A. Một số bμi viết về tiếng Việt
II. Từ Hán Việt, sản phẩm độc đáo của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ − văn hoá Việt − Hán
Việc đi sâu tìm hiểu quá trình du nhập, định hình và hoạt động của lớp từ ngữ gốc Hán gắn bó với các hoàn cảnh lịch sử thuộc các giai đoạn khác nhau của lịch trình tiếp xúc giao lưu ngôn ngữ ư văn hoá Việt ư Hán
sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn lớp từ ngữ đặc biệt này về các mặt từ nguyên, từ nghĩa và ứng dụng.
Theo sử sách ghi chép, từ xa x−a, cộng đồng c− dân sinh tụ trên các vùng lãnh thổ nay là đất nước Việt Nam và đất nước Trung Hoa đã sớm có sự giao lưu tiếp xúc trên nhiều lĩnh vực. Sách Tiền Hán thư có đoạn viết:
"Thời Đào Đ−ờng có ng−ời Việt Th−ờng ở ph−ơng Nam cử sứ giả qua nhiều tầng thông dịch vào triều biếu con rùa thần, có lẽ đã sống hàng nghìn năm, trên l−ng có khắc chữ nh− con nòng nọc, ghi việc trời đất mở mang, vua Nghiêu sai chép lại, gọi là Quy dịch".
Đoạn ghi chép trên đây tuy đậm màu truyền thuyết nh−ng cũng có thể hé lộ cho chúng ta thấy đ−ợc một vài phần sự thực lịch sử:
Một là, từ nhiều nghìn năm về tr−ớc, ng−ời Việt cổ và tổ tiên Hán tộc rất có thể đã có quan hệ giao hảo. Sự gần kề về địa lí, sự tương đồng về phương thức hoạt động sản xuất và tổ chức đời sống xã hội đã tạo tiền đề thuận lợi cho việc hình thành các mối quan hệ giao hảo đó.
Hai là, ngay từ thuở xa xưa ấy, người Việt cổ đã gây dựng được một nền văn hoá khá phát triển, đã có chữ viết, đã am tường thiên văn lịch pháp, những tri thức tối cần thiết cho việc tổ chức đời sống xã hội, phát triển sản xuất nông nghiệp...
Ba là, ngôn ngữ của ng−ời Việt cổ và của tổ tiên Hán tộc chắc chắn rất khác nhau, vì vậy cần phải "qua nhiều tầng thông dịch" mới hiểu đ−ợc nhau. Điều này giờ đây đã đ−ợc chứng thực. Thành tựu nghiên cứu ngôn ngữ học đã cho chúng ta biết tiếng Hán và tiếng Việt khác nhau về cội nguồn và thuộc hai ngữ hệ.
Như vậy, có thể khẳng định rằng: "Trên địa bàn của nước Văn Lang cổ đại có một ngôn ngữ bản địa. Từ vựng của ngôn ngữ này có nhiều đặc tính chung của từ vựng của nhiều ngôn ngữ Đông Nam á lân cận nh−
tiếng Thái, tiếng Môn − Khmer... Đó là vốn từ vựng thuần Việt cho đến nay vẫn còn đ−ợc sử dụng.
Tiếp đó, do cuộc xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc kéo dài hàng nghìn năm, một khối l−ợng lớn các từ Hán du nhập vào,
đ−ợc ng−ời Việt tiếp thu nh−ng vẫn giữ đ−ợc bản sắc tiếng nói của mình.
Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của tổ tiên ta lúc đó hẳn phải là: bên cạnh cuộc đấu tranh chống lại ách thống trị của các đế chế phương Bắc là cuộc đấu tranh chống lại sự đồng hoá về ngôn ngữ − văn hoá. Và ngày nay nhìn lại, chúng ta có thể tự hào ghi nhận những thành quả vô cùng to lớn của sự nghiệp đấu tranh bảo vệ tiếng nói của dân tộc, xây dựng và phát triển tiếng Việt văn học trong quá trình giao lưu tiếp xúc với ngôn ngữ ư văn tự Hán ở thiên niên kỉ thứ nhất sau Công nguyên.
Về nguồn gốc tiếng Việt, hiện nay đang có nhiều giả thuyết với những cứ liệu phong phú khác nhau. Tuy ch−a đi đến đ−ợc những kết luận dứt khoát, thoả đáng, nh−ng trong tình hình nghiên cứu hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đang h−ớng sự tìm tòi suy nghĩ vào một hệ ngôn ngữ rộng lớn, hình thành từ xa x−a, hoạt động trên một địa bàn mênh mông bao trùm cả
bán đảo Đông Dương và những miền lân cận, được gọi là hệ ngôn ngữ
Nam á, bao gồm nhiều nhóm ngôn ngữ nh− Môn − Khmer, Việt − Mường, Việt ư Thái... Về vấn đề này, tác giả Hà Văn Tấn viết:
"Việc phân loại các ngôn ngữ Đông Nam á đã có một lịch sử lâu dài.
Cho đến nay, dẫu còn có những cuộc thảo luận, nhưng gần như mọi người
đều thừa nhận trong khu vực Đông Nam á lục địa và hải đảo đã tồn tại ba ngữ hệ hay ngữ tộc lớn là Nam á, Nam Đảo và Tày Thái...
Về vị trí thân thuộc của tiếng Việt thì nh− chúng ta biết, ý kiến của Maspero (1912) xếp tiếng Việt vào ngôn ngữ Thái đã một thời có ảnh hưởng lớn. Ngay W. Schmidt (1905) đã coi tiếng Việt thuộc ngôn ngữ
Môn − Khmer... thì trong một công trình năm 1926, d−ới ảnh h−ởng của Maspero cũng đã xếp tiếng Việt vào tiếng Thái... Những cố gắng liên tục của Haudricourt đã thuyết phục mọi người rằng tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam á. Đó là một tư tưởng mà James Logan đã đưa ra từ giữa thế kỉ XIX (Logan 1852). Cái mà sau này ta gọi là ngữ hệ Môn − Khmer hay Nam á thì năm 1852, Logan gọi là Môn − An Nam. Những công trình gần đây (Gage, 1985) chỉ củng cố quan điểm của Haudricout.
Nh−ng vấn đề đặt ra là, về mặt lịch sử, tiếng Việt tách ra khỏi hệ Nam
á nh− thế nào? ở đây, ta gặp khái niệm Proto − Việt − M−ờng mà một số nhà ngôn ngữ học đã đ−a ra (Ferlus, 1975).
Sau khi xem xét cái đ−ợc gọi là Proto − Việt − M−ờng mà một số nhà ngôn ngữ cố gắng khôi phục, tôi nghĩ rằng ngôn ngữ đó chỉ là ngôn ngữ
của tiếng Việt và tiếng Mường. Và tôi đề nghị gọi nó là Việt Mường Chung.
Vì thế, năm 1976, tôi đã đề nghị một sơ đồ hình thành tiếng Việt qua các gia đoạn: Proto − Việt − M−ờng − Việt M−ờng Chung − Việt và M−ờng... Về sau, Phạm Đức D−ơng và tôi phát triển thêm lí thuyết này...
Thuật ngữ Việt Mường Chung mà tôi đưa ra đã được một số nhà ngôn ngữ
học khác sử dụng (Nguyễn Văn Tài, 1998)... Tôi nghĩ rằng có thể dùng phương pháp hồi cố để liên hệ sơ đồ về lịch sử hình thành tiếng Việt với các văn hoá Việt Nam từ tiền sử đến lịch sử... Có lẽ Nguyễn Văn Tài đã
có lí khi cho rằng tiếng Việt và tiếng Mường đã tách khỏi nhau vào khoảng thế kỉ VII hoặc VIII sau Công nguyên. Như vậy thì trước đó, hẳn là ngôn ngữ Việt Mường Chung đã được sử dụng trong một bộ phận lớn c− dân ở miền Bắc Việt Nam. Văn hoá Đông Sơn tồn tại ở miền Bắc Việt Nam từ giữa thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên đến khoảng thế kỉ II sau Công nguyên, có thể một phần lớn c− dân Đông Sơn nói ngôn ngữ
Việt M−ờng Chung. Điều này không loại trừ một bộ phận c− dân của văn hoá này nói ngôn ngữ Thái.
Còn các văn hoá tiền Đông Sơn mà bắt đầu là văn hoá Phùng Nguyên cách đây khoảng 4000 năm, phân bố trong lưu vực sông Hồng và các văn hoá cùng bình tuyến trong lưu vực sông Mã và sông Cả, có thể đã nói ngôn ngữ Proto − Việt − M−ờng..."
Những ý kiến có sức thuyết phục trên đây càng làm cho chúng ta tin t−ởng thêm rằng: trong giai đoạn khởi đầu của quá trình tiếp xúc Việt − Hán, tiếng Việt đã là một ngôn ngữ phát triển, đ−ợc cộng đồng c− dân sáng tạo nên một nền văn hoá cổ đại nổi tiếng trên thế giới − Văn hoá
Đông Sơn, sử dụng một cách rộng rãi.
Tiếng Hán và tiếng Việt tuy có cội nguồn khác nhau và thuộc các ngữ
hệ khác nhau, nh−ng cả hai đều là "ngôn ngữ đơn lập, âm tiết tính" nên lại thuộc cùng một loại hình. Đây là một điều rất quan trọng, cần phải đặc biệt lưu ý khi nghiên cứu mối quan hệ ngôn ngữ ư văn hoá Việt ư Hán ở buổi đầu. Chính điều này đã tạo ra những lợi thế, đồng thời cũng lại tạo ra những điểm bất lợi cho sự nghiệp bảo tồn và phát triển ngôn ngữ dân tộc
của nhân dân Việt Nam trong gần một thiên niên kỉ chống lại nền đô hộ và chính sách đồng hoá mà các đế chế phương Bắc đã cố tìm mọi cách để
áp đặt lên đất nước này. Tổ tiên chúng ta đã nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa những lợi thế và những điều bất lợi nói trên, tận dụng những lợi thế, phòng ngừa và đẩy lùi những bất lợi để mở đường cho tiếng Việt phát triển, khiến nó ngày càng trở nên phong phú, tinh tế, trong sáng. Đó là cả một quá trình đầy gian lao thử thách với nhiều giai đoạn chuyển biến quanh co. Có thể hình dung quá trình này về đại thể nh− sau:
Vào khoảng thế kỉ I tr−ớc Công nguyên và những thế kỉ tiếp theo, không liên tục nh−ng kéo dài mãi tới thế kỉ X, ngôn ngữ văn tự Hán đã
tràn vào Việt Nam theo chân các đoàn quân xâm l−ợc, bọn quan lại đô hộ và nhiều làn sóng di c− ồ ạt. Với chính sách đồng hoá toàn diện và triệt
để, đế chế phương Bắc đã thi hành đủ mọi biện pháp, từ tinh vi đến trắng trợn nhằm xoá bỏ ngôn ngữ, phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá
lâu đời của dân tộc ta, ép ta hoà đồng với khối Đại Hán, một công việc mà họ đã thực thi thắng lợi đối với các vùng lãnh thổ − dân c− rộng lớn trải dài từ lưu vực sông Dương Tử ở phía Bắc cho tới miền sơn cước trước rặng Ngũ Lĩnh ở ph−ơng Nam. Nh−ng kết quả là, sau gần một ngàn năm bị cưỡng bức đồng hoá và kiên quyết chống đồng hoá, đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam cùng với những phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá cổ truyền cao đẹp vẫn tồn tại và tiếp tục phát triển. Trong khung cảnh ấy, tiếng Việt, nh− chúng ta đã biết, có nhiều đặc tr−ng sắc thái khác tiếng Hán, người Hán muốn hiểu phải "qua nhiều tầng thông dịch" cũng đã
vững vàng qua thử thách, đã giữ đ−ợc cái nền tảng cốt lõi tinh tuý. Cái nền tảng cốt lõi ấy được lưu giữ trong lời ăn tiếng nói của quần chúng, trong hệ thống thần thoại truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện c−ời, tục ngữ, ca dao, đồng dao, câu đố... phản ánh một cách sinh động và toàn diện trí tuệ, tình cảm, tư tưởng của nhân dân ta. Tiếng nói ấy đã chuyển biến, v−ơn lên phong phú, đa dạng, tinh tế thêm lên cùng với sức sống mạnh mẽ của dân tộc, cùng với sự phát triển của xã hội, theo nhiều đ−ờng h−ớng và biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp "vay m−ợn, đồng hoá những yếu tố từ bên ngoài đ−a tới". Trong quá trình tiếp xúc với ngôn ngữ − văn tự Hán, chúng ta đã "vay m−ợn nhiều từ ngữ của tiếng Hán". M−ợn theo
cách Việt hoá, trước hết là về mặt âm đọc, sau đó là về mặt ý nghĩa và phạm vi sử dụng. Nhìn tổng quát, sự du nhập và phổ biến ngôn ngữ − văn tự Hán ở nước ta đã diễn ra trong một hoàn cảnh đặc biệt (đất nước bị đô
hộ, nhân dân mất chủ quyền), bằng những phương thức đặc biệt (chủ yếu là bị c−ỡng bức áp đặt, chủ yếu là ở những thế kỉ bị đô hộ) và cũng đã
diến biến theo những ph−ơng h−ớng riêng biệt qua từng thời kì lịch sử khác nhau, nhưng Việt hoá vẫn luôn luôn là phương hướng chủ đạo.
III. Việt hoá, con đ−ờng đ−a từ ngữ Hán trở thành từ Hán Việt ...
Trên cơ sở cách đọc chữ Hán của người Việt đã được xác lập thành hệ thống, phương hướng Việt hoá tiếp tục tác động sâu sắc đến mô hình cấu tạo (từ ghép), kết cấu ngữ nghĩa, ph−ơng thức sử dụng, phạm vi sử dụng, sắc thái tu từ... của từ ngữ Hán đ−ợc m−ợn để đ−a vào tiếng Việt.
Tr−ớc hết là một số l−ợng rất lớn từ ngữ Hán đ−ợc "vay m−ợn trọn vẹn hai mặt kết cấu và ý nghĩa, chỉ Việt hoá âm đọc". Để tiện theo dõi vấn
đề, ở đây sẽ không nhắc đến những từ ngữ gốc Hán đã đi sâu vào tiếng Việt, với âm đọc đ−ợc một nhà nghiên cứu gọi là âm tiền Hán Việt (nh−:
buồng, buồm, bùa, đục...) và có khả năng hoạt động tự do. Những từ ngữ
Hán đ−ợc vay m−ợn vẫn giữ nguyên kết cấu, ý nghĩa cơ bản ngoài những từ đơn như: tâm, tài, mệnh, phúc,... thường là từ ghép song âm và rải ra khắp các lĩnh vực hoạt động xã hội, từ quá khứ đến hiện tại nh−: đế vương, khanh tướng, đại thần, nhân dân, quần chúng, chủ tịch, thủ tướng, nội các, văn ch−ơng, khoa cử, trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa, cử nhân, tú tài, dân chủ, xã hội, cai trị, trị vì, công nghiệp, nông nghiệp, th−ơng nghiệp, chỉ huy, tác chiến, công sự, chinh chiến, xuất chinh, chinh phu, chinh phụ, chinh phục, chuyên môn, chuyên chính, chuyên dụng, chuyên nghiệp... nhiều không kể xiết.
Một số từ ngữ Hán đã đ−ợc rút gọn lại, nh−: thừa trần (nghĩa đen là
"hứng bụi − một bộ phận kiến trúc ngăn cách không gian ở với mái nhà") thành trần (nhà); lạc hoa sinh thành (cây, củ) lạc.
Hoặc đảo vị trí các yếu tố cấu thành, nh−: nhiệt náo (Hán) thành náo nhiệt (Việt), thích phóng (Hán) thành phóng thích (Việt), cáo tố (Hán) thành tố cáo (Việt), th−ơng tang (Hán) thành tang th−ơng (Việt)...
Hoặc thay đổi các yếu tố cấu thành, nh−: nhất cử l−ỡng đắc (Hán) thành nhất cử l−ỡng tiện (Việt), an phận thủ kỉ (Hán) thành an phận thủ th−ờng (Việt), cửu tử nhất sinh (Hán) thành thập tử nhất sinh (Việt)...
Hoặc đổi nghĩa, thu hẹp nghĩa, mở rộng nghĩa, ví dụ:
− ph−ơng phi (Hán) vốn nghĩa là "hoa cỏ thơm tho", vào tiếng Việt lại có nghĩa là "béo tốt, đầy đặn" (mặt mũi phương phi).
− khôi ngô (Hán) vốn có nghĩa là "to lớn, cao lớn", vào tiếng Việt lại có nghĩa là "đẹp đẽ, sáng sủa" (gương mặt khôi ngô)
− bồi hồi (Hán) vốn có nghĩa là "đi đi lại lại", vào tiếng Việt lại có nghĩa là "bồn chồn xao xuyến, không yên" (lòng dạ bồi hồi)
− đinh ninh (Hán) vốn có nghĩa là "dặn dò, nói đi nói lại", vào tiếng Việt có thêm nghĩa là "yên trí, tin tưởng, không thay đổi" (cứ đinh ninh là anh ấy còn sống); nh−ng vẫn giữ nghĩa gốc Hán: Vầng trăng vằng vặc giữa trời − Đinh ninh hai miệng một lời song song (Truyện Kiều).
Cũng có trường hợp, từ ngữ Hán vừa bị rút gọn, vừa bị đổi nghĩa, ví dụ: lang bạt kì hồ (Hán) vốn là một câu thơ trong Kinh Thi đ−ợc rút gọn lại và mang một nghĩa chuyển rất xa trong tiếng Việt là "lang thang, nay đây mai đó".
Có những từ ngữ Hán khi vào tiếng Việt bị thay đổi màu sắc tu từ, vÝ dô:
− thủ đoạn (Hán) vốn không có hàm ý xấu tốt, chỉ mang nghĩa t−ơng tự nh− "cách thức, biện pháp, ph−ơng cách..."; nh−ng với t− cách là một từ Hán Việt thì từ này mang hàm ý xấu "mánh khoé xảo trá, độc ác..." (thủ
đoạn bóc lột, thủ đoạn lừa đảo, thủ đoạn chính trị...).
− dã tâm cũng không có hàm ý xấu tốt, chỉ mang nghĩa t−ơng tự nh−
"khát vọng, tham vọng..."; nh−ng với t− cách là một từ Hán Việt thì có nghĩa xấu "lòng dạ hiểm độc" (dã tâm xâm l−ợc, dã tâm đen tối...).
− giang hồ vốn có nghĩa là "(ng−ời) đi nhiều, không ở yên một chỗ", vào tiếng Việt có hàm ý xấu là "lang thang h− hỏng, bất chính..." (gã
giang hồ, ả giang hồ, luật giang hồ...).
...
Những từ gốc Hán đ−ợc vay m−ợn không nhất thiết chỉ nhằm mục
đích khoả lấp chỗ trống do tiếng Việt còn thiếu từ tương ứng, mà còn nhằm làm phong phú thêm sắc thái biểu cảm, tạo ra phong thái trang trọng, tinh tế, uyển chuyển khi cần thiết hoặc tăng c−ờng tính khái quát, trừu t−ợng hoá qua từ đ−ợc dùng. Hiện t−ợng này có thể dễ dàng nhận thấy qua sự đối chiếu những từ Việt sẵn có và từ gốc Hán đ−ợc vay m−ợn có quan hệ đồng nghĩa, ví dụ: vợ − phu nhân, mẹ − thân mẫu, xác chết − tử thi, ăn mày − hành khất...
(L−ợc dẫn theo Đặng Đức Siêu, Dạy và học từ Hán Việt ở tr−ờng phổ thông, NXB Giáo dục Hà Nội, 2001, Mục II + III)