Tìm về với thiên nhiên là một hiện tượng tích cực, hữu ích. Việc có những biện pháp để ủng hộ, mở rộng, gia tăng xu hướng này sẽ giúp cho chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao.
d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.
0,25
e. Sáng tạo: Bài viết có giọng điệu riêng; cách diễn đạt sáng tạo, văn phong trôi chảy.
0,5
Tổng điểm 10.0
ĐỀ 4 I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
(…)
(1) Người ta nhớ nhà, nhớ cửa, nhớ những nét mặt thương yêu, nhớ những con đường đã đi về năm trước, nhớ người bạn chiếu chăn dắt tay nhau đi trên những con đường vắng vẻ ngào ngạt mùi hoa xoan còn thơm ngát hơn cả hoa cau, hoa bưởi. Người ta nhớ heo may giếng vàng; người ta nhớ cá mè, rau rút; người ta nhớ trăng bạc, chén vàng.
Nhớ quá, bất cứ cái gì của Hà Nội cũng nhớ, bất cứ cái gì của Bắc Việt cũng nhớ, nhớ từ cánh đồng lúa con gái mơn mởn nhớ đi, nhớ từ tiếng hát của người mẹ ru con buổi trưa hè mà nhớ lại; nhớ hoa sấu rụng đầu đường Hàng Trống, nhớ quả bàng ở Hải Hậu rụng xuống bờ sông Đào, nhớ sen Linh Đường thơm ngào ngạt của bầu trời nhớ lên, nhớ nhãn Hưng Yên, vải Vụ Bản, cá anh vũ Việt Trì, na Láng, bưởi Vạn Phúc, cam Bố Hạ, đào Sa Pa mà nhớ xuống.
Nhớ không biết bao nhiêu, nhớ bát canh rau sắng chùa Hương, nhớ khóm tiễn xuân la trồng ở bên giậu trúc; nhớ mưa bụi, vợ chồng nửa đêm thức giấc đi uống một ly rượu ấm ở cao lâu, nhớ những buổi trưa hè có ve sầu kêu rền rền, nhớ luôn cả những cô gái Thổ cưỡi ngựa thổ đi trong rừng có những cánh hoa đào rơi lả tả nơi vai áo...
Càng nhớ như vậy thì càng yêu Hà Nội biết bao nhiêu, lại càng say đắm Bắc Việt biết bao nhiêu!
(2) Hà Nội! Bắc Việt của một ngày xa xưa ơi! Bây giờ liễu ở Hồ Gươm có còn xanh mươn mướt như hồi ta bước ra đi? Những trồi sơn trúc, thạch nương ở Nghi Tàm có còn chưa phong quanh như cũ? Núi Nùng ra sao? Hồ Tây thế nào? Con đường Bách Thảo thơm nức mùi lan tây, hàng đêm, ta vẫn cùng đi với người vợ bé nhỏ, bồng con ở trên tay để đến thăm người bạn sống cô chích ở trong vườn "Bình Bịp" bây giờ ra thế nào? Trên con đường Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai các đồn điền cam quýt ở hai bên bờ sông Thao vẫn còn tốt tươi như cũ và các cô gái ngăm ngăm da dâu có còn nắm lấy tay các du khách mà ví von ca hát không cho về? Ở trước cửa chợ Đồng Xuân, có còn chăng những hàng nước chè tươi; ở chợ Hôm, những hàng phở gánh bán cho khách ăn đêm; và ở trên khắp nẻo đường, những người đội thúng, cầm một chiếc đèn dầu ở tay, lặng lẽ đi trong đêm rao "giò, dầy"?
(3) Nhớ không biết chừng nào là nhớ, nhớ sao nhớ quá thế này! Thì ra cái người nhớ Hà Nội, nhớ Bắc Việt cũng như thể chàng trai nhớ gái; bất cứ thấy ai cũng tưởng ngay đến người thương của mình và đem ra so sánh thì bao nhiêu người đẹp ở trước mắt đều kém người thương mình hết. (…)
(Trích Thương nhớ mười hai, Vũ Bằng, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Các phương thức biểu đạt chủ yếu của văn bản trên là? (0,5 điểm) A. Biểu cảm và thuyết minh
B. Thuyết minh và nghị luận C. Tự sự và nghị luận
D. Tự sự và biểu cảm
Câu 2. Văn bản trên viết về vùng đất nào? (0,5 điểm) A. Hà Nội
B. Bắc Việt C. Hồ Gươm D. Cả A và B
Câu 3. Biện pháp tu từ nào sau đây được sử dụng phổ biến trong đoạn (1) (0,5 điểm)
A. Nhân hóa B. Ẩn dụ C. Liệt kê D. Hoán dụ
Câu 4. Biện pháp tu từ nào sau đây được sử dụng phổ biến trong đoạn (2) (0,5 điểm)
A. Nhân hóa B. Câu hỏi tu từ C. Ẩn dụ
D. Hoán dụ
Câu 5. Cảm xúc chủ đạo của văn bản trên là: (0,5 điểm) A. Nỗi nhớ
B. Nỗi buồn C. Nỗi thất vọng D. Nỗi day dứt
Câu 6. Phát biểu nào sau đây nói lên nội dung khái quát của văn bản?
(0,5 điểm)
A. Nỗi nhớ da diết đối với Hà Nội nói riêng và Bắc Việt nói chung B. Nỗi nhớ da diết về một thời đã qua đi không trở lại
C. Ước mong cháy bỏng được trở về thăm lại cảnh cũ, người xưa D. Nỗi buồn vì những vẻ đẹp của Hà Nội xưa nay đã không còn nữa
Câu 7. Cái tôi của tác giả được thể hiện như thế nào qua văn bản? (0,5 điểm)
A. Cái tôi tài hoa B. Cái tôi uyên bác C. Cái tôi trữ tình D. Cả A và C
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Bạn rút ra được thông điệp gì sau khi đọc văn bản trên? (0,5 điểm) Câu 9. Nêu chủ đề của văn bản? (1,0 điểm)
Câu 10. Từ nội dung văn bản, bạn có suy nghĩ gì về vai trò của quê hương đối với mỗi con người? (Viết khoảng 5 – 7 dòng)
II. LÀM VĂN (4,0 điểm)
Bạn hãy viết bài thuyết minh về lòng yêu nước của con người Việt Nam (có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như: miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận).
ĐÁP ÁN ĐỀ 4 Phầ
n
Câ u
Nội dung Điểm
I ĐỌC HIỂU 6,0
1 D 0.5
2 D 0.5
3 C 0.5
4 B 0.5
5 A 0.5
6 A 0.5
7 D 0.5
8 Học sinh được tự do rút ra thông điệp, miễn là tích cực và liên quan đến nội dung văn bản ở phần Đọc hiểu. Tham khảo:
- Hãy yêu thương mảnh đất mà mình từng gắn bó
- Hãy biết phát hiện và trân trọng những vẻ đẹp của quê hương, đất nước
0.5
9 Chủ đề của văn bản: Văn bản là nỗi nhớ da diết của người đi xa nhớ về Hà Nội, nhớ về Bắc Việt. Qua đó ta thấy được vẻ đẹp của Hà Nội nói riêng và Bắc Việt nói chung, đồng thời cũng thấy được tấm lòng yêu thương, gắn bó sâu nặng mà tác giả dành cho những miền đất ấy.
1.0
10 Suy nghĩ về vai trò của quê hương đối với mỗi con người:
- Quê hương là nơi ta được sinh ra và lớn lên, gắn với tuổi thơ ấu tươi đẹp
- Quê hương là nơi cho ta những giá trị văn hóa, cho ta tình yêu thương của gia đình, bạn bè, lối xóm, giúp hình thành nhân cách và tâm hồn của ta sau này
- Quê hương là nơi mà ta có thể trở về để tìm lại sự cân bằng cho cuộc sống
v.v…
1.0
II VIẾT 4,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn thuyết minh về một đối tượng 0,25
Thuyết minh về lòng yêu nước của con người Việt Nam (có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như: miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận).
c. Triển khai vấn đề:
I. MỞ BÀI
- Giới thiệu đối tượng thuyết minh: yêu nước là một phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam.
- Nêu quy trình thuyết minh: Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng đi vào tìm hiểu và lí giải nguồn gốc của phẩm chất cao đẹp này.
II. THÂN BÀI
1. Giải thích: Yêu nước là gắn bó với con người, với quê hương, với đất nước Việt Nam; sẵn sàng cống hiến, hy sinh để xây dựng và bảo vệ đất nước.
2. Nêu biểu hiện: Tình yêu nước được thể hiện một cách đa dạng:
- Yêu con người Việt Nam
- Yêu những giá trị văn hóa Việt Nam - Yêu vẻ đẹp của non sông, đất nước
- Bảo vệ và xây dựng hình ảnh tốt đẹp về đất nước trong mắt bạn bè quốc tế
- Cống hiến, hy sinh để xây dựng, bảo vệ đất nước v.v…
3. Nguồn gốc:
Tình yêu nước được hun đúc nên từ nhiều nguồn cội khác nhau:
- Nó được hình thành trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài
- Nó là sự kế thừa truyền thống tốt đẹp của cha ông
- Đó cũng là tình cảm tự nhiên của mỗi con người đối với nơi mình sinh ra và lớn lên, đối với cộng đồng cùng ngôn ngữ, cùng văn hóa
III. KẾT BÀI
- Đánh giá phẩm chất: Yêu nước là một phẩm chất quý giá, làm nên vẻ đẹp của con người Việt Nam
- Nêu suy nghĩ của bản thân: Mỗi chúng ta cần kế thừa và phát huy phẩm chất tốt đẹp đó.
2.5
d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.
0,25 e. Sáng tạo: Bài viết có giọng điệu riêng; cách diễn đạt 0,5
sáng tạo, văn phong trôi chảy.
Tổng điểm 10.0
ĐỀ 5 I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
(…)
(1) Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm , Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về. Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng sông Đà là đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào bản đồ lai chữ.
(2) Con Sông Đà gợi cảm. Đối với mỗi người, sông Đà lại gợi một cách. Đã có lần tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân. Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng. Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà. Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy. Tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”. Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà. Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy”. (…)
(Trích Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, tr.190-191) Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Đoạn trích trên sử dụng điểm nhìn trần thuật ở ngôi thứ mấy? (0,5 điểm)
A. Ngôi thứ nhất B. Ngôi thứ hai C. Ngôi thứ ba D. Cả A và C
Câu 2. Các phương thức biểu đạt chủ yếu của văn bản trên là? (0,5 điểm) A. Biểu cảm và thuyết minh
B. Thuyết minh và nghị luận C. Tự sự và nghị luận
D. Tự sự và biểu cảm
Câu 3. Những đặc điểm nào của con sông Đà được tác giả nói tới trong đoạn (1) (0,5 điểm)
A. Màu sắc và độ sâu B. Màu sắc và độ dài C. Độ dài và ghềnh thác D. Màu sắc và độ rộng
Câu 4. Các biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu văn: “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình”?
A. So sánh và liệt kê B. So sánh và nhân hóa C. So sánh và ẩn dụ D. So sánh và điệp
Câu 5. Phát biểu nào sau đây nói về vẻ đẹp của con sông Đà trong đoạn trích? (0,5 điểm)
A. Vẻ đẹp độc đáo và gợi cảm B. Vẻ đẹp hùng vĩ và dữ dội
C. Vẻ đẹp hoang sơ và thanh bình D. Vẻ đẹp rực rỡ và trong sáng
Câu 6. Tác giả thể hiện tình cảm gì khi gặp lại con sông Đà ở đoạn (2) (0,5 điểm)
A. Nhớ nhung B. Vui mừng C. Ngưỡng mộ D. Buồn bã
Câu 7. Cái tôi của tác giả được thể hiện như thế nào qua đoạn trích? (0,5 điểm)
A. Cái tôi tài hoa B. Cái tôi đa cảm C. Cái tôi trữ tình D. Cả A và C
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Bạn rút ra được thông điệp gì cho bản thân sau khi đọc đoạn trích trên? (0,5 điểm)
Câu 9. Nêu chủ đề của đoạn trích? (1,0 điểm)
Câu 10. Chọn phân tích một vẻ đẹp của con sông Đà ở trong đoạn trích mà bạn tâm đắc nhất? (Viết khoảng 5 – 7 dòng)
II. LÀM VĂN (4,0 điểm)
Bạn hãy viết bài văn thuyết minh về hiện tượng nghiện facebook của giới trẻ hiện nay. (có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như: miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận).
ĐÁP ÁN ĐỀ 5 Phầ
n
Câ u
Nội dung Điểm
I ĐỌC HIỂU 6,0
1 A 0.5
2 D 0.5
3 B 0.5
4 D 0.5
5 A 0.5
6 B 0.5
7 D 0.5
8 Học sinh được tự do rút ra thông điệp, miễn là tích cực và có liên quan đến nội dung của văn bản. Tham khảo: Phải biết cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của đất nước.
0.5
9 Chủ đề của đoạn trích: qua việc miêu tả con sông Đà từ trên cao nhìn xuống và từ trong rừng đi ra, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp độc đáo và gợi cảm của con sông Đà, qua đó thể hiện sự quan sát tinh tế, sự hiểu biết sâu sắc của tác giả về con sông, đồng thời cũng bộc lộ tình yêu của mình đối với con sông Đà nói riêng và đất nước nói chung.
1.0
10 Học sinh tự do lựa chọn phân tích một vẻ đẹp của con sông Đà mà bản thân tâm đắc. Tham khảo:
Phân tích vẻ đẹp của màu nước sông Đà:
Màu sắc dòng nước của sông Đà biến đổi theo mùa: Mùa xuân, dòng nước sông đà xanh màu ngọc bích. Phép so sánh ấy cho ta hình dung về sắc nước trong trẻo. Sắc nước ấy có được là do sông Đà đã chảy qua những vùng núi đá cheo leo nơi thượng nguồn tây bắc. Một màu xanh đặc trưng của sông Đà, khác hẳn với cái màu xanh lờ đờ mờ đục như màu canh hến của sông Gâm, sông Lô. Vào mùa thu, dòng nước sông Đà lại “lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về””. Màu chín đỏ ấy là hệ quả của những trận mưa lũ đầu nguồn cuốn phăng đất đá. Cái màu đỏ lừ lừ ấy còn hé lộ cho ta thấy ẩn chứa bên trong dòng chảy êm ả vùng hạ lưu ấy vẫn tiềm ẩn những sức mạnh ghê gớm của một con sông trái chứng trái nết, thoắt hiền lành đấy rồi bỗng chốc lại có thể gắt gỏng thác lũ ngay đấy.
1.0
II VIẾT 4,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn thuyết minh về một hiện tượng xã hội đương đại
0,25 b. Xác định đúng vấn đề cần thuyết minh
Thuyết minh về hiện tượng nghiện facebook của giới trẻ
0,5
hiện nay. (có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như: miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận).
c. Triển khai vấn đề:
I. MỞ BÀI
- Giới thiệu hiện tượng thuyết minh: hiện tượng nghiện facebook của giới trẻ hiện nay.
- Nêu rõ thực trạng của hiện tượng: trong xã hội công nghệ ngày nay, số người trẻ tuổi nghiện facebook là rất nhiều, đây là một hiện tượng xã hội đáng quan tâm.
II. THÂN BÀI
1. Giải thích hiện tượng:
Nghiện facebook là việc một người bị cuốn hút vào mạng xã hội facebook, dẫn đến không thể dứt bỏ, và ngày càng dành nhiều thời gian lên face để lướt xem hoặc đăng bài.
2. Nguyên nhân của hiện tượng:
Hiện tượng nghiện facebook ở giới trẻ xuất phát từ nhiều nguyên nhân:
- Do sự đa dạng và hấp dẫn của các thông tin từ facebook - Do thói quen thích sống ảo, thích thể hiện để nhận được cảm xúc và sự tương tác của mọi người
- Do lười biếng trong học tập, muốn tìm đến những thú vui dễ dãi
- Do ý thức của bản thân, chưa biết sử dụng facebook một cách hợp lí để phục vụ cho mục đích học tập
3. Tác hại của hiện tượng:
- Lãng phí thời gian - Sa sút trong học tập
- Gây ra những cảm xúc tiêu cực
- Có thể dẫn đến các mâu thuẫn, thậm chí là dẫn đến gây gổ, đánh nhau ở ngoài đời thực
4. Giải pháp khắc phục hiện tượng:
- Nâng cao ý thức về việc sử dụng facebook hợp lí
- Lên thời gian biểu phù hợp, chỉ dùng facebook vào một khoảng thời gian nhất định.
- Tập trung thời gian cho học tập và những thú giải trí lành mạnh.
III. KẾT BÀI
Nêu ý nghĩa của việc phản đối hay ủng hộ hiện tượng:
Facebook không hẳn là xấu, nhưng nghiện facebook là một điều có hại, gây ảnh hưởng đến học tập và sức khỏe.
2.5
Nếu khắc phục, ngăn chặn được thói quen này, giới trẻ sẽ tránh được nhiều hậu quả tai hại, và tương lai của giới trẻ sẽ tươi sáng hơn.
d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.
0,25 e. Sáng tạo: Bài viết có giọng điệu riêng; cách diễn đạt
sáng tạo, văn phong trôi chảy.
0,5
Tổng điểm 10.0
THỂ LOẠI BI KỊCH ĐỀ 1
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:
(…)
VŨ NHƯ TÔ - Cảnh ngộ chúng tôi có khác chi cảnh ngộ bà? Có phần khổ nhục hơn nữa. Chế độ thì nghiệt ngã vô lý: nhà không cho làm cao, áo không cho mặc đẹp. Ai xây một kiểu nhà mới khả quan, thì lập tức kết vào tội lộng hành đem chém. Thành thử không ai dám vượt ra khuôn sáo nghìn xưa, nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù. Người có tài không được thi thố đành phải tiến về mặt tiểu xảo. Mà nói ngay đến những bọn này nào họ có được yên thân. Họ phải lẩn lút, giấu giếm. Vô phúc mà triều đình biết, thế là gia đình tan nát. Họ bị đóng cũi giải kinh, để làm những công việc nhà vua, thân giam trong nội như một tên trọng phạm, mãi đến khi mắt mờ, tay chậm, họ mới được thải hồi nguyên quán. Triều đình còn không ban cho họ một chút bổng nhờ để mưu sống buổi tàn niên. Cách đối đãi như thế, thì nhân tài nhiều sao được, mà ai chịu luyện tập cho thành tài? Thậm chí người ta nói kẻ có tài đã không giúp cho gia đình, còn là một cái vạ nữa.
ĐAN THIỀM - Thảo nào mà nước ta không có lấy một lâu đài nào ra hồn, khả dĩ sánh với những lâu đài Trung Quốc. Ngay cả Chiêm Thành cũng hơn ta nhiều lắm...
VŨ NHƯ TÔ - Tôi bẩm sinh có khiếu về kiến trúc. Tôi đã học văn, sau bỏ văn tập nghề, nhưng tập thì tập, vẫn lo nơm nớp, chỉ sợ triều đình biết, thì vợ con ở nhà nheo nhóc, mà mình cũng không biết bao giờ được tháo cũi xổ lồng. Vua Hồng Thuận ngày nay càng khinh rẻ chúng tôi, cách đối đãi lại bạc ác. Chẳng qua là cái nợ tài hoa, chứ thực ra theo nghề ở ta lợi chẳng có mà nhục thì nhiều.
ĐAN THIỀM - Chính vì thế mà ông càng đáng trọng.
VŨ NHƯ TÔ - Trọng để làm gì? Tìm danh vọng chúng tôi đã chẳng chọn nghề này. Đời lẩn lút...
ĐAN THIỀM - Vậy thì các ông luyện nghề làm gì, luyện mà không đem ra thi thố?
VŨ NHƯ TÔ - Đó là nỗi khổ tâm của chúng tôi. Biết đa mang là khổ nhục mà không sao bỏ được. Như bóng theo hình. Chúng tôi vẫn chờ dịp.
ĐAN THIỀM - Dịp đấy chứ đâu? Cửu Trùng Đài...
[…]
VŨ NHƯ TÔ - Xây Cửu Trùng Đài cho một tên bạo chúa, một tên thoán nghịch, cho một lũ gái dâm ô? Tôi không thể đem tài ra làm một việc ô uế, muôn năm làm bia miệng cho người đời được.
ĐAN THIỀM - Ông biết một mà không biết hai. Ông có tài, tài ấy phải đem