ty Gia Lợi 1⁄2 số tiền còn nợ theo hợp đồng là 11.551 USD và 1⁄4 số tiền còn lại Cơ sở Thuận Lợi dùng đẻ khắc phục tình trang may in chồng màu không chính xác. Xét yêu cầu trên là chính đáng, đảm bảo quyền lợi của hai bên đương sự nên cần chấp nhận.

Theo thông báo của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh (Công Văn số

388/THA ngày 25/01/2007) và sự xác nhận của hai bên đương sự thì Cơ quan Thi hành án

dân sự thành phố Hồ Chí Minh đã thu của Cơ sở Thuận Lợi số tiền 15.801,89 USD để trả nợ cho Công ty Gia Lợi. Như vậy, Cơ sở Thuận Lợi đã trả dư cho Công ty Gia Lợi số tiền

4.230,33 USD (15.801,89 USD - 11.571,56 USD), ngay Công ty Gia Lợi phải có trách

nhiệm hoàn trả lại cho Cơ sở Thuận Lợi số tiền chênh lệch nêu trên, Riêng số tiền 4.718.159 đồng khẩu trừ tài khoản Ngân hàng hiện vẫn do Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh tạm giữ (Lệnh chuyển có số 00049 ngày 15/8/2005), nên Cơ quan

Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh lập thủ tục hoàn trả lại số tiền này cho Cơ sở

Thuận Lợi.

Một phần của tài liệu Những quy định về chất lượng trung bình của hàng hóa trong hợp đồng theo pháp luật thương mại việt nam và công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Trang 112 - 120)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(126 trang)