Đặc điểm phong cách ngôn ngữ văn bản chính luận

Một phần của tài liệu Thiết kế bài giảng ngữ văn lớp 10 tập 2 (Trang 375 - 399)

A. Một số bμi viết về tiếng Việt

IV. Đặc điểm phong cách ngôn ngữ văn bản chính luận

(Tham khảo bổ sung cho các bài 28, 29, 32, 33: Văn bản nghị luận và phong cách ngôn ngữ chính luận)

Chính luận là loại văn bản trình bày ý kiến về những vấn đề thời sự nóng hổi trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Chức năng của chính luận là thông tin, tuyên truyền cổ động. Yêu cầu của thông tin là mới và chính xác. Mới và chính xác là linh hồn của thông tin. Tuyên truyền và cổ động là tác động vào trí tuệ và tình cảm của người đọc, người nghe để mọi người hiểu, tin và làm theo. Phạm vi của chính luận rất rộng, bao gồm nhiều thể loại nh− xã luận, bình luận thời sự, phóng sự điều tra, tuyên ngôn, lời kêu gọi (nh− Tuyên ngôn độc lậpLời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh)... Văn bản chính luận có thể là văn xuôi, nh−ng cũng có thể là văn vần nh− Hải ngoại huyết th− của Phan Bội Châu. Chính luận đến với người tiếp nhận qua phương tiện sách báo, cũng có thể qua các ph−ơng tiện khác nh− phát thanh, truyền hình và trực tiếp hơn cả là diễn thuyết tr−ớc công chúng. Dù có sự khác nhau về thể loại, về hình thức diễn đạt, về phương tiện truyền thông tin với những sắc thái riêng, −u nh−ợc riêng; nh−ng tất cả đều có chung những đặc tr−ng

điển hình của phong cách chính luận.

Chính luận nổi bật ở đặc tr−ng bình giá, tức là sự biểu thị thái độ của tác giả đối với sự kiện, với vấn đề đ−ợc đề cập đến. Chính luận đem đến cho người đọc, người nghe không phải chỉ có cái sự thật, mà còn mang theo thái độ, tâm huyết của tác giả. D.M. Priljuk, một nhà lí luận về báo

chí đã viết: "Sự phản ánh của chính luận bao giờ cũng đậm đà sự xúc cảm.

Biên độ xúc cảm của nhà chính luận rất lớn. Đó là sự tán thưởng và niềm vui s−ớng, lòng căm thù và sự tức giận, trầm t− và âu yếm. Đó là sức hấp dẫn trong việc phân tích sự kiện và đánh giá chính trị về các sự kiện đó".

Đã là chính luận thì bao giờ cũng phải có tính bình giá, có sự bộc lộ thái

độ vì những vấn đề mà chính luận đề cập đến gắn liền với lợi ích vật chất và tinh thần của một giai cấp, một tầng lớp xã hội có liên quan đến thế giới quan và một quan điểm nhất định. Để thể hiện sự bình giá, tác giả

chính luận phải sử dụng các phương tiện ở các cấp độ ngôn ngữ, đặc biệt là cấp độ từ ngữ. Cùng một sự vật, sự kiện có thể có nhiều thái độ bình giá

khác nhau, do đó mà từ ngữ, lời lẽ nói về nó cũng khác nhau.

...

Tính bình giá là đặc tr−ng quan trọng của phong cách chính luận, cơ

sở để phân biệt phong cách này với các phong cách khác nh− phong cách khoa học, phong cách nghệ thuật... Văn bản khoa học cũng có thể có bình giá, nh−ng đó không phải là đặc tr−ng cơ bản, hữu cơ của nó. Còn phong cách nghệ thuật cũng có sự bình giá, nh−ng đó là sự bình giá thông qua cảm xúc do hình t−ợng nghệ thuật đem lại. Sự bình giá của chính luận mang tính chất công khai, trực tiếp và phổ quát. Điều đáng chú ý là thái

độ bình giá của một bài chính luận không phải chỉ là của riêng tác giả, mà là tiếng nói chung của tập thể ban biên tập, của một tổ chức xã hội...

nhất định.

Bất cứ văn bản thuộc phong cách nào cũng hướng tới đối tượng tiếp nhận, nhưng đối tượng tiếp nhận của văn bản chính luận thường đông đảo về số l−ợng và đa dạng về trình độ. Từ ông viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học cho đến bác công nhân, từ cụ già đến anh thanh niên, thầy giáo và học sinh... đều là đối t−ợng của chính luận. Sở dĩ nh− vậy vì những vấn đề chính trị xã hội mà chính luận đề cập tới thường là những vấn đề thiết thân được nhiều người quan tâm. Mặt khác, đứng về phía người viết chính luận, nếu văn bản chính luận có hiệu quả tác động cao thì nó sẽ có khả

năng biến "tri thức trở thành sức mạnh vật chất" dời non lấp bể. Vì vậy, ngôn ngữ chính luận phải giản dị, chân thực, có khả năng diễn đạt rõ ràng, chính xác các khái niệm phức tạp khiến chúng trở nên dễ hiểu đối với đại

đa số công chúng. [...]

Văn bản chính luận là tiếng nói công khai, trực tiếp của tác giả, do đó ngôn ngữ của văn bản chính luận mang tính chất đơn diện. Còn ngôn ngữ

của văn bản nghệ thuật có tính chất đa diện, tức là có nhiều tầng ngôn ngữ

của nhiều nhân vật. Văn bản nghệ thuật là văn bản miêu tả, còn văn bản chính luận là văn bản lập luận. Về mặt này, chính luận gần gũi với phong cách văn bản khoa học. Nh−ng cần phân biệt đơn diện và nghèo nàn. Nói

đơn diện là muốn nhấn mạnh đến tính chuẩn xác của ngôn ngữ, tính sắc bén của lập luận và tính t−ờng minh về quan điểm. Mỗi văn bản chính luận đều công khai, trực tiếp bày tỏ và bảo vệ một nhân sinh quan hoặc thế giới quan nhất định và nhất thiết không chấp nhận sự mập mờ; nh−ng

đồng thời để thể hiện thái độ, tình cảm của mình, tác giả vẫn có quyền sử dụng các phương tiện biểu cảm của ngôn ngữ, trong đó có các biện pháp tu từ ngữ nghĩa nh− so sánh, ẩn dụ, hoán dụ...

(L−ợc dẫn bài theo bài viết cùng tên của Lê Xuân Thại, trong Phụ tr−ơng tạp chí Ngôn ngữ của Viện ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội, 1989)

B. một số bμi viết về Nguyễn Du vμ Truyện Kiều (Theo Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm,

NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998)

Con ng−ời Nguyễn Du trong thơ chữ Hán

Xuân Diệu

[...] Khi đ−ợc đọc hai câu thơ:

Bất tri tam bách d− niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Nh−

tôi coi đó nh− là hai câu thơ duy nhất, trong một bài thơ duy nhất của Nguyễn Du hé mở ra một thế giới con ng−ời mà từ tr−ớc hầu nh− không ai

để ý: té ra phía sau Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều, Nguyễn Du ông quan, đang còn có Tố Nh−; còn có cái thế giới Tố Nh− thân mật hơn, riêng tây hơn, t−ởng chừng nh− cũng xúc cảm hơn nữa kia... Và do hai câu thơ quý hiếm trên đây, tôi đã viết những cảm nghĩ của mình để vội vàng mà "khấp Tố Nh−" không chờ đợi đ−ợc đến hết ba trăm năm; trong văn, đang còn cái lấc xấc của tuổi trẻ:

"... X−a nay, ta hằng gọi Nguyễn Du là cụ, là vì những ng−ời phê chú Truyện Kiều đều là cụ. Họ đeo cặp kính bô lão nên trông Tố Nh− cũng búi tóc củ hành, buông quần lá toạ, cũng lơ thơ một chòm râu dê [...]. Không, thanh niên chúng ta nên hiểu Tố Nh− với tấm lòng trẻ trung, bàn tay xanh non của ta sẽ rũ bụi cho hương hồn tài tử, ta phải đặt lại Nguyễn Du trong khung xuân sắc, có hoa lá đụng vào mình thi sĩ, có bướm chim rạo rực chung quanh...[...]

Nguyễn Du còn có Tố Nh−, với bao nhiêu chuyện riêng tây, rất riêng tây nữa kia, nh−ng không nói. Có lẽ vì văn ch−ơng Việt Nam khi ấy ch−a có lối trữ tình, Tố Nh− không quen đem cái tôi ra mà bộc lộ [...]

Một tấm lòng vẫn giấu che, bỗng lộ trong một phút giây, chệch nhẹ bức mành, mà ta trông đ−ợc cả một thế giới còn ch−a nói − Sao Nguyễn Du không vẽ thử vài nét về bản thân mình? Khiến cho ta nay, nghe thơ

hay, luống tiếc không đ−ợc thấy dáng hình thi sĩ? [...].

Sao tài tử không nói khấp Nguyễn Du mà lại nói khấp Tố Nh−? Tự x−ng cái tên tự của mình, lòng tài tử lúc ấy thân mật biết mấy, nói đến mình, đến riêng mình, chứ không nói đến tác giả hay ông quan ...

... Tố Nh− cần có ng−ời khóc lắm chứ, lòng ấy cần rất nhiều bạn trong khoảng rộng và trong khoảng sâu; lòng ấy cần có ng−ời khóc. Khóc đây là th−ơng cảm cùng nhau, thấu hiểu cho nhau, quý hoá lấy nhau. Khóc đây ch−a hẳn là thảm sầu, mà là một nụ c−ời cũng có. Khóc đây ch−a hẳn là khóc mà còn khóc với... lời kêu gọi của một trang tài tình, nghe êm ái ngậm ngùi nh− một tiếng chim cô lẻ dội giữa trời thu khuya. Đó là tiếng giã đời, cũng là tiếng họp bạn; tiếng tuyệt vọng; nh−ng cũng là tiếng hi vọng; câu tự hỏi nh−ng cũng là câu tự trả lời. (1941) [...]

Tố Như yên nghỉ dưới đất, có ngậm cười khi có thêm những tri kỉ hàng vạn ng−ời?

Tựa Truyện Kiều

Tiên phong Mộng Liên Đ−ờng chủ nhân

Trong một tập thuỷ chung lấy bốn chữ tạo vật đố tài tóm cả một đời Thuý Kiều: khi lai láng tình thơ, ng−ời tựa án khen tài châu ngọc, khi nỉ non tiếng nguyệt, khách dưới đèn đắm khúc tiêu tao; khi duyên ưa kim cái, non bể thề bồi; khi đất nổi ba đào, cửa nhà tan tác, khi lầu xanh, khi

rừng tía, cõi đi về nghĩ cũng chồn chân, khi kinh kệ, khi can qua, mùi từng trải nghĩ mà tê l−ỡi. Vui, buồn, tan, hợp, m−ời mấy năm trời, trong cuốn văn tả ra nh− hệt, không khác gì một bức tranh vậy. Xem đến chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy mà căn nguyên vẫn gỡ chưa rồi; khúc đàn bạc mệnh gẩy xong, mà oán hận vẫn còn chưa hả, thì dẫu đời xa người khuất, không đ−ợc mục kích tận nơi nh−ng lời văn tả ra hình nh− máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía, ngậm ngùi, đau đớn nh− đứt ruột. Thế thì gọi tên là Đoạn tr−ờng tân thanh cũng phải.

Ta lúc nhàn đọc hết cả một l−ợt, mới lấy làm lạ rằng: Tố Nh− tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có cái con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ đến suốt cả nghìn

đời, thì tài nào có cái bút lực ấy, bèn vui mà viết bài tựa này.

Thuý Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Nh− tử làm Truyện Thuý Kiều, việc tuy khác nhau mà lòng thì là một, người đời sau thương người đời nay, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thật là một cái thông luỵ của bọn tài tử khắp trong gầm trời và suốt cả x−a nay vậy.

Ta lấy một thiên mực nhạt, xa viếng nàng Kiều [...] cùng làm một khúc đoạn trường để than khóc người xưa.

Tựa Đoạn trờng tân thanh

Đào Nguyên Phổ

[...] Truyện này là của cụ Nguyễn Du, ng−ời Tiên Điền, làm Hữu tham tri bộ Lễ buổi đầu bản triều, y theo cuốn truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mà làm ra. Lời lẽ xinh xắn mà văn hoa, âm điệu ngân vang mà tròn trịa, tài liệu chọn rất rộng, sự việc kể rất t−ờng, l−ợm lặt những diễm khúc tình từ của cổ nhân; lại góp đến cả phương ngôn ngạn ngữ nước nhà, mặn mà vụn vặt không sót, quê mùa tao nhã đều thu. Nói tình thì vẽ đ−ợc hình trạng hợp li, cam khổ, mà tình không rời cảnh. Tả cảnh thì bày hết thú vị tuyết nguyệt phong hoa mà cảnh tự v−ớng tình; mực muốn múa mà bút muốn bay, chữ hay phô mà câu hay nói, khiến ng−ời c−ời, khiến ng−ời khóc, khiến ng−ời vui, khiến ng−ời buồn, khiến ng−ời giở đi giở lại ngàn lần, càng đọc thuộc lại càng không biết chán, thật là một khúc Nam âm tuyệt x−ớng, một điệu tình phổ bực đầu vậy.

Chẳng ngờ g∙ M∙ Giám Sinh

Lê Đình Kị

Trong cái ngôi hàng của Tú Bà, có sự phân công rành mạch, Tú Bà ngồi vắt nóc ở nhà chủ trương, điều khiển và không ai có đủ tư cách hơn mụ để làm cái việc khó khăn đó. Mã Giám Sinh đi dạo lấy người, chạy hàng cho cái ngôi hàng ấy. Họ đã thành vợ thành chồng trên cái cơ sở vừa vững vàng vừa bấp bênh đó.

Mã Giám Sinh có cái lí lịch xứng đáng với Tú Bà:

Chẳng ngờ gã Mã Giám Sinh, Vốn là một đứa phong tình đã quen.

Quá chơi lại gặp hồi đen,

Quen mồi lại kiếm ăn miền nguyệt hoa.

ăn chơi, cờ bạc, ra vào kiếm ăn ở các nhà chứa, tất cả điều đó đã làm cho con người Mã Giám Sinh có một vẻ riêng. Tất nhiên để mua được Kiều, Mã Giám Sinh phải hết sức che đậy tung tích của mình:

Gần miền có một mụ nào,

Đ−a ng−ời viễn khách tìm vào vấn danh.

Hỏi tên rằng: "Mã Giám Sinh",

Hỏi quê rằng: "Huyện Lâm Thanh cũng gần".

Từ mụ mối đến người khách kia, tất cả đều mập mờ hăm doạ và cái lối trả lời dứt khoát mà nh− lẩn tránh, rõ ràng mà cũng rất cộc lốc, tuỳ ý Kiều muốn hiểu thế nào thì hiểu. Trong chuyện mua bán, t− cách ng−ời mua kẻ bán đâu có phải là điều quyết định, cái quyết định là đồng tiền, vậy thì gạn hỏi lôi thôi làm gì? Cố nhiên là Mã Giám Sinh cũng tin t−ởng ở tác dụng của cái bề ngoài của mình:

Quá niên trạc ngoại tứ tuần, Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao

Tr−íc thÇy, sau tí lao xao...

Gã đã quá hai phần đời người mà muốn tỏ ra còn trai lơ, muốn phô

tr−ơng sự sang trọng mà thầy tớ vẫn láo nháo, ô hợp. Cái kiểu bầu đoàn

của gã khi ập vào nhà Kiều tự nhiên làm ta nhớ đến bọn sai nha trước đây.

Gã cần tỏ ra có cái t− thế của kẻ làm chủ tình thế:

Ghế trên ngòi tót sỗ sàng

Cũng có thể là Mã Giám Sinh làm tất cả điều đó chỉ là do thói quen của nghề nghiệp. Cái câu lịch sự duy nhất đ−ợc thốt ra từ miệng gã, nh−

đã được học thuộc lòng từ trước, khi mà giờ phút quyết định đã đến:

Rằng: "Mua ngọc đến Lam Kiều Sính nghi, xin dạy bao nhiêu cho t−ờng?"

Giọng l−ỡi thì có vẻ hoà hoa phong nhã, nh−ng ý nghĩa mua bán thì

thật là lộ liễu, và gã cũng không phải chờ đợi lâu hơn nữa để vứt cái mặt nạ làm v−ớng víu gã:

Cò kè bớt một thêm hai,

Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm.

Thị tr−ờng của gã có nhiều diễn biến hồi hộp, gã không thể nh− Tú Bà ngồi ở nhà ra ân ra oai, khi mà mọi việc đã đâu vào đấy. Gã có đ−ợc ngồi tót vênh vang ở nhà người ta đôi lúc thì cũng không được lâu. Gã phải chạy, gã phải luôn dạo tìm khắp thành thị và thôn quê, vì nghề nghiệp, vì

những thú vui mới đang chờ đợi. Việc Kiều vừa ổn định, Kiều đã thấy gã:

Khi về bỏ vắng trong nhà, Khi vào dùng dắng, khi ra vội vàng,

Khi ăn khi nói lỡ làng,

Khi thÇy khi tí xem th−êng xem khinh.

Không tự ái lôi thôi, Tú Bà đã mắng xả vào mặt gã trước mặt mọi ng−ời, cũng chẳng thấy gã phản ứng gì. Gã chỉ muốn đ−ợc việc. Tr−ớc tài sắc Kiều, cái thói phong tình trong ng−ời gã bừng dậy, gã không ngần ngại nhận mình là "tay phàm". Chuyện trinh tiết, chỉ cần một ít "N−ớc vỏ lựu, máu mào gà" là sẽ giải quyết tất. Thế còn Tú Bà? Gã cũng có nghĩ đến:

Mụ già hoặc có điều gì, Liều công mất một buổi quỳ mà thôi.

Không có gì bộc lộ đầy đủ hơn cái ti tiện đến nhầy nhụa của nhân vật.

Kiều đã gọi Mã Giám Sinh là "giống hôi tanh" là đã trút tất cả cái căm giận, khinh bỉ vào ba tiếng đó. Mỉa mai nhất là ngay cái việc đ−ợc sống l−ơng thiện với giống hôi tanh ấy, Kiều cũng không có quyền lựa chọn:

Lầu xanh của Tú Bà đang mở rộng cửa để chờ đón Kiều!

Kể từ khi gặp chμng Kim

Lê Đình Kị

Sau Thuý Kiều, nhân vật chính của truyện, Nguyễn Du cũng dành cho Kim Trọng số trang nhiều nhất, sau Kiều. Kim Trọng đã vĩnh viễn đi vào

đời Kiều ngay từ màn đầu, và ở màn cuối, Kim Trọng lại hiện ra và cùng Kiều kết thúc câu chuyện.

Kim Trọng là ng−ời tình nhân số một, không chê trách vào đâu đ−ợc.

Kim Trọng mới nghe tiếng Kiều, từ Liêu Dương cách trở, đã trộm nhớ thầm mong, nhác trông bóng Kiều từ xa đã thấy "mặn mà", thoáng gần lại, đã chập chờn cơn tỉnh cơn mê, gặp mặt rồi thì tìm mọi cách gần gũi, khi biết Kiều lưu lạc thì đi đến cùng trời cuối đất tìm cho kì được mới thôi. Nếu Từ Hải đã tát cạn bể oan cho Kiều thì tình yêu của Kim Trọng sẽ trả lại cho Kiều cái mà Kiều đã mất: lòng tin ở cuộc sống và ở chính mình. Bản án của đời Kiều mà Đạm Tiên và Tam Hợp đã từng đọc lên với những lời lẽ ma mị, Từ Hải đã đập tan nó bằng những đạo quân, và Kim Trọng, bằng tấm lòng của mình.

Kim Trọng từ Liêu D−ơng :

Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang

đến với Kiều vừa ung dung vừa quyết liệt, trong tâm trạng và khung cảnh thiên nhiên không thể quên đ−ợc:

Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ ng−ời, Nhớ nơi kì ngộ, vội dời chân đi.

Một vùng cỏ mọc xanh rì, N−ớc ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu.

Những câu thơ phơi phới nhờ đã đ−ợc chắp thêm đôi cánh của tình yêu. Cho đến cả cái buồn khó hiểu của ngọn gió chiều và của ngàn lau kia

Một phần của tài liệu Thiết kế bài giảng ngữ văn lớp 10 tập 2 (Trang 375 - 399)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(412 trang)