Cứ vài tháng một lần, cần phải tiến hành kiểm tra, đánh giá tình hình kinh doanh của công ty. Bạn có thể tham khảo ấn bản Value Line mới nhất hoặc báo cáo hàng quý, đặt câu hỏi về mức lợi nhuận và liệu mức lợi nhuận đó có duy trì như các nhà đầu tư mong đợi không. Nếu cần, bạn cũng có thểđến thẳng các cửa hàng bán sản phẩm để xem các sản phẩm này có thu hút được nhiều khách hàng hay không. Đặc biệt đối với các công ty tăng trưởng nhanh, bạn phải tựđặt câu hỏi cho chính mình rằng những yếu tốnào là động lực tăng trưởng chính của công ty.
Quá trình phát triển của mỗi công ty bao gồm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu là giai đoạn khởi nghiệp: trong giai đoạn này, doanh nghiệp phải khắc phục, vượt qua những khó khăn ban đầu. Giai đoạn hai, giai đoạn mở rộng quy mô với tốc độ nhanh chóng: công ty tìm kiếm và xâm nhập các thịtrường mới. Và giai đoạn cuối cùng, giai đoạn trưởng thành, hay còn gọi là giai đoạn bão hòa, lúc này công ty chuẩn bịđối mặt với một thực tế là việc tiếp tục mở rộng quy mô, tiếp tục tăng trưởng rất khó thực hiện. Mỗi giai đoạn kéo dài khoảng vài năm. Giai đoạn đầu là giai đoạn rủi ro nhất vì lúc này, chưa ai dám đảm bảo công ty sẽ thành công trong thời gian tới, mọi thứ vẫn đang nằm trong vòng nghi vấn. Giai đoạn thứ hai là an toàn nhất, đó cũng là lúc lợi nhuận đạt đến cực đại, vì sau khi đã thu được những thành công ban đầu, công ty cứtheo đà phát triển đó, có vẻnhư thành công nối tiếp thành công. Giai đoạn ba là giai đoạn phát sinh nhiều vấn đề nhất, bởi vì công ty đang dần tiến tới giới hạn hay ngưỡng tăng trưởng. Muốn công ty tiếp tục phát triển, phương thức kinh doanh phải được đổi mới.
Khi bạn kiểm tra, đánh giá định kỳ giá trị của các chứng khoán, bạn sẽ phải xác định chính xác công ty này đang nằm ởgiai đoạn nào hay sắp chuyển sang giai đoạn nào. Nếu bạn theo dõi Automatic Data Processing (Quá trình Phân tích Dữ liệu Tựđộng), bạn sẽ thấy rằng công ty này chưa có dấu hiệu bão hòa, tức là nó vẫn ởtrong giai đoạn hai.
Khi Sensormatic phát triển hệ thống phát hiện kẻ trộm tại hết cửa hàng này đến cửa hàng khác (giai đoạn hai), giá cổ phiếu tăng vọt từ2 đô la lên tới 40 đô la. Nhưng cuối cùng nó cũng tiến tới giới hạn tăng trưởng - không có thêm khách hàng mới nào. Công ty cũng không có chiến lược kinh doanh mới mẻnào đểduy trì đà tăng trưởng và thế là cổ phiếu giảm mạnh trong vòng một năm từ 42 đô la năm 1983 xuống còn 5 đô la năm 1984. Trước tình hình này, bạn phải tìm ra kế hoạch mới để vực dậy công ty và liệu kế hoạch đó có nhiều khảnăng thành công không.
Khi Sears đã chiếm lĩnh hầu hết các thịtrường trọng yếu thì sau này còn chỗnào để công ty có thể mở rộng nữa không? Khi The Limited đã mở rộng hoạt động đến 670/700 khu vực mua sắm chính trên đất nước, chuyện gì sẽ xảy ra tiếp đó?
Trong hoàn cảnh này, The Limited chỉ có thểtăng trưởng bằng cách thu hút thêm ngày càng nhiều khách hàng đến với những cửa hàng hiện tại của nó. Làm được như vậy, tình hình mới thay đổi. Khi biết The Limited mua lại Lerner và Lane Bryant, bạn có cảm giác sựtăng trưởng trở lại của công ty là cái gì đó đã thuộc về quá khứ rồi và công ty thực sự không biết
phải làm gì để cải thiện tình hình. Trong giai đoạn thứhai, nó đã đầu tư toàn bộ số vốn vào việc mở rộng quy mô hoạt động.
Ngay khi Wendy’s xuất hiện trên thịtrường cạnh tranh với hãng McDonald’s, cách duy nhất để nó tồn tại và phát triển là phải chiếm được sựưa chuộng từ những vị khách hiện tại của McDonald’s. Anheuser-Busch sẽđi đến đâu khi mà nó đã chiếm giữđến 40% thị phần bia?
Ngay cảEven Spuds MacKenzie cũng không thể thuyết phục được 100% người tiêu dùng uống bia Bud, và cả những người bạo dạn nhất cũng từ chối gọi bia Bud Light khi họđi nhậu. Chẳng sớm thì muộn, Anheuser-Busch cũng đi xuống, giá cổ phiếu và chỉ sốP/E cũng sẽ giảm.
Hoặc có lẽ Anheuser-Busch sẽnghĩ đến một chiến lược kinh doanh mới nhằm thúc đẩy tăng trưởng, đó cũng là giải pháp mà McDonald’s đã vận dụng. Một thập kỷtrước, các nhà đầu tư đã bắt đầu lo lắng vềtương lai của công ty này, liệu nó có thểduy trì được mức tăng trưởng không hay khảnăng mở rộng quy mô dường như khó có thể thành sự thật. Còn bây giờ, bạn đi đến đâu cũng bắt gặp những cửa hàng bán đồăn nhanh McDonald’s - thương hiệu
nhượng quyền nổi tiếng. Từ một công ty có tốc độtăng trưởng nhanh chóng với chỉ số P/E là 30, McDonald’s trở thành một công ty có tình hình kinh doanh rất ổn định, đáng tin cậy với mức P/E là 12. Mặc cho sự thiếu tự tin của các nhà đầu tư, thu nhập của công ty vẫn rất lớn. Công ty này đã có những cách rất sáng tạo:
Đầu tiên, họ mở nhiều nhà ăn nhanh phục vụ khách hàng tại chỗ, hiện nay số cửa hàng này chiếm đến 1/3 quy mô kinh doanh của công ty. Sau đó là cải tiến bữa sáng, và điều này đã đem lại doanh thu khá cao. Cụ thể, doanh thu của các nhà hàng bán đồăn sáng đã tăng trên 20% với chi phí rất thấp. Tiếp đến là các món salads, thịt gà - hai sản phẩm này không những làm doanh thu của công ty tăng mà còn giảm sự phụ thuộc của công ty vào thị trường thịt bò truyền thống. Mọi người đều cho rằng nếu giá thịt bò tăng thì McDonald’s sẽ cực kỳ khốn đốn - đó là họđang nói vềMcDonald’s của trước đây.
Khi mà doanh thu từ các cửa hàng nhượng quyền thương mại của McDonald’s không còn tăng nhanh như mong đợi nữa, công ty đã chứng tỏđược rằng mình vẫn có thể tiếp tục phát triển, không chỉở thịtrường trong nước. McDonald’s đã nhanh chóng vươn tới các thị trường nước ngoài. Chỉ vài chục năm sau, chúng ta đã bắt gặp những cửa hàng McDonald’s trên mỗi góc phố của Anh hay Đức. Mặc cho chỉ số P/E thấp hơn, McDonald’s vẫn không ngừng phát triển.
Nếu bạn đầu tư vào bất kỳ công ty nào thuộc lĩnh vực truyền hình cáp, bạn sẽ nhận thấy có hàng loạt sựtăng trưởng bất ngờ: đầu tiên là từ sốlượng thuê bao ở nông thôn, thứ hai là từ các dịch vụ trả tiền như HBO, Cinemax, Disney Channel, v.v... thứ ba, từ sốlượng thuê bao ở thành thị, thứtư từcác chương trình kiểu như Mạng lưới Bán hàng Gia đình (hãng truyền hình cáp giảm giá cho tất cả mặt hàng bán ra) và cuối cùng là từ sự xuất hiện của các chương trình quảng cáo trả tiền với tiềm năng sinh lợi khổng lồ. Tình hình kinh doanh ngày càng tiến triển.
Texas Air là một ví dụ cho tình trạng kinh doanh ếẩm, sau đó đắt khách trở lại, rồi lại ếẩm trong khoảng thời gian năm năm. Tôi có mua một lượng cổ phiếu nho nhỏ của công ty này
vào giữa năm 1983, chỉđể chứng kiến lượng tài sản chính của công ty này, Continental Air, giảm giá trị. Cổ phiếu của Texas sụt giá từ12 đô la xuống còn 4 đô la/cổ phiếu, còn cổ phiếu của Continental (Texas Air nắm giữ một lượng lớn) cũng giảm xuống mức 3 đô la. Tôi theo dõi chăm chú tình huống này, hy vọng sẽcó bước đột phá nào đó xảy ra. Texas Air cắt giảm chi phí, Continental lấy lại được khách hàng và thoát khỏi tình trạng ảm đạm. Với đà tăng trưởng này, tôi đã mua một lượng khá lớn cổ phiếu của cảhai công ty này. Đến năm 1986, giá cổ phiếu đã tăng cao gấp ba lần. Bạn biết rồi đấy, tôi lại lãi to!
Vào tháng 2/1986, Texas Air thông báo nó đã mua được một lượng lớn cổ phiếu của
Eastern Airlines - đây được coi là thành công đáng mừng. Chỉ trong vòng một năm, cổ phiếu của Texas lại tăng hơn ba lần, lên 51 đô la, biến nó trở thành một công ty tiếng tăm.
Thật không may, lúc đó tôi lại quá chủ quan trước triển vọng của công ty này, và bởi vì năng lực kinh doanh tiềm ẩn của Eastern và Texas Air quá tuyệt vời, nên tôi đã không chú ý tới những điều sắp xảy ra. Khi Texas Air mua lại số cổ phiếu còn lại của Continental, tôi đã buộc phải bán tống bán tháo một nửa số cổ phiếu Continental và một số trái phiếu có thể chuyển đổi ra cổ phiếu Continental đi. Đó quả là một phen hú vía, và tôi chỉ lãi có chút xíu thôi.
Nhưng thay vì bán số cổ phiếu của Texas Air đi và cao chạy xa bay, tôi lại mua nhiều cổ phiếu hơn với giá 48 đô la vào khoảng tháng 2/1987. Dù biết bảng cân đối tài sản của Texas Air có vấn đề (tổng số nợ từ những hãng hàng không khác còn lớn hơn tổng số nợ của một vài nước đang phát triển cộng lại), và biết được các hãng hàng không có chu kỳ kinh doanh rất thất thường, tại sao tôi lại mua vào mà không bán ra? Có lẽtôi đã bị giá cổ phiếu cao làm cho mờ mắt rồi.
Một ví dụ khác về câu chuyện kinh doanh của Texas: Texas đã làm lợi rất nhiều từ việc nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm mạnh chi phí nhân công. Bên cạnh khoản lãi đang hưởng từ Eastern, nó vừa mới mua lại Frontier Air và People’s Express và lên kế hoạch chấn chỉnh lại chúng giống những gì nó đã làm với Continental. Ý tưởng thì rất tuyệt: mua lại những hãng hàng không đang suy sụp, cắt giảm chi phí, và rồi tiền sẽ tự nhiên chảy vào túi.
Chuyện gì đã xảy ra? Giống như Like Don Quixote, tôi lại say sưa với viễn cảnh đầy hứa hẹn đó mà không nhận ra là mình đang cưỡi trên một con ngựa non. Tôi chú trọng vào khoản lợi nhuận 15 đô la/cổ phiếu theo dựđoán của Texas Air trong năm 1988 mà lờđi những dấu hiệu cảnh báo xuất hiện hàng ngày trên các tờ báo: tài sản bị thất thoát, lịch trình các chuyến bay bịđảo lộn, rất nhiều chuyến bị hoãn, và sự bức xúc của nhân viên ở Eastern.
Đặc thù của một hãng hàng không là một doanh nghiệp có tình hình kinh doanh khá bấp bênh, giống như một nhà hàng vậy. Một vài đêm phục vụkhông chu đáo có thể huỷ hoại danh tiếng mà nhà hàng đó đã dày công xây dựng trong suốt 50 năm. Thật tai hại là cả hai hãng Eastern và Continental đã vấp phải sai lầm này nhiều lần. Và rất nhiều bộ phận hoạt động không ăn khớp với nhau. Những lời than phiền, càu nhàu từ phía Eastern là dấu hiệu của sự rạn nứt sâu sắc giữa ban giám đốc và công đoàn về vấn đềlương bổng và chếđộ trợ cấp. Công đoàn phản ứng rất quyết liệt và muốn đạt được mục đích đến cùng.
Lợi nhuận của Texas Air bắt đầu giảm xuống vào đầu năm 1987. Ý tưởng là cắt giảm 400 triệu đô la trong chi phí hoạt động của Eastern, nhưng đáng lẽ tôi nên nhắc nhở bản thân là
điều đó chắc chắn sẽ không bao giờ xảy ra, và rằng có rất nhiều điều chắc chắn không bao giờ xuất hiện. Các hợp đồng lao động hiện tại của hãng vẫn chưa hết hiệu lực trong một vài tháng nữa, và trong khi đó, cả hai bên - ban giám đốc và công đoàn - vẫn đang xung đột với nhau. Cuối cùng, tôi cũng bắt đầu bán số cổ phiếu với giá 17 - 18 đô la. Đến cuối năm 1987, giá đã giảm xuống còn 9 đô la.
Tôi không chỉ mắc sai lầm khi mua thêm cổ phiếu của Texas Air hồi mùa hè năm 1987, khi Eastern xảy ra chuyện và vẫn cố tin là công ty này vẫn tiếp tục kinh doanh tốt vào năm 1988, lẽra tôi cũng nên tận dụng những nguồn thông tin cơ sởđể chuyển hướng đầu tư sang Delta Airlines. Delta là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Eastern, đồng thời khi Eastern gặp phải hàng loạt những rắc rối trong hoạt động tổ chức và thu hẹp quy mô như trên, nó cũng là người hưởng lợi nhiều nhất. Tôi chỉ có một ít cổ phiếu của Delta, nhưng đó lại là những cổ phiếu có giá trị nhất trong danh sách của tôi. Giá cổ phiếu của công ty tăng từ 48 đô la lên 60 đô la trong suốt mùa hè năm 1987. Tháng 10 năm đó, nó giảm xuống còn 35 đô la/cổ phiếu và chỉlên đến mức 37 đô la vào thời điểm cuối năm. Đến giữa năm 1988, cổ phiếu này lại tăng mạnh mẽ trở lại, đạt mức 55 đô la. Hàng nghìn người sử dụng dịch vụ của Eastern và Delta cũng sẽ nhận ra điều đó, cũng giống như tôi.