Bài tập 2 (thuyết minh về hoa đào)

Một phần của tài liệu Thiết kế bài giảng ngữ văn lớp 10 tập 2 (Trang 101 - 107)

Nhắc đến hoa đào là nhắc đến Tết. Thiếu hoa đào cũng có nghĩa là thiếu mùa xuân. Hoa đào luôn về cùng với Tết, làm cho đất nước Việt Nam thêm đẹp, thêm xuân.

Đào có nhiều loại. Có thứ là đào ăn quả. Có thứ chỉ để chơi hoa. Hoa

đào Tết là một loại hoa đào đặc biệt đ−ợc trồng nhiều ở vùng hoa nổi tiếng lâu đời gần Hà Nội trong các làng Yên Phụ, Nghi Tàm, Quảng Bá, NhËt T©n.

Mỗi cành đào có một vẻ riêng. Có cành vươn tán tròn xoe cân đối. Có cành cao vút lên rồi mới v−ơn tán một cách khoẻ khoắn, ngạo nghễ.

Người chơi hoa đào có cái thú bao nhiêu thì người trồng hoa đào có cái kì công bấy nhiêu. Kĩ thuật trồng đào ở Nhật Tân là một nghề gia truyền từ bao đời nay. Ngay sau Tết, khi cành đào c−a đi rồi, gốc phải

đ−ợc chăm bón ngay. Hàng vạn gốc đào trồng trên hàng chục héc-ta nẩy lên những mầm mới. Chờ cho những mầm đó cao chừng 10cm, người trồng hoa chọn một mầm khoẻ nhất để lại và chăm thành cành đào cho Tết sang năm, còn bao nhiêu mầm khác đều bỏ đi hết. Mầm lớn dần lên

đâm thẳng vào không gian. Đến giữa năm trở đi là thời kì bấm ngọn liên tục, bắt cây đâm nhiều nhánh toả ra bốn phía cân đối theo ý muốn của ng−ời trồng hoa. Cuối năm, khoảng tháng m−ời một âm lịch là thời kì

ngắt hết lá để cây dành nhựa làm nụ. Từ hai mươi ba tháng chạp trở đi, những cành đào đó đ−ợc đ−a về chợ hoa ở các phố Hàng Chiếu, Hàng

L−ợc ở cửa chợ Đồng Xuân để góp phần làm náo nức thêm cho không khí xuân của Hà Nội hoặc đ−a đi các tỉnh xa và ra cả n−ớc ngoài.

Hoa đào là mùa xuân của Việt Nam, là tình yêu quê hương đất nước hồng hào trên g−ơng mặt mỗi ng−ời.

(Theo Giáo trình Tiếng Việt Dành cho SV n−ớc ngoài học tiếng Việt, Tr−ờng ĐH Tổng hợp Hà Nội, 1980).

TiÕt 69 Lμm v¨n

Viết bài làm văn số 5 V¨n thuyÕt minh

A. Kết quả cần đạt

− Tiếp tục củng cố những kiến thức và kĩ năng làm văn thuyết minh, cũng nh− các kĩ năng lập dàn ý, diễn đạt.

− Tích hợp với những kiến thức về văn, tiếng Việt và tích hợp với vốn sống thực tế để triển khai thành một bài văn cụ thể.

− Rèn luyện kĩ năng vận dụng các ph−ơng pháp thuyết minh vào một bài viết cụ thể.

B. Thiết kế bμi dạy học

Hoạt động 1 Tìm hiểu đề bài

− GV gợi dẫn HS tìm hiểu các đề bài gợi ý trong SGK:

Đề 1: Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh của đất nước quê h−ơng.

Đề 2: Thuyết minh một loại hình ca nhạc (hay sân khấu) mà em hằng yêu thích.

Đề 3: Thuyết minh một ngành thủ công mĩ nghệ (hoặc một đặc sản, một nét văn hoá ẩm thực) của địa phương mình.

Đề 4: Thuyết minh một lễ hội ghi lại những nét đẹp của phong tục truyền thống hoặc thể hiện khí thế sôi nổi của thời đại.

* Gợi dẫn: Thuyết minh thực chất là cung cấp tri thức cho người đọc về một đối t−ợng nào đó (danh lam thắng cảnh, loại hình ca nhạc, ngành thủ công mĩ nghệ, lễ hội...), vì vậy muốn viết một văn bản thuyết minh đạt yêu cầu thì ng−ời viết cần phải chuẩn bị:

a) Quan sát: tìm hiểu đối tượng về màu sắc, hình dáng, kích thước,

đặc điểm, tính chất...

b) Học tập: tìm hiểu đối t−ợng trong sách báo, các tài liệu, các phương tiện thông tin đại chúng

c) Tham quan: tìm hiểu đối t−ợng bằng cách trực tiếp ghi nhớ thông qua các giác quan, các ấn t−ợng; trực tiếp ghi chép các số liệu cần thiết...

d) Lựa chọn nội dung: Có thể nói, tri thức của loài ng−ời vốn mênh mông nh− biển cả, còn sự hiểu biết của mỗi ng−ời chỉ là vài giọt n−ớc nhỏ bé mà thôi; nh−ng ngay những hiểu biết giới hạn về một đối t−ợng nào đó cũng không phải là đơn giản; vì vậy để viết đ−ợc văn bản thuyết minh, chúng ta cần phải có ý thức tích luỹ và sử dụng những mảng tri thức t−ơng ứng với đối t−ợng cần thuyết minh, chứ không thể đ−a tất cả những hiểu biết của mình vào một bài văn. Cụ thể:

+ Với đề 1 (danh lam thắng cảnh) thì các đặc điểm về lịch sử, địa lí, cảnh sắc, giá trị thẩm mĩ,... là quan trọng.

+ Với đề 2 (loại hình ca nhạc) thì nguồn gốc, hình thức biểu diễn, giá

trị thẩm mĩ, bản sắc dân tộc,... là quan trọng.

...

Hoạt động 2

Tìm hiểu một số văn bản tham khảo 1. Nón làng Chuông

Nằm cách trung tâm Hà Nội 40km về phía tây, làng Chuông (Thanh Oai, Hà Tây) từ lâu đã nổi tiếng với nghề làm nón lá. Người làng Chuông gắn với nghề làm nón chẳng khác gì ng−ời Vạn Phúc gắn với nghề dệt lụa, ng−ời Cự Đà gắn với nghề làm t−ơng... Có điều, nghề làm nón vất vả mà

thu nhập chẳng đ−ợc là bao. Song, ở làng Chuông, từ già đến trẻ, từ đàn

ông đến đàn bà, không có ai chê nghề, bỏ nghề.

Thật khó xác định nghề làm nón xuất hiện ở đây từ khi nào. Chỉ biết rằng, từ xa x−a, nón làng Chuông đã trở thành một lễ vật quý đ−ợc tiến vào cung vua phủ chúa. Đến nay, nón làng Chuông đã có mặt ở khắp mọi nơi, từ Bắc vào Nam, từ trong n−ớc ra n−ớc ngoài... Mỗi ngày có hàng ngàn chiếc nón từ làng Chuông túa đi khắp các tỉnh thành. Đặc biệt, trong khoảng thời gian gần đây, làng Chuông đã kí đ−ợc hợp đồng để đ−a nón xuất ngoại. Hiện nay, nón làng Chuông đã có mặt ở thị trường các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, úc và nhiều n−ớc châu Âu khác.

Nhìn những chiếc nón xinh xinh và chắc chắn, ít ai biết đ−ợc rằng, để làm nên nó, những người thợ đã phải bỏ ra khá nhiều công sức và thời gian. Đầu tiên là việc chọn mua nguyên liệu. Th−ờng thì nguyên liệu làm nón phải mua từ Thanh Hoá, Quảng Bình, Phú Thọ, Sơn La... Lá cọ mua về đ−ợc phơi dăm ba ngày cho đến khi màu xanh của lá chuyển dần sang màu trắng. Sau đó người thợ làm nón phải miết lá cho thật thẳng mà vẫn giữ đ−ợc độ dẻo và mềm. Vành nón đ−ợc làm bằng cật nứa vót nhỏ. Công

đoạn khó nhất để tạo ra được một chiếc nón là công đoạn khâu. Người thợ phải thật kiên trì, khéo léo và tỉ mỉ vì chỉ cần sơ sẩy một chút là lá nón sẽ bị nhăn và rách. Khâu xong, người thợ phải hơ nón bằng hơi diêm để nón trở nên trắng và không bị mốc.

Những năm tr−ớc, ng−ời làng Chuông sản xuất nhiều loại nón khác nhau nh−: nón ba tầm, nón nhỏ, nón dấu... Bây giờ, do nhu cầu của thị tr−ờng, ng−ời làng Chuông chỉ sản xuất duy nhất loại nón chóp. Nghề làm nón không cho thu nhập cao nh−ng nó cũng tạo ra công ăn việc làm cho người lao động lúc nông nhàn. Mỗi người một việc như có sự phân công lao động từ trước. Người chuyên đảm nhiệm việc thu mua nguyên liệu.

Ng−ời chuyên sản xuất. Ng−ời mang sản phẩm đi tiêu thụ ở các nơi... Nón làng Chuông ngoài việc đ−a đi các tỉnh với số l−ợng lớn, còn đ−ợc bày bán trong những phiên chợ làng. Một tháng, chợ làng họp sáu phiên chính vào các ngày 4, 10, 14, 20, 24, 30. Nếu ai may mắn về làng Chuông đúng vào ngày chợ họp sẽ bị ngợp trong một rừng nón trắng. Nón đ−ợc xếp thành từng chồng dài nh− những trụ tháp cao quá đầu ng−ời. Giá mỗi

chiếc nón từ 5.000đ đến 10.000đ. Để làm ra một chiếc nón thì một người thợ giỏi cũng phải bỏ ra một khoảng thời gian trên dưới 4 giờ đồng hồ.

Nh− vậy thu nhập bình quân của một gia đình làm nón cũng chỉ đ−ợc từ 25.000đ đến 30.000đ/ngày.

Nghề làm nón không thể giầu đ−ợc, nh−ng tất cả những ng−ời dân làng Chuông đều có một tình yêu, niềm đam mê kì lạ với cái nghề truyền thống rất đỗi tự hào của mình.

(Nguyễn Thị Tuyết)

2. Phố cổ Hội An

Trải qua nhiều thế kỉ thăng trầm bãi bể n−ơng dâu, vào cuối năm 1999, Hội An đ−ợc UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới. Tháng 8 năm 2000, thị xã Hội An lại đ−ợc nhà n−ớc phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Giờ đây, Hội An đã trở thành một địa danh nổi tiếng về nhiều phương diện, trong đó phải kể đến sức hấp dẫn đặc biệt của một đô

thị cổ.

Nằm ở vị trí hạ lưu sông Thu Bồn (Quảng Nam), thị xã Hội An cách

Đà Nẵng ch−a đến 30km về phía nam. Từ thế kỉ XV, thuyền buôn các nước Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp đã có mặt tại Hội An và nhiều thương cảng khác của Việt Nam. Sau đó, Hội An đã dần dần được hình thành và phát triển thành một đô thị thương nghiệp bao gồm quần thể kiến trúc khu phố, bến tàu, các điểm neo đậu tàu và các kiến trúc sinh hoạt tín ngưỡng vùng ven. Hội An là trung tâm giao lưu thương mại của con

đ−ờng tơ lụa, gốm sứ trên biển nối liền Đông − Tây.

Thực ra mảnh đất này vốn đã đ−ợc xem là một cảng thị từ lâu đời.

Qua các công trình nghiên cứu về mặt khảo cổ, với những bộ sưu tập khá

độc đáo về chum mộ, hiện vật gốm, sắt, đồ trang sức, tiền đồng... chúng ta có thể thấy Hội An là nơi tập trung nhiều nhất, đặc sắc nhất của văn hoá

Sa Huỳnh thuộc giai đoạn muộn, cách ngày nay khoảng 2000 năm. GS Trần Quốc Vượng ghi nhận: "Phải chăng vùng đất đai, sông nước Hội An

đã là tiền cảng từ thời đại Sa Huỳnh rất sớm, khoảng dăm trăm năm trước công nguyên... Lịch sử cảng thị Hội An kéo dài gần 2000 năm chứ không phải chỉ vài thế kỉ XVI, XVII, XVIII khi trội v−ợt lên là phố Nhật, phè Hoa".

Thăm Hội An, du khách không quên uống n−ớc suối Bá Lễ, một nguồn n−ớc nổi tiếng trong, sạch và ngọt. Ng−ời Hội An cho biết rằng tất cả các tiệm ăn đặc sản Cao Lầu ở Hội An đều dùng nước giếng Bá Lễ.

Hiện nay ở Hội An còn 24 giếng làm thành một hệ thống liên hoàn, đó là một loại hình di tích đặc tr−ng của nền văn hoá Chăm Pa x−a. Trong lịch sử, Hội An đã từng bị chiến tranh tàn phá năm 1773 nên không còn đ−ợc nguyên vẹn nh− thuở ban đầu. Do những khó khăn về địa hình nên không có đường lớn và đường sắt chạy qua Hội An, vì vậy mảnh đất văn vật này

đã có một thời gian dài chìm vào quên lãng.

Là một đô thị cổ trầm mặc và còn bảo tồn đ−ợc một tổng thể di tích phong phú, đa dạng và tương đối nguyên vẹn cấu trúc về phố xá, bến cảng nên năm 1985, Bộ Văn hoá đã ra quyết định công nhận và khoanh vùng bảo vệ di tích phố cổ Hội An. Sau đó, Hội An đ−ợc đầu t− trùng tu, tôn tạo và ngày càng có diện mạo của một khu văn hoá đô thị cổ. Ngày nay, không gian thị xã Hội An ngày càng khởi sắc với một sức sống mới của không gian đô thị lữ hành và đang trở thành một điểm sáng rực rỡ trên bản

đồ du lịch của cả nước.

(L©m KiÒu Ninh)

TuÇn 24

Một phần của tài liệu Thiết kế bài giảng ngữ văn lớp 10 tập 2 (Trang 101 - 107)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(412 trang)