Tham khảo về lập luận

Một phần của tài liệu Thiết kế bài giảng ngữ văn lớp 10 tập 2 (Trang 236 - 253)

Trong việc trình bày các ý kiến, ng−ời ta có thể từ ý kiến này rút ra ý kiến khác bằng những suy lí. Việc đ−a ra những căn cứ nhằm đạt đến một kết luận nào đó (mang tính thuyết phục) đ−ợc gọi là lập luận. Từ lập luận

đ−ợc hiểu theo hai cách: một là quá trình thực hiện sự lập luận, tức là chỉ sự lập luận hay việc lập luận; hai là sản phẩm của quá trình lập luận, tức là chỉ toàn bộ cái kiến trúc gồm các bộ phận cấu thành có quan hệ với nhau do sự lập luận tạo ra, đây là (cái) lập luận. Cũng có ng−ời gọi sự lập luận bằng cái tên luận chứng.

VÝ dô:

− Họ lập luận rất thuyết phục. (lập luận là hành động)

− (Mấy) lập luận của họ có vẻ thuyết phục lắm. (lập luận là sản phẩm) Trong một lập luận có ba bộ phận: luận cứ, kết luận (hay luận đề) và quan hệ lập luận.

− Luận cứ là những căn cứ để từ đó rút ra kết luận. Luận cứ có hai loại: lí lẽ và bằng chứng.

− Kết luận là thuật ngữ đ−ợc dùng chung trong cấu tạo của một lập luận: kết luận là mệnh đề (dưới hình thức câu) hay lí thuyết được bảo vệ bằng các luận cứ. Trong các bài thuộc kiểu văn nghị luận (nh− trong khoa học xã hội và nhân văn), cái t−ơng đ−ơng với kết luận còn đ−ợc gọi là luận đề và được hiểu là mệnh đề hay lí thuyết cụ thể mà người ta lấy làm

đúng và người ta đưa ra bảo vệ nó bằng các luận cứ. Nói cách khác, luận

đề là ý kiến, lí thuyết cụ thể đ−ợc nhận là đúng, đ−ợc đ−a ra làm đề tài bàn luận, nó đ−ợc chứng minh bằng các luận cứ.

− Quan hệ lập luận là quan hệ giữa luận cứ với kết luận. Một kết luận

đúng phải dựa trên những luận cứ đúng và đ−ợc rút ra bằng những quan hệ lập luận đúng. Ngoài quan hệ lập luận, trong một lập luận có nhiều luận cứ, giữa các luận cứ cũng có những kiểu quan hệ cần xem xét.

Cần nói thêm rằng để nhận định về một lập luận đúng đòi hỏi những

“luật” rất khắt khe trong logic, có thế mới giải thích đ−ợc những tr−ờng hợp gọi là “nguỵ biện”.

VÝ dô:

− Vật chất tồn tại vĩnh viễn.

− Bánh mì là vật chất.

− Bánh mì tồn tại vĩnh viễn.

Trong ví dụ này, hai từ vật chất dùng trong hai câu không đồng nhất với nhau: từ vật chất ở câu đầu chỉ “vật chất nói chung, mọi dạng tồn tại của vật chất”, từ vật chất ở câu thứ hai chỉ nói về “một dạng cụ thể của vật chất, khi nó ở trạng thái bánh mì”. Do đó, kết luận “bánh mì tồn tại vĩnh viễn” là nguỵ biện, vì trên thực tế bánh mì không giữ lâu đ−ợc.

Lập luận có thể thuộc lĩnh vực khoa học, với những luận cứ, kết luận có tính chất khoa học, chứng minh đ−ợc theo kiểu của khoa học (không thay đổi nếu ch−a có sự thay đổi của khoa học − công nghệ), hay có tính chất đ−ơng nhiên không cần chứng minh (nh−: sinhvật già thì chết).

Ví dụ: Xe mất lái rồi, không thể điều khiển đ−ợc.

Câu này là một lập luận thuộc về khoa học − công nghệ, theo đó thì

xe đ−ợc điều khiển nhờ bộ phận lái, nay bộ lái của xe bị hỏng, tất nhiên có thể rút ra kết luận là không thể điều khiển xe đ−ợc nữa.

Lập luận cũng có thể đ−ợc dùng trong đời sống hằng ngày (hiểu là không liên quan đến các vấn đề khoa học) có liên quan với những “lẽ thường”, tập tục của một cộng đồng người cụ thể, thuộc một giai đoạn lịch sử cụ thể, đúng ở đây và lúc này mà có thể không đúng ở nơi khác hay lúc khác, giá trị đúng / sai có thể thay đổi.

Ví dụ: áo này kiểu đẹp, ta mua đi.

Vế đầu của câu này là một luận cứ, vế sau là kết luận. Luận cứ vừa nêu có thể đúng với người vừa nói câu đó, nhưng có thể không đúng với ng−ời khác, vì việc thích kiểu áo nh− thế nào là phụ thuộc vào thị hiếu của cá nhân và định hướng của thời gian.

Nh− vậy, tính đúng / sai của luận cứ và kết luận cần đ−ợc phân biệt theo lĩnh vực mà lập luận đ−ợc dùng: trong khoa học có khác với trong

đời thường không mang tính khoa học chặt chẽ. Tuy nhiên, tính đúng / sai của quan hệ lập luận là không đổi trong cả hai lĩnh vực đó: trong lĩnh vực nào, việc dùng quan hệ lập luận cũng phải đúng quy tắc, nếu dùng quan hệ lập luận sai sẽ dẫn đến kết luận sai.

Những kiểu lập luận th−ờng gặp giới thiệu d−ới đây sẽ không phân biệt lập luận khoa học và lập luận đời thường.

I. Hai kiểu lập luận khái quát th−ờng gặp:

Hai kiểu lập luận khái quát khác nhau về độ phức tạp thường gặp là lập luận đơn giảnlập luận phức tạp. Lập luận đơn giản là lập luận trong đó chỉ có “một luận cứ” hay có “một số luận cứ đồng hạng” với nhau (xét về mức độ khái quát), và “một kết luận”.

Ví dụ về lập luận đơn giản:

(I) (1) Đội bóng X đá khá lắm. (2) Đội X sẽ thắng trong trận chung kết sắp tới.

(II) (1) Đội bóng X đá khá lắm. (2) Vừa rồi đội X lại đ−ợc đi tập huấn ở n−ớc ngoài về. (3) Đội X sẽ thắng trong trận chung kết sắp tới.

Trong lập luận I chỉ có một tiền đề (1) và một kết luận (2), đó là một lập luận đơn giản. Trong lập luận II có hai tiền đề (1 và 2) và một kết luận (3), nh−ng hai tiền đề này có hiệu lực ngang nhau, không cái nào khái quát hơn cái nào, nên lập luận này cũng là lập luận đơn giản (tất nhiên các

kết luận trên đúng hay sai còn phải chờ ở kết quả thi đấu sau này, vì một trận bóng trong thực tế không thuộc về khoa học − công nghệ).

Lập luận phức tạp là lập luận trong đó có hai luận cứ không ngang nhau về tính khái quát: một luận cứ chỉ cái chung làm “tiền đề lớn”

thường được gọi là “đại tiền đề”, một luận cứ chỉ cái riêng làm “tiền đề nhỏ:” thường được gọi là “tiểu tiền đề”, và “một kết luận” (về cái riêng).

Kiểu lập luận này gồm có 3 “đoạn” nh− vậy, nên nó đ−ợc gọi là “tam

đoạn luận”. Hai kiểu lập luận giản đơn và phức tạp có thể gặp trong khoa học và cũng có thể gặp trong đời sống hằng ngày, trong đó “tam đoạn luận”, là kiểu tiêu biểu của lập luận.

Ví dụ về tam đoạn luận trong khoa học:

“Tam giác vuông là tam giác có một góc vuông”. (Đại tiền đề − định lí đã đ−ợc các nhà toán học chứng minh, có giá trị chung đối với mọi tam giác vuông)

“Tam giác ABC có một góc vuông”. (Tiểu tiền đề ư điều được người làm toán chứng minh, có giá trị riêng đối với tam giác ABC)

“Tam giác ABC là tam giác vuông”. (Kết luận − do ng−ời làm toán

đ−a ra, có giá trị riêng đối với tam giác ABC) Hoặc:

“Con người ai cũng chết”. (Đại tiền đề ư sự thật hiển nhiên không cần chứng minh, chung đối với mọi người)

“Tôi là con người”. (Tiểu tiền đề ư sự thật hiển nhiên, không cần chứng minh)

“Tôi cũng chết”. (Kết luận ư do người lập luận đưa ra, riêng đối với “tôi”) Ví dụ về tam đoạn luận trong đời thường:

“Đàn bà thích chiều chuộng”. (Đại tiền đề ư lẽ thường, chung cho n÷ giíi)

“Thanh là con gái mới lớn lên”. (Tiểu tiền đề − sự thật hiển nhiên, riêng đối với Thanh)

“Thanh thÝch chiÒu chuéng”. (KÕt luËn)

Trong ví dụ về việc chứng minh ABC là một tam giác vuông trên đây,

đại tiền đề là một định lí đã đ−ợc các nhà toán học chứng minh, nó luôn luôn đúng. Nếu tiểu tiền đề đúng thì kết luận vừa nêu sẽ đúng; nếu tiểu tiền đề sai (do người làm toán, chẳng hạn, tam giác ABC này thực ra không có góc vuông nào cả) thì kết luận vừa nêu sẽ sai.

Tính đúng / sai của tam đoạn luận dùng trong đời thường có khác.

Việc dùng ý “đàn bà thích chiều chuộng” làm đại tiền đề không đảm bảo cho lập luận đúng. Thanh là cô gái mới lớn lên thật, nh−ng điều đó không tất yếu dẫn đến việc cô Thanh cũng thích chiều chuộng. Nếu Thanh thích chiều chuộng thật thì kết luận trên là đúng, nếu Thanh là người không thích chiều chuộng thì kết luận trên sẽ không đúng.

II. Quan hệ giữa các luận cứ với nhau và giữa luận cứ với kết luận:

Nh− đã biết, trong một lập luận đơn cũng có thể có hơn một luận cứ, còn trong tam đoạn luận có hai luận cứ là đại tiền đề và tiểu tiền đề.

Trong một lập luận đơn có nhiều luận cứ cũng nh− trong tam đoạn luận, giữa các luận cứ có những mối quan hệ xác định. Giữa các luận cứ trong lập luận đơn và trong tam đoạn luận với kết luận của chúng cũng có những mối quan hệ xác định. Mặt khác, trong tiếng Việt có những quan hệ từ có khả năng chỉ ra các kiểu quan hệ vừa đ−ợc nhắc đến đó. (Lập luận đơn có một luận cứ không phải là đối t−ợng xem xét chủ yếu trong

điểm này).

1. Quan hệ giữa các luận cứ với nhau và luận cứ với kết luận trong lập luận đơn

Lập luận đơn trong đời thường có thể có hai hoặc hơn hai luận cứ.

Việc xem xét quan hệ giữa các luận cứ của lập luận đơn ở đây tạm dừng lại ở những ví dụ có hai luận cứ. Hai luận cứ trong lập luận đơn có thể quan hệ với nhau theo hai cách:

1.1. Luận cứ đồng hướng:

Cả hai luận cứ cùng h−ớng về một kết luận, chúng đ−ợc gọi là những luận cứ đồng hướng (trong việc hướng đến kết luận). Ví dụ (luận cứ được in ®Ëm):

(Vì) đờng xa và (vì) xe không đợc tốt lắm, (nên) có thể chiều tối họ mới đến đ−ợc.

Câu này cũng có thể trình bày với kết luận đứng trước (luận cứ in đậm):

Có thể chiều tối họ mới đến đ−ợc, (vì) đờng xa và (vì) xe không

đợc tốt lắm.

Một ví dụ khác khó nhận biết hơn: Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc. Dân tộc bị nô lệ thì thanh niên cũng bị nô lệ. Dân tộc đợc giải phóng, thanh niên mới đợc tự do. Vì vậy thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc. (Hồ Chí Minh)

Bốn câu trên có thể viết lại nh− sau để làm rõ quan hệ lập luận: (Vì) thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc và vận mệnh của dân tộc quyết định vận mệnh của thanh niên. (Cho nên) thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc.

Ví dụ này cũng có thể trình bày với kết luận đứng trước: Thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc. Vì thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc và vận mệnh của dân tộc quyết định vận mệnh của thanh niên.

Nh− có thể thấy qua hai cách trình bày đối với hai ví dụ trên, từ (và:

do, tại, bởi, nhờ) có khả năng dẫn đầu luận cứ, quan hệ từ nên có khả

năng dẫn đầu kết luận (nếu kết luận không đứng trước luận cứ).

1.2. Luận cứ nghịch h−ớng:

Trong hai luận cứ, một luận cứ hướng về phía kết luận khẳng định (hiểu là “được chấp nhận”), còn luận cứ kia thì hướng đến phía kết luận phủ định (“không chấp nhận”), chúng đ−ợc gọi là những luận cứ nghịch hướng (trong việc hướng đến kết luận).

Ví dụ (luận cứ đ−ợc in đậm): Bây giờ đ muộn, nhng (nhờ) xe tốt, chúng tôi cứ đi.

Một ví dụ khác khó nhận biết hơn (chú ý các câu in đậm): Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân...

Trong những năm kháng chiến, bộ đội ta anh dũng hi sinh xương máu,

đồng bào ta hăng hái góp sức của sức người. Điều đó tỏ rằng đại đa số nhân dân ta đ tự giác tự động làm trọn nghĩa vụ của ngời chủ nớc nhà.

Nhng vẫn có một số ít ngời không làm đúng nh vậy. Họ muốn h−ởng quyền lợi mà không muốn làm nghĩa vụ...

Cho nên chúng ta cần phải có giáo dục đạo đức công dân để mọi ng−ời hiểu rõ: Lợi ích chung của n−ớc nhà và lợi ích riêng của ng−ời dân là nhất trí; quyền lợi của công dân và nghĩa vụ của công dân là nhất trí;

đã là người chủ của nước nhà thì phải phụ trách đối với Tổ quốc...

(Hồ Chí Minh)

Ba câu in đậm trong ví dụ này làm thành một lập luận. Hai câu in đậm

đầu là hai luận cứ, câu in đậm cuối là kết luận. Luận cứ thứ nhất h−ớng

đến phía phủ định kết luận. Luận cứ thứ hai hướng đến phía khẳng định kết luận (vì có một số ít người không làm đúng như vậy, nên phải có giáo dục đạo đức công dân). Hai luận cứ này là hai luận cứ nghịch hướng.

Đối với các luận cứ nghịch h−ớng, cần chú ý hai hiện t−ợng sau đây:

vai trò quyết định của luận cứ mạnh trong hai luận cứ nghịch hướng nhau và vai trò của các quan hệ từ đối với việc xác định luận cứ, kết luận.

1.2.1. Luận cứ có “lực lập luận mạnh”:

Trong số hai luận cứ nghịch h−ớng nhau thì luận cứ nào thuận h−ớng với kết luận, tức là hướng đến chấp nhận kết luận, sẽ là luận cứ có lực lập luận mạnh hơn so với luận cứ còn lại. Chẳng hạn, trong hai ví dụ nêu trên, thì “xe tốt” và “một số ít người không làm đúng như vậy” là luận cứ mạnh. Còn trong ví dụ sau đây thì “bây giờ đã muộn” là luận cứ mạnh (in ®Ëm):

(Tuy) xe tốt, nhng (vì) bây giờ đ muộn, chúng tôi không đi.

Trong ví dụ này, tuy “chúng tôi không đi” là một mệnh đề phủ định, nh−ng nó vẫn “đ−ợc chấp nhận”.

1.2.2. Quan hệ từ dẫn đầu luận cứ và quan hệ từ dẫn đầu kết luận:

Quan hệ từ có khả năng dẫn đầu luận cứ mạnh trong lập luận có luận cứ nghịch h−ớng là từ (và: do, tại, bởi, nhờ); quan hệ từ có thể có mặt ngay sau quan hệ từ nh−ng hoặc hàm ẩn (có thể thêm vào). Quan hệ từ có khả năng dẫn đầu kết luận là từ nên, có thể có mặt hoặc hàm ẩn.

Nh− có thể thấy qua các ví dụ vừa nêu, giữa hai luận cứ nghịch h−ớng thường có từ nhưng đứng trước luận cứ mạnh, đó là trường hợp cả hai luận

cứ nghịch h−ớng cùng hiện diện. Trên thực tế tồn tại những tr−ờng hợp có mặt từ nhưng mà phần đứng sau nhưng lại là kết luận, trong trường hợp này luận cứ mạnh hàm ẩn, và không thể thêm vào sau nh−ng đ−ợc.

Ví dụ (kết luận đ−ợc in đậm): áo đẹp đấy, nh−ng tôi không mua.

Câu này thực ra là một lập luận có hai luận cứ nghịch h−ớng mà luận cứ mạnh không đ−ợc nêu ra và “tôi không mua” là kết luận. Dạng đầy đủ của lập luận này có thể có những hình thức nh− sau, với cùng một luận cứ mạnh.

Ví dụ (luận cứ mạnh ẩn đ−ợc cho xuất hiện và in đậm):

a) áo đẹp đấy, nh−ng (vì) chất vải xấu, (nên) tôi không mua.

b) áo đẹp đấy, nh−ng tôi không mua, (vì) chất vải xấu.

c) Tuy áo đẹp đấy, nh−ng (vì) chất vải xấu, (nên) tôi không mua.

d) (Vì) chất vải xấu, (nên) tôi không mua, tuy áo đẹp đấy.

e) Tôi không mua, tuy áo đẹp đấy, nh−ng (vì) chất vải xấu.

f) Tôi không mua, vì chất vải xấu, mặc dù (tuy) áo đẹp đấy.

Qua các cách trình bày ví dụ vừa dẫn, có thể kết luận nh− sau:

− Từ (và những từ t−ơng đ−ơng) có thể dẫn đầu luận cứ mạnh khi có luận cứ nghịch h−ớng.

ư Từ nên có thể dẫn đầu kết luận nếu kết luận không đứng trước luận cứ.

Các từ vì, nên có thể sẵn có hoặc có thể thêm vào khi cần thiết.

ư Từ nhưng thường xuất hiện trước luận cứ mạnh (có thể ẩn từ đứng sau nó), nếu hai luận cứ thuận và nghịch cùng có mặt, và trong tr−ờng hợp này từ tuy cũng có thể xuất hiện tr−ớc luận cứ yếu. Cần chú ý là từ nh−ng cũng có thể xuất hiện tr−ớc kết luận (không thể có mặt từ sau nó) khi luận cứ mạnh hàm ẩn.

2. Quan hệ giữa các tiền đề với nhau và giữa tiền đề với kết luận trong tam đoạn luận

Nh− đã nói, tam đoạn luận là hình thức tiêu biểu của lập luận, nhất là lập luận trong khoa học. Trong tam đoạn luận chỉ có ba mệnh đề và mỗi

Một phần của tài liệu Thiết kế bài giảng ngữ văn lớp 10 tập 2 (Trang 236 - 253)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(412 trang)