QUAN HE GICA NGU TANG NGU QUAN CAC KHIEU

Một phần của tài liệu Y học cổ truyền dân tộc. Tập 1 (Trang 41 - 47)

Tai, mắt, mũi, lưỡi, miệng gọi là ngũ quan thông với tinh khí của ngũ tạng cho nờn thiờn ngũ duyệt ngũ sử sỏch Linh khu núi : ô Mũi là giỏc quan của phế, mắt là giác quan của can, miệng môi là giác quan của tỳ, lưỡi là giác quan của lõm, tai là giỏc quan của thận ằ, Sở dẽ ngũ quan cú thể phõn biệt được thanh õm, màu sắc, mùi vị, chính là ngũ quan có quan hệ thông với kinh khi của ngũ tạng.

phế khí thông qua mũi, phế bình thường thì mũi biết được mùi thơm, thối, Tâm

khí thông ra lưỡi, tâm bình thường thì lưỡi biết được ngũ vị, can khi thông ra

mắt, can bình thường thì mắt phát hiện được ngũ sắc, tỷ khí thông qua miệng tỳ bình thường thì miệng biết được ngũ cốc, thận khí thông ra tai, thận bình thưởng thì tai nghe được ngữ âm. Chỉ có trong tình trạng ngũ lạng yên hòa, ngũ khí thông đạt thì ngũ quan mới phát huy được tác dụng, nếu không thì ngữ quan thất khiếu sẽ mắc trạng thái khác thường. Vì thế theo hiện tượng ở ngoài ngũ quan mà có thẻ xét biết được sự biến hóa của ngũ tạng.

Ngũ quan : tai, mắt, miệng, mũi, lưởi ở đầu mặt cho nên ngữ quan gọi là bảy khiếu ở đầu mặt, nếu gộp cả tiền âm và hậu âm thì gọi là chin khiếu của cơ thề, 9 khiếu đều có liên hệ rất chặt chế và rộng rãi với ngũ tạng và lục pHủ.

Nay trình bày từng thứ như sau :

J '

1. Tai voi tam than: - .

Đường kinh của thủ túc thiếu âm đều gặp nhau ở trong tai, cho nén tai phản ánh được sự biến hóa của tâm và thận. Thận tang tinh, thận hư, tính khi.

— không đồn lên tai được thì xuất hiện các chứng tai điếc tai ù, tâm chủ huyết mạch, _ nếu trong mạch khớ huyết thiếu kộm, khụng cung cấp kHụng lờn tai được, hoặô

lâm hỏa cũng thịnh, khi huyết trong mạch xung lên, đều làm cho tai nghe that thường. _

, Nguyên nhân của ù tai, điếc tai quá nửa là có quan Hệ với tĩnh huyết, nhưng làm cho tỉnh huyết thay đồi thì không phải chỉ riêng vì tâm, thận, thủy kém, hỏa vượng, mà bệnh của các lạng khác cũng làm cho khí hưyết thay đồi mà ảnh hưởng đến công năng của tai như can khỉ căng thịnh, khí huyết xóng lên | cũng cú thể xuất hiện chứng chúủg mặt ự tai.

2. Mát với can, tâm với ngũ tạng :

Mắt là khiếu của can. Can chủ việc tăng huyết, mắt nhờ huyết mới thấy

được. Nếu can Huyết không đủ thì mắt trông tối hoa, nặng thì sinh chứng quáng

gà mờ mắt, lại vì can chủ việc sinh phát, nếu thăng phát thái quá, huyết theo khi đi lên, xung lên mắt thì thấy mắt đỗ sưng. Cho nên xem ở mắt có thề biết

can khí hư hay thực. :

Tâm chủ huyết, cho nên tâm hư hay thực cũng có quan hệ đến mắt, mí mắt.

.ð bộ phận này đều thông với ngũ tạng và nhờ tinh khí của lạng nuôi đưỡng. Con . người thuộc thận, tròng đen thuộc can, tròng trắng thuộc phế, tia máu mắt thuộc tâm, mi mat thuộc tỳ, Cho nén bệnh ở mắt cũng thường phần ánh bệnh của ngũ tạng.

4l

3. Mai voi phé: .

Phế coi việc hô hấp, mũi là cửa ngõ của sự hô hấp, cho nên phế có sự điên hệ chặt chẽ với mũi. Ví dụ như phế bị phong hàn, thường thấy mũi ngạt, chay nước mà không ngửi rõ mùi, nhiệt thịnh đốt phế, phế khí suyễn cấp lại thường xuất hiện chứng cánh mũi phap phong..

4, Miéng voi ty vi:

Miệng chủ việc thu thập thức ăn, vị chủ việc làm chin nhử, tỳ chủ việc vận hóa. Nếu công năng của !ỳ vị bình thường thì miệng nhận biết ngũ cốc, biết đói muốn ăn, ngược lại thì không muốn ăn, ăn uống không biết ngon, Lại như - tỳ nhiệt thì miệng ngọt, tỳ hư thì miệng nhạt không biết mùi vị. Đường kinh túc dương minh vị kém hai:bên miệng đi quanh môi, nếu kinh khí của kinh vị kiệt hết thì có chứng trát khầu (chúm miệng).

5, Lưỡi với tâm và ngũ tang: -:

_ € Lưỡi là mầm (miờu khiếu) của lõm ằ cho nờn hỡnh thải màu sắc của lưỡi, có thể phẩn ánh ra sự thịnh suy của tâm khi. Như tâm héa thịnh thì chất lưỡi, đỏ thắm, nặng thì thể lưỡi nát loét, tâm hỏa suy vi thì chất lưởi nhợt mà không tươi sáng..Biệt lạc của lâm nối liền với cuống lưỡi, nếu tà nhiệt ở kinh âm đốt mạnh ihi có thể sinh ra chứng lưỡi cuộn lưổi cứng. Lưỡi coi về vị giác mà vị.

giác cÿng do tâm khi làm chủ, nếu tâm khí khỏng bình hòa thì thường ăn không biết mùi vị. So

Lưỡi chẳng những có quan hệ với lâm mà còn liên hệ với các phủ tạng khác. Ví dụ như : chính giữa lưỡi thuộc tỳ, vị ; đầu lưỡi thuộc tâm, cuống lưỡi thuộc thận, hai bên thuộc can đớm, Xét sự thay đồi của chất lưỡi, nếu lưỡi có thể suy biết được bệnh ở ngũ tạng.

6. Tiền âm với can thận : ,

ô Thận chủ thủy dịch ằ, tiền õm là đường bài tiết chất nước, nếu thận khớ không hóa, có thể làm cho tiểu tiện khỏ:g thông ; thận dương suy kém có thể sinh chứng đi tiểu ban đêm. Thận chủ việc làng tỉnh lại là gốc của việc sinh duc, _ ©ho nên thận đương suy vi cũng có thể sinh ra các chứng liệt đương, tử cung

lạnh đường kinh của can liên hé voi 4m ho, ean lại chủ cân mà tiền âm lại là

chỗ tụ hơi của tôn cân, cho nên những bệnh như liệt dương, cường dương, bệnh .ở hòn đái và kinh nguyệt không đều, đái hạ vv... cũng thường có quan hệ chat chẽ với can, .

7. Hậu âm với phế thận : ,

Hậu âm tức là giang mỏn, là đường đại tiện. Đại tiện khác thường và những bệnh hậu môn thường có liên quan với phể và thận. Như thận hỏa khổng đủ thì hay sinh các chứng lạnh kế (vì bàn mà bị đại tiện) hư phế (phể vì hư suy Như trên có thể thấy ngữ tạng và ngĩ quan và 9 khiếu là có mỗi quan hệ

sẵn ở trong. - *

TINH KHÍ THÂN TINH

Tinh la vật chất cấu tao nén co thé va dinh dưỡng cơ thề, trong quá trình hoạt động sinh lý luôn luôn bị liêu hao và, lưên luôn được bồ Sung, nhờ đó mà

duy trì được cuộc sống. BR a

42 a

Nội dung của linh bao gồm 4 mặt tỉnh, huyết; tân, địch. Bốn thứ này tuy.

cựng nhúm với ôtinhằ nhưng nguồn gốc tớnh chất cụng năng đều khỏc nhau.

Nay trình bày từng thứ như sau:

1, Tỉnh :

a) Nguồn gốc của tỉnh : tính là thứ cùng đến với sự sống, bẩm thụ và tiên thiên, là vật chất bắt đầu của mệnh cho nên thiên Ban thần sách Linh khu nói :

ôCải đến với sự sống gọi là tỉnh ằ Tỉnh của nam và nữ hợp với nhau cú thể cấu lạo nên thân hình. Cơ thể sau khi sinh ra thứ tỉnh ấy nhờ sự đinh dưỡng của chất tính vi trong đồ ăn uống mà được nuôi sống không ngừng, cơ thể càng ngày càng phát triển to lớn, cho nẻn thứ vật chất đỉnh đưỡng bắt nguồn từ thức ăn uống, cổ nhân cũng gọi là tinh. Đề dễ cho sự trình bày, người sau mới đem thử tính đỉnh đưỡng do đồ ăn uống hóa sinh gọi là tỉnh hậu thiên, đem thứ tỉnh cùng đến với sự sống gọi là tính tiên thiên.

Tỉnh là vật chất cơ bản cấu tạo nên các tổ chức cơ quan ngũ tạng, lục phủ - của cơ thê, tinh của tạng phủ được phát triền nuôi sống đần đần mà đồi đào, rồi

qui vào thận mà hóa sinh ra thứ tính sinh đục cho nén thiên Thượng cô thiên

Chõn luận sỏch Tố vấn núi: ô Thận chủ thủy nhận lấy tỉnh cửa ngũ tạng lục phủ mà chứa giữ lấy, cho nờn ngũ tạng thỉnh thỡ tỉnh cú thể tràn đầy ra ằ.

b) Công năng của tỉnh.

Tỉnh có sức sống đổi đào là vật chất cơ bản cấu tạo nên tất cả các tô chức cơ quan trong cơ thổ, cho nàng ọi là chân âm, là cơ sở vật chất của nguyên khí toàn thân cho nên gọi là nguyên âm. Nguyên âm chẳng những có đủ mức sinh đẻ và sinh trưởng phát đục mà còn có thê chống lại sự kích thích của những nhân tố không tốt, tránh khỏi bành tật, cho nìn thiên kim giữ chân ngởn luận sách Tố Vấn nói

ôTỉnh là nguồn gốc của thõn thể, cho nờn giữ được tỉnh thỡ mựa xuõn khụng bị bệnh ụnằ. Nếu nguyờn õm kộn sinh, cơ sở vật chất của nguyờn đương nẫy sinh dao đông sức đề kháng bị giảm sút quá nhiều thì để bị tà khi xâm phạm mà

phát sinh ra bệnh.

Tóm lại, tỉnh là cơ sở của sức sống, tỉnh đầy đủ thì sức sống mạnh, có thê

"thích ng duoc voi su thay dog của hoàn cảnh, chống chọi được với sự kích

thích của những nhân tố không tốt; tỉnh kém thiếu thì sức sống giảm sút sức thích ứng và sức chống bệnh cũng sẽ giảm sút.

3. Huyết:

a) Nguồn sinh hóa của huyết : huyết là thứ thể dịch sắc đỗ, theo đường mạch mà vận hành không ngừng ở trong cơ thể, nguồn sinh ra huyết là từ trung tiêu tỳ vị thức ăn uống vào vị, hóa thành thứ tỉnh vi cua đồ ăn uống thông qua sự vận hóa của tỳ, đồn vào phế mạch rồi hóa thành huyết. Chó nên thiên quyết khớ luận sỏch Linh khu núi: ô Trung tiờu là bầm thụ khi, giữ lấy trấp địch biến

húa rồi đỏ ra gọi là huyếtằ.

b) Công năng của huyết: huyết là thứ tỉnh vi của đồ ăn uống hóa ra, trong đó có chất đỉnh đưỡng theo đường mạch đi qua ngũ tạng lục phủ chân tay cỏc khớp mà làm nờn tỏc đụng : ô Nuụi sống cơ thềằ. Nếu vỡ một thứ nguyờn nhân nào đó sự tuần hoàn của huyết địch bị trở ngại, da khòng được huyết dịch nuôi dưỡng đầy đủ thì s3 cô chứng da để tà đại; chân tay không được huyết dịah nuôi đương đầy du thi chan tay không được ấm, nặng thì bị bại liệt.

43.

_Vi thế huyết là vật chất quan trọng duy trì hoạt động sống của các cơ thể, trong thì ngũ tạng lục phủ ngoài thì đa; lông, gân xương đều phải ở trong trạng thái huyết địa vận hành không ngừng, mới có thể được dinh dưỡng đầy đủ, từ đó mà duy trì được hoạt động công năng của nó,

3. Tân dịch :

a) Nguồn gốc và công dụng của tân :

; Tân là một thứ thể dịch của cơ thể, sinh ra từ tỉnh khí của đồ ăn uống, theo khi của tam tiêu phân bố đến khoảng cơ nhục, bì phu để ôn dưỡng cho cơ nhục, tươi nhuận cho đa lông. Mồ hôi và nước tiều đều là từ tân mà hóa sinh thứ đi ra tấu lý là mồ hôi, thứ thấu xuống bàng quang là nước tiểu. Cho nên có tHuyết nói mồ hồi và nước tiểu đều từ một nguồn mà ra. Tân bị thương tồn thì nước (iỀu và mồ hôi sẽ íI, trải lại mô hôi và nước tiểu bài tiét quá nhiều cũng - làm hao lồn, Trên lâm sàng, ra nhiều mồ hôi, là mất tân. Sau khi mửa nhiều, tả nhiều kiêng uống thuốc phát hần cũng là vì nguyên nhân này,

b) ẹguồn gốc và cụng dụng “của địch:

Dịch cũng là từ đồ ăn uống hóa sinh, theo huyết và đi khắp ở trong thấm ra ngoài mạch lưu thông và chứa lại ở chỗ nào tủy khớp xương, nhuận trơn các khớp bồ ích não tủy, như nhuận tai, mắt, miệng mũi.

c€) Sự khác nhau giữa tân và dịch :

Nguồn gốc của tân và dịch tuy giống nhau nhưng có trong lỏng, đục, đặc _ khác nhau. Tân trong mà lông cho nên theo khí tam 'tiêu mà đi ra phần biểu, dịch đặc mà đục cho nên lưu, hành ở trong khoảng gân xương các khớp tân và

dịch tủy eó chủ về phần ngoài, phần treng khác nhau, nhưng đều từ thức ăn uống

hóa sinh hai thứ cùng một thé cho nên trên lâm sang không phân biệt rành mạch ma thưởng vẫn gọi chung là tân dịch.

đ) Đường tuần hoàn của tân dịch :

Tân dịch thấm ra ngoài dịch đề nuôi đưỡng nhu nhuận cho da thịt gân xương não tủy và các bộ phận trong ngoài cơ thể. Những thủy dịch vô dụng thừa ra ở các bộ phận biến thành mồ hôi, nước tiền mà bài tiét ra ngoài. Phần tân dịch trong đó thì thấm vào tôn lạc mà trở về -kinh mạch, vẫn là một phần của . huyết địch, từ đó mà hình thành vòng tuần hoàn của tân dịch ; Sự tuần hoàn của ,tân dịch và sự bài tiết của thủy dịch thừa là' mấu chốt quan trọng đề duy trì sự thăng ,bằng, thủy dịch trong cơ thê, Nếu sự tuần hoàn bị. trở ngại, hoặc mất chức

năng bài tiết thì sẽ thành những bệnh đàm Âm thủy thũng.,

`

Khí có hai hàm nghĩa. | | | | - Một là chỉ vào thứ chất Ji tỉ khó thấy trôi chảy như tỉnh kh uống là chất đinh dưỡng vận hành trong cơ thể,

Hai là chỉ vào sức hoạt động nội tạng của cơ thể như khí của ngũ tạng, khí của lục phủ, phí của kinh mạch v.v.. _ co ; Se

Tóm lại, hàm nghĩa của khi rất rộng vửa đại biều cho chất Ị¡ tỉ khó thấy trong cơ thể, vừa đại biểu cho sức hoạt động của cỏc bộ phậ của cơ thể, a ca ơ.

Khí của người la, theo nguồn gốc cửa nó mà nói có chia ra tiên thiên và hậu thiờn : thứ bẫm thụ tử tiờn thiờn thỉ gọi là khớ tiờn thiờn, lại gọi là ônguyờn

Í củá thức ăn

n các cơ quan

44 s "m

khớằ, Khớ húa sinh trong đồ ăn uống của hậu thiờn và thứ khớ trời thở hớt vào đều gọi là khí hậu thiên.

Do đó có thể thấy khái niệm về khí khá rộng rãi phung khái quát lại thì không ra ngoài 4 thứ : nguyên khí, tôn khi, vinh khí, vệ khi. Bốn thứ này vừa liên hệ với nhau vừa có thể khác nhau, nay trình bày từng thứ như sau :

'a) Nguyên khí : .

Nguyên khí bao gồm khi nguyên âm và khí nguyên đương bam thụ ở tiên thiên. Nguyên khí chứa ở thận, nhờ đường tam tiêu mà đi khắp người thúc đầy sự hoạt động của ngũ tạng lục phủ và tất cả các tồ chức cơ quan là nguồn:

gốc sinh hóa của cơ thê.

— b) Tôn khí:

Tôn khi chứa ở khi hải, khí hải ở giữa ngực, là chỗ khi qui tụ, lại là chỗ xuất phát, vận động lưu hành của khí trong toàn thân. Khi xuất phát từ khí hải đi khắp người lại quay về khi hải cho nền khí trong khí hải gọi là tôn khi.

Nguồn gốc của tôn khí là khí của đồ ăn uống hóa sinh và khí ngoài tự nhiên thở hít vào hợp với nhau mà thành,

Công dụng của tôn khí là chạy theo đường hô hấp để coi việc hô hấp, qua tâm mạch đề vận hành khi huyết. Sự mạnh yếu của hô hấp, thanh âm, ngôn ngữ ˆ sự vận hành của khí huyết cho đến sự nóng lạnh sức hoạt động của cơ thể phần nhiều có quan hệ với tôn khí.

Tôn khí và nguyên khí, tuy một thứ chứa ở khí hải trong lồng ngực, một

thứ chứa ở thận, một thứ là khi hậu thiên, một thứ là khí tiên thiên nhưng trong

quá trình sinh lý hai thứ này không phải tách rời nhau mà liên kết với nhau, kết hợp với nhau mới có thề làm được tác dụng nuôi dưỡng cho toàn thân, Hai thứ này kết hợp lại gọi là ôchõn khiằ, Cho nờn thiờn thớch tiết chõn tà sỏch Linh khứ noi: ôChõn khớ được bầm thụ ti tự nhiờn kết hợp với cốt khớ mà làm cho cơ thể khỏe mạnh ằ,

c) Vinh khi :

— Nguồn hóa sinh của vinh khí: vinh khí là tỉnh khi (tâm khí) trong đồ ăn uống cho nên vinh khí sinh ra từ thức ăn uống bắt nguồn ở tỳ vị từ trung

tiêu ra.

— Công dụng của vinh khí: công dụng chủ yếu của vinh khí là hóa sinh huyết dịch đề định dưỡng toàn thân, vinh khi từ trung liêu ra đồn lên phế mạch biến hóa thành huyết sắc đổ, chẩy vào trong thì dinh đưởng cho ngũ lạng lục phủ, tấn ra ngoài thì tươi nhuận cho gân xương, đa lông.

— Đường vận hành của vinh khí: -

Vinh khí từ trung tiên đi ra, đồn vào kinh thủ thái âm phế nối vòng tuần hoàn của 14 đường kinh lần lượt truyền thuận theo thứ tự của các kinh âm dương chân tay (xem ở chương kinh mạch) một ngày đêm đi 59 vòng như vậy,

đd) Vệ khi; -

— Nguồn sinh hóa của vệ khi:

"Vệ khi là thứ khí nhanh mạnh trong đồ ăn uống (đương khi) tỉnh của nó nhanh nhẹn, trơn, chạy luôn khắp mọi nơi, cho nên vị khí tuy bắt nguồn ở ty vị

nhưng do thượng tiêu phân bố đi.

— Công dụng của vệ khí do thượng tiêu phân bố, đi ở ngoài mạch, trong thì sưởi ấm vùng màng lưới phần nôn ra ngực bụng đề ôn dưỡng cho ngũ tạng lực phủ; ở ngoài thì luôn trong tầng da tho thịt, ôn dưỡng cho cơ nhục đa dé

45

Một phần của tài liệu Y học cổ truyền dân tộc. Tập 1 (Trang 41 - 47)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(317 trang)