BÀI TẬP TÂM LÝ HỌC HÌNH THÀNH NĂNG LỰC SƯ PHẠM
22. Hãy đọc và suy ngẫm những lời tâm sự sau đây của các giáo viên
Mường Khương là nơi có địa hình đi lại hiểm trở. Với địa chất đặc thù núi đá nhiều hơn đất nên tình trạng thiếu nước trầm trọng đã diễn ra nhiều năm nay (nhất là ở 4 xã: Tả Gia Khâu, Dìn Chin, Tả Ngải Chồ, Pha Trong), khiến nơi đây được ví như “sa mạc trên đỉnh núi”. Để sinh sống và dạy học trên miền đất khát, hàng trăm thầy cô giáo đang hàng ngày phải khắc phục và vượt lên mọi điều kiện sinh hoạt khó khăn như dùng nước mưa để sinh hoạt, nấu ăn; thậm chí khi không có mưa còn phải hứng cả nước sương. Vào những ngày cuối tuần khi trở về gia đình dưới xuôi, các thầy cô lại mang quần áo, chăm màn về giặt. Chiều chủ nhật quay trở về trường dạy học, hành trang của họ là những bộ quần áo đã phơi giặt thơm tho mặc trong cả tuần và sau xe không quên chở theo một hai can nước sạch để ăn uống.
Đặt câu hỏi với nhiều giáo viên trên Mường Khương: “Quanh năm ăn uống, sinh hoạt bằng nước mưa, nước khe suối... có ảnh hưởng tới sức khỏe không?” Các thầy cô như quên đi nỗi nhọc nhằn mà vui vẻ trả lời: “Có đủ nước sinh hoạt là chúng tôi mừng rồi. Ảnh hưởng thì chắc có, nhưng các thầy cô và người dân nơi đây bao năm đều sống như vậy. Điều chúng tôi ngại nhất là tình trạng thiếu nước khiến học sinh đôi khi phải bỏ học để xếp hàng lấy nước, gùi nước sinh hoạt cho gia đình... việc học hành vì thế cũng bị ảnh hưởng”.
(Trích theo Giáo dục và Thời đại, ngày 09/12/2013) b. Dạy trẻ khuyết tật bằng cả trái tim
Theo dõi một buổi học của cô giáo Hoàng Thị Vân tại Trung tâm Phục hồi chức năng và Giáo dục hòa nhập (TT PHCN&GDHN) trẻ khuyết tật (TKT) tỉnh Cao Bằng, chúng tôi thực sự xúc động và cảm phục các thầy cô dạy TKT. Lớp học có 7 học sinh, đều là trẻ chậm phát triển trí tuệ hoặc khó khăn về nghe nên cô Vân phải giảng bài rất chậm, rất cụ thể, nói to, rõ ràng và giảng bằng cả ngôn ngữ ký hiệu.
Cô chia sẻ: Đôi khi kết thúc mỗi giờ dạy, cô khàn tiếng, không nói được. Nhiều người cho rằng dạy trẻ câm, điếc không cần phải nói làm sao mà đau cổ được.
175
Nhưng thực ra, trong khi dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ, đặc biệt là trẻ khiếm thính, lại là người dân tộc thiểu số (Tày, Nùng, Mông, Dao…), chưa biết nói tiếng Kinh, cô giáo luôn phải nói to để các em nghe, nói theo và phát triển ngôn ngữ.
Cô giáo trẻ Lê Thị Oanh, từng là một y sĩ phục hồi chức năng tại bệnh viện, mỗi lần nhìn những đôi tay, đôi chân bé xíu thực hiện các bài tập vận động khớp ban đầu đau đớn là cô không khỏi nhói lòng. Cô tâm sự, cô ít khi nằm mơ về con mình mà nhiều đêm chỉ mơ thấy học sinh đi được, đứng được.
Khó có thể nói hết những khó khăn, vất vả của các thầy cô giáo dạy TKT. Ngày 20/11, họ không nhận được nhiều hoa như các giáo viên dạy trẻ bình thường.
Nhưng họ có những món quà khác, đó có thể là một tiếng gọi “Cô ơi, thầy ơi”
ngọng nghịu, khó nhọc; là bước đi lẫm chẫm trên đôi chân không khỏe mạnh; là một bài hát bằng cử chỉ thay vì âm thanh, hay chỉ là giọt nước mắt hạnh phúc của các bậc phụ huynh khi thấy con mình tiến bộ từng ngày. Đó chính là động lực để họ tiếp tục gắn bó với sự nghiệp “trồng người” thiêng liêng.
(Trích theo Báo Cao Bằng, ngày 29/11/2013) c. Tâm sự của một cô giáo trẻ tâm huyết với ngôi trường vùng cao
Cô giáo Trần Lệ Quyên, 29 tuổi, hiện là Quyền Hiệu trưởng Trường THCS Bản Giang, thuộc xã Bản Giang, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu kể lại kỷ niệm: “Đó là học 2006 - 2007, tôi được phân công dạy và chủ nhiệm lớp 9. Học sinh hầu hết đã 16, 17 tuổi, có em đã 20 tuổi, chỉ kém cô giáo 4 tuổi. Sang học kì hai, một em học sinh nghỉ học ở nhà lấy vợ. Tôi cùng học sinh trong lớp vào nhà vận động em đến trường. Bốn lần vào đều không gặp. Một hôm, tranh thủ không có giờ, tôi vào từ sớm, đợi đến tận trưa thì cũng gặp được. Sau một tiếng đồng hồ nói chuyện, thuyết phục, cuối cùng em ấy đồng ý mai sẽ đi học. Nhưng ba ngày sau vẫn không thấy học sinh đâu cả, tôi lại vào nhà lần nữa. Bố mẹ bảo em không chịu đi học vì xấu hổ với bạn, với cô giáo. Tôi lại ngồi giải thích động viên gia đình. Đợi mãi đến chiều muộn vẫn không thấy học sinh nên tôi đành chào ra về. Trời sắp tối nên tôi phải đánh liều dắt xe qua cầu treo. Đi gần hết cầu thì một nan cầu đột nhiên bị gãy, thế là tôi bị trượt chân, người bị xe đè lên, một chân thụt xuống dưới gầm cầu không cựa quậy được. Đang chưa biết làm thế nào thì thấy từ xa cậu học sinh của
176
mình đang hốt hoảng chạy tới. Em kéo xe ra rồi đỡ cho tôi đứng dậy. Em rối rít xin lỗi tôi và hứa mai sẽ đi học, cô giáo không phải vất vả vào nhà em nữa. Và em đã tốt nghiệp lớp 9 năm đó.”
Cô chia sẻ, nhiều thầy cô vì cuộc sống quá khó khăn đã không thể trụ nổi ở nơi đây và phải xin chuyển công tác. Thực lòng cô chỉ mong sao thầy cô sẽ luôn cố gắng, yêu thương, gắn bó với các em học sinh, với trường học.
(Trích theo Dân trí, ngày 07/4/2012) d. Giảng viên trẻ gồng mình gánh nỗi lo cơm áo
Ở lại trường làm giảng viên là mơ ước của rất nhiều người. Nhưng khi bắt đầu bước vào cuộc sống giảng viên, hàng loạt khó khăn trải ra trước mắt họ: thu nhập thấp, phải lo chuyện cơm áo gạo tiền...
“So với bạn bè cùng trang lứa đi làm các công ty ở ngoài, mức lương của mình đúng là quá thấp, và nhiều khi không muốn nhắc tới khi bạn bè hỏi thăm”, thầy Trần H. P, giảng viên Học viện Hành chính quốc gia TPHCM, tâm sự.
Thầy Nguyễn N.H - Giảng viên ĐH Giao thông Vận tải cho biết: “Mình mới về trường, thời gian một năm đầu còn hợp đồng 5 tháng và làm trợ giảng chưa được lên lớp dạy”. Tổng thu nhập của thầy H gồm cả lương, thưởng, phụ cấp là gần 1,3 triệu đồng. Với số tiền ấy, thầy phải chi các khoản phí từ tiền ăn, ở đến các chi phí sinh hoạt khác mà vẫn không đủ, đó là chưa kể tiền nhà (vì hiện tại, thầy vẫn H đang ở nhờ nhà người quen). “Còn những đồng nghiệp trẻ khác, không biết họ sẽ sống thế nào với mức phí ấy”, thầy băn khoăn.
Để khắc phục, hầu hết các giảng viên trẻ một mặt vừa học tập, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, mặt khác vẫn phải đi làm gia sư, dạy thêm, luyện thi, làm thêm bán thời gian cho các công ty bên ngoài phù hợp với chuyên môn của họ…dù biết điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến thời gian và chất lượng học tập.
Câu hỏi
1. Từ những lời chia sẻ chân thực của các thầy cô giáo nói trên, em hãy chỉ ra những thách thức mà người giáo viên có thể gặp phải trong nghề dạy học?
2. Theo em, để đón nhận, đương đầu và giải quyết những thách thức đó, người giáo viên cần phải làm gì?
177 Gợi ý hướng giải quyết
Câu 1: Những tình huống trên mới chỉ đề cập được một số thách thức cụ thể đối với nghề dạy học. Thực tế, nghề dạy học còn có thể có rất nhiều thách thức, khó khăn khác nữa, đặc biệt với những giáo viên trẻ mới vào nghề. Chẳng hạn:
* Khó khăn khách quan:
- Khó khăn đến từ phía người học: học sinh có vấn đề về sự phát triển trí tuệ, nhân cách (năng lực, tính cách, khí chất…), điều kiện, hoàn cảnh sống khó khăn…
- Khó khăn đến từ phía gia đình người học: bố mẹ thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục con cái, đùn đẩy trách nhiệm cho nhà trường, thiếu hợp tác với giáo viên và nhà trường trong quá trình giáo dục trẻ.
- Khó khăn trong quan hệ với đồng nghiệp: bất đồng quan điểm về chuyên môn, cách làm việc; sự thiếu bình đẳng, thiếu tinh thần hợp tác, thiện chí trong công việc; mâu thuẫn cá nhân.
- Khó khăn đến từ điều kiện sống và làm việc: xã hội ngày càng đặt ra yêu cầu cao đối với người thầy (cả về trình độ và nhân cách), lương thấp, chế độ đãi ngộ hạn chế, phương tiện đi lại khó khăn, phương tiện dạy học thiếu thốn, điều kiện sống không đảm bảo (nhất là với giáo viên vùng sâu, vùng xa).
* Khó khăn chủ quan (nhất là với giáo viên trẻ):
- Vốn kinh nghiệm, hiểu biết còn hạn chế, chưa đáp ứng kịp yêu cầu xã hội.
- Tâm lý cầu toàn, sự hình dung quá lý tưởng/ hoặc sự kỳ vọng quá lớn về nghề nghiệp (tiền lương, chế độ đãi ngộ, tính chất công việc, học trò, danh tiếng, địa vị, mối quan hệ với đồng nghiệp, mối quan hệ với học sinh…).
- Chưa có kỹ năng chuẩn bị tâm thế phù hợp để bắt đầu công việc tích cực ngay từ đầu.
- Ngoài ra, còn có những khó khăn riêng tùy theo hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống của cá nhân mỗi thầy cô.
Câu 2. Để thích ứng với công việc và cuộc sống, người giáo viên nên:
- Xác định động cơ chọn nghề đúng đắn.
- Nhận thức rõ về công việc, đối tượng mà mình sẽ làm việc cùng trong tương lai (thông qua việc tìm hiểu thông tin; trao đổi, học hỏi kinh nghiệm của người
178
khác; hoặc có một số trải nghiệm thực tế ban đầu ngay từ khi còn đang học đại học, cao đẳng).
- Xây dựng hình ảnh lý tưởng (về cuộc sống cá nhân và nghề nghiệp) một cách phù hợp (hài hòa, cân đối giữa tính lãng mạn và tính hiện thực);
- Ý thức:
+ Tự đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân một cách khách quan, phù hợp;
+ Có khả năng tự bồi dưỡng, tự hoàn thiện trình độ và nhân cách;
- Tình cảm: chín chắn, sâu sắc
- Niềm tin: tin vào sự lựa chọn của mình.
- Ý chí: có nghị lực, sự quyết đoán, bền bỉ (để vượt qua hoàn cảnh và vượt qua chính mình).
- Rèn luyện năng lực và phẩm chất nghề:
+ Phẩm chất: lòng yêu thương học sinh, yêu nghề
+ Năng lực: hiểu tâm lý học sinh (đặc điểm tâm lý, nhân cách của từng lứa tuổi), năng lực xử lý các tình huống sư phạm, năng lực giao tiếp sư phạm./.
179 ĐÁP ÁN BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM Câu 1 – d
Câu 2 – c Câu 3 – a Câu 4 – a Câu 5 – d Câu 6 – d Câu 7 – d Câu 8 – b Câu 9 – c Câu 10 – d Câu 11 – d Câu 12 – b Câu 13 – b Câu 14 – b Câu 15 – c Câu 16 – c Câu 17 – d Câu 18 – b
Câu 19 – d Câu 20 – c Câu 21 – d Câu 22 – c Câu 23 – a Câu 24 – b Câu 25 – d Câu 26 – d Câu 27 – c Câu 28 – c Câu 29 – c Câu 30 – d Câu 31 – b Câu 32 – c Câu 33 – a Câu 34 – b Câu 35 – c Câu 36 – c
Câu 37 – c Câu 38 – d Câu 39 – b Câu 40 –c Câu 41 – c Câu 42 – c Câu 43 – c Câu 44 – d Câu 45 – b Câu 46 – d Câu 47 – b Câu 48 – d Câu 49 – b Câu 50 –b Câu 51 – a Câu 52 –c Câu 53 – d Câu 54 - c
Câu 55 – d Câu 56 – b Câu 57 – b Câu 58 – b Câu 59 – b Câu 60 – c Câu 61- b Câu 62 – d Câu 63 – c Câu 64 – a Câu 65 – a Câu 66 – b Câu 67 – d Câu 68 – b Câu 69 – a Câu 70 – b Câu 71 – b Câu 72 - c
Câu 73 – a Câu 74 – a Câu 75 – b, c Câu 76 – a Câu 77 – d Câu 78 – c Câu 79 – d Câu 80 – d Câu 81 – d Câu 82 – c Câu 83 – b Câu 84 – a Câu 85 – b Câu 86 –d Câu 87 – c Câu 88 – a Câu 89 – b Câu 90 - d
Câu 91 – a Câu 92 – d Câu 93 – d Câu 94 –b Câu 95 – d Câu 96 – c Câu 97 – a Câu 98 – a Câu 99 – c Câu 100 – d Câu 101 – c Câu 102 – c Câu 103 – c Câu 104 – b Câu 105 – b Câu 106 – b Câu 107 - c