Thực trạng QLDH theo quan điểm DHPH ở trường THPT hiện nay

Một phần của tài liệu Quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa ở trường trung học phổ thông Việt Nam hiện nay (Trang 94 - 131)

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DẠY HỌC THEO QUAN ĐIỂM DẠY HỌC PHÂN HÓA Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY

2.2. Thực trạng QLDH theo quan điểm DHPH ở trường THPT hiện

2.2.2. Thực trạng QLDH theo quan điểm DHPH ở trường THPT hiện nay

Dạy học phân hóa là xu thế chung đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm vì đây là quan điểm dạy học hướng vào người học, vì vậy học sinh sẽ phát huy đƣợc hết khả năng của mình. Có thể hiểu dạy học phân hóa là quan niệm dạy học đòi hỏi phải tổ chức, tiến hành các hoạt động dạy học dựa trên sự khác biệt về năng lực, nhu cầu, sở thích...và các điều kiện học tập của người học.

Mục đích của dạy học theo quan điểm DHPH là nâng cao chất lƣợng dạy học theo hướng phát triển tiềm năng cá nhân và góp phần đào tạo nguồn nhân

Để đánh giá QL đổi mới nhận thức của CBQL, GV, HS về dạy học theo quan điểm DHPH, tác giả tiến hành khảo sát bằng phiếu phỏng vấn (phụ lục 1.2). Kết quả khảo sát đƣợc tổng hợp nhƣ sau:

Hầu hết CBQL, GV đƣợc phỏng vấn đã cho ý kiến và đề nghị:

Để QL đổi mới nhận thức trong CBQL, GV,HS người hiệu trưởng phải lên kế hoạch, tổ chức để GV được nghe, bàn, thảo luận và tham quan học tập, dự giờ mẫu mô hình dạy học theo quan điểm DHPH. Điều này hầu hết CBQL các trường cho rằng rất cần thiết nhưng chưa thực hiện tốt.

Ngoài ra, 70% ý kiến trả lời DHPH đã dựa vào sự khác biệt về năng lực, sở thích, nguyện vọng của HS.

48% trả lời DHPH có tập trung các điều kiện học tập nhằm phát triển tốt nhất cho từng người học.

75% trả lời các đối tƣợng khác nhau cần tìm hiểu và thực hiện các phương pháp, kĩ thuật dạy học khác nhau để mỗi HS hoặc mỗi nhóm HS thu đƣợc kết quả học tập tốt nhất.

40% cho rằng DHPH phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Như vậy, từ kết quả khảo sát trên cho thấy để nâng cao nhận thức về dạy học theo quan điểm DHPH, CBQL, GV cho ý kiến và đề nghị nhà trường nên có kế hoạch tổ chức để GV đƣợc nghe, đƣợc bàn và thảo luận, đặc biệt là đƣợc tham quan học tập, dự các giờ lên lớp thể hiện tinh thần phân hóa HS.

Tránh việc quán triệt chung chung, hình thức.

Nguyên nhân của hạn chế về nhận thức, khi đƣợc hỏi về nội dung này, có 30% CBQL và GV trả lời do tuyên truyền chưa sâu rộng trong nhà trường;

52% trả lời do áp lực thi cử và 18% trả lời bản thân họ chƣa quan tâm đúng mức đến DH theo quan điểm DHPH.

2.2.2.2. Thực trạng QL việc thực hiện nội dung chương trình, PPDH và đánh giá kết quả học tập của HS theo quan điểm DHPH

*) Quản lý việc thực hiện nội dung chương trình theo quan điểm DHPH.

Để đánh giá việc thực hiện QL nội dung chương trình ở các trường THPT theo quan điểm DHPH, tác giả tiến hành khảo sát bằng phiếu lấy ý kiến đánh giá của 180 CBQL (phụ lục 3.1). Kết quả khảo sát đƣợc tổng hợp ở Bảng 2.3 (minh họa bằng Biểu đồ 2.3) nhƣ sau:

Tổ chức cho GV nắm vững cấu trúc chương trình dạy học, chuẩn kiến thức kĩ năng...Nội dung này có 25% CBQL trả lời đã thực hiện nhƣng chƣa tốt.

Chỉ đạo tổ chuyên môn trên nguyên tắc cấu tạo khung chương trình, trình tự, khối lượng, yêu cầu, phương pháp đặc trưng bộ môn thiết kế chương trình dạy học chi tiết theo những hướng khác nhau dựa vào năng lực của người học .Nội dung này đƣợc các CBQL là rất cần và cần thiết nhƣng có 31.67%

CBQL cho rằng chƣa thực hiện tốt.

Chỉ đạo tổ chuyên môn thống nhất trong GV cụ thể hóa kế hoạch giảng dạy từng học kì, từng chương, từng bài sao cho phù hợp với đối tượng HS.

Nội dung này đƣợc CBQL nhận thức là rất quan trọng và quan trọng nhƣng vẫn còn 6.67% CBQL đƣợc hỏi chƣa thực hiện.

Chỉ đạo thiết lập các quy định của nhà trường về thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình và tổ chức hiệu quả các quy định đó . Nội dung này đƣợc hầu hết CBQL cho rằng rất cần thiết và cần thiết, nhƣng có tới 41,67% CBQL đánh giá chƣa thực hiện chƣa tốt và 11,11% CBQL cho rằng chƣa thực hiện.

Chỉ đạo bố trí tiết học theo giờ học, buổi học, môn học hợp lý, khoa học . Nội dung này đƣợc CBQL đánh giá là rất cần thiết và cần thiết nhƣng vẫn còn 9,44% CBQL trả lời chƣa thực hiện tốt.

Kiểm tra và có biện pháp xử lý, điều chỉnh kịp thời các tình huống nhanh, chậm khi thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy đã đề ra. Nội

Mặc dù những ý kiến nêu trên chỉ là số ít, nhƣng đây là vấn đề các nhà trường cần phải xem xét và khắc phục.

Nguyên nhân của tồn tại

Ngoài nội dung chương trình còn nặng, phân phối thời lượng đôi chỗ chƣa hợp lý, áp lực thi cử, còn phải nói đến việc tổ chuyên môn chƣa sát sao trong việc yêu cầu GV xây dựng kế hoạch dạy học cá nhân, chƣa có quy trình soạn bài giảng sao cho phù hợp với từng đối tƣợng HS.

Việc thiết lập các quy định của nhà trường về thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình giảng dạy, tổ chức thực hiện các quy định đó theo quan điểm DHPH chƣa có sự chỉ đạo thống nhất.

Kiểm tra đánh giá việc thực hiện nội dung chương trình đôi lúc ở một số trường còn hời hợt; chưa tổ chức kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm việc thực hiện nội dung chương trình theo quan điểm DHPH.

Bảng 2.3. Tổng hợp ý kiến đánh giá nhận thức của CBQL về mức độ thực hiện QL nội dung chương trình theo quan điểm dạy học phân hóa

STT Nội dung đánh giá

Số ý kiến

Ý kiến đánh giá

Nhận thức của CBGV Mức độ thực hiện Rất cần

thiết Cần thiết Không cần thiết

Đã thực hiện tốt

Đã làm nhƣng chƣa tốt

Chƣa làm

SL % SL % SL % SL % SL % SL %

1

Tổ chức cho GV nắm vững cấu trúc chương trình dạy học, chuẩn kiến thức kĩ năng…

180 115 63.89 62 34.44 3 1,66 133 73.89 45 25.00 02 1.11

2

Tổ chức cho GV thiết kế chương trình DH chi tiết theo những hướng khác nhau dựa vào năng lực của người học….

180 145 80.56 31 17.22 4 2.22 120 66.67 57 31.67 03 1.66

3

Chỉ đạo tổ bộ môn thống nhất trong GV kế hoạch giảng dạy chi tiết từng học kì, từng chương, từng bài phù hợp với từng đối

tƣợng HS. 180 128 71.11 50 27.77 02 1.11 126 70.00 42 23.33 12 6.67

4

Chỉ đạo thiết lập các quy định của nhà trường về thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình và tổ chức thực hiện hiệu quả các quy định đó

180 119 66.11 63 35.00 2 1.11 85 47.22 75 41.67 20 11.11

5

Chỉ đạo bố trí tiết học theo giờ học, buổi học, môn học hợp lý, khoa học

180 150 83.33 30 16.67 0 0 162 90.00 17 9.44 1 0.56

6

Kiểm tra và có biện pháp xử lý, điều chỉnh kịp thời các tình huống nhanh, chậm chương trình, KH giảng dạy đã đề ra.

180 96 53.33 77 42.77 7 3.89 162 90.00 16 8.89 2 1.11

Biểu đồ 2.3. Tổng hợp ý kiến đánh giá nhận thức của CBQL về mức độ thực hiện QL nội dung chương trình theo quan điểm dạy học phân hóa.

*) Thực trạng QL công tác đổi mới PPDH theo quan điểm DHPH

Quản lý đổi mới PPDH theo quan điểm DHPH ở trường THPT là một trong những yếu tố cơ bản, quan trọng tác động đến chất lƣợng, hiệu quả dạy học của nhà trường và tới việc hình thành, phát triển nhân cách của người học sinh.

Để đánh giá thực trạng QL công tác đổi mới PPDH theo quan điểm DHPH, tác giả sử dụng phiếu điều tra (phụ lục 2.1), kết quả điều tra (bảng 2.1) cho thấy: chỉ có 58,14% ý kiến cho rằng cần thiết phải sử dụng kết hợp nhiều PPDH và hình thức dạy học khác nhau khi lên lớp. Thậm chí, còn có một tỉ lệ không nhỏ số GV đã xác nhận chƣa thực hiện theo cách thức này (7,56%

cho rằng chưa sử dụng nhiều phương pháp; 4,56% cho rằng chưa kết hợp các hình thức học tập của học sinh trong giảng dạy). Do đó việc thực hiện hoạt động dạy học phân hóa theo các mục tiêu bậc 1, bậc 2, bậc còn nhiều khó khăn.

Từ kết quả trên, có thể nhận xét rằng, việc QL công tác đổi mới PPDH theo quan điểm DHPH ở trường THPT chưa thực hiện tốt.

Vấn đề này đều có nguyên nhân từ quản lý giáo dục, quản lý nhà trường. có thể kể tới nhiều nguyên nhân của vấn đề này như sau:

- Kiến thức và kĩ năng chuẩn được thiết kế trong chương trình còn quá nặng (có thể được coi là chương trình quá tải), song việc đánh giá thi tốt nghiệp phổ thông lại quá coi trọng về kiến thức và kỹ năng chuẩn đã quy định. Do đó, trong dạy học có xu hướng “Thi thế nào thì dạy thế nấy”. Việc giảng dạy của GV cũng như việc quản lý thực hiện chương trình giảng dạy đều phải bám theo nội dung SGK với những PPDH truyền thống (GV truyền thụ kiến thức, HS ghi chép máy móc để học thuộc- phương pháp đọc chép).

Nhà trường và GV đều e ngại việc đổi mới PPDH, nếu tỉ lệ thi tốt nghiệp mà không cao, thì mọi công sức và cố gắng đều không đƣợc tính đếm tới.

- Trong nhiều năm trở lại đây, hoạt động dạy học của GV và quản lý nhà trường đều đã xác định xu hướng “Lấy học sinh làm trung tâm”, song, chƣa có các văn bản quy định có tính pháp lý một cách hệ thống để đảm bảo cho việc thực hiện xu hướng đó có hiệu lực và hiệu quả. Đó là vấn đề phân cấp trong quản lý nhà trường và vấn đề đề cao vai trò tự chủ của Tổ chuyên môn và GV trong việc thực hiện lựa chọn nội dung chương trình và PPDH.

Do đó, trong cách thức quản lý nhà trường nhiều nơi còn rất đa dạng, tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi nhà trường. Có nơi, cấp tổ chuyên môn và GV chỉ là cấp chấp hành các quyết định của các cơ quản quản lý cấp trên và quyết định của hiệu trưởng, mọi đề xuất đổi mới đều không được chấp nhận. Có nơi, Hiệu trưởng lại giao phó cho Phó Hiệu trưởng nhà trường chỉ đạo. Tất cả các kiểu quản lý trên đều thiếu tính pháp lý, nhất quán và đảm bảo tính hệ thống để có được hiệu lực và hiệu quả trong quản lý dạy học của nhà trương.

- Đội ngũ GV là lực lƣợng quyết định sự thành bại của quá trình đổi mới PPDH và giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lƣợng giáo dục.

Hiện nay theo nhiều nguồn thống kê cho thấy các trường THPT có lực lượng GV đảm bảo về số lƣợng (nhiều nơi dƣ thừa với tỉ lệ số GV / lớp khá cao so với định mức quy định của nhà nước), trình độ đào tạo cũng đồng đều đạt chuẩn, số GV có trình độ trên chuẩn đã chiếm tỉ lệ đáng kể. Tuy nhiên, các trường THPT vẫn còn thiếu lực lượng GV có chất lượng để đảm nhận dạy học theo hướng đổi mới. Có thể thấy đội ngũ GV còn tồn tại hai vấn đề : Một là, trong quản lý nhà trường chưa thực sự tiến hành phân loại đội ngũ GV để trển cơ sở đó bố trí, sử dụng hợp lý và có hiệu quả. Bởi lẽ, trong số GV đạt chuẩn hoặc thậm chí trên chuẩn nhƣng vẫn có sự bất cập về năng lực sƣ phạm. Hai là, chúng ta chƣa có những quy định QL lực lƣợng GV trên chuẩn một cách có hiệu quả.

*) Thực trạng QL công tác đánh giá kết quả học tập của HS

Kết quả học tập của HS là sự phản ánh hiệu quả của quá trình dạy học của GV và quá trình lĩnh hội tri thức của HS.

Để khảo sát thực trạng QL công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo quan điểm DHPH ở trường THPT hiện nay, tác giả tiến hành điều tra qua việc trưng cầu ý kiến của đội ngũ CBQL một số trường THPT (phụ lục 3.5), kết quả đƣợc tổng hợp ở Bảng 2.4 (minh họa bằng Biểu đồ 2.4) nhƣ sau:

Chỉ đạo cải tiến nội dung và phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục đích yêu cầu bài học, trình độ nhận thức của HS… Nội dung này đƣợc CBQL nhận thức là rất cần thiết và cần thiết nhƣng có 29.45% CBQL trả lời chƣa thực hiện tốt và 3.89% CBQL trả lời chƣa thực hiện.

Chỉ đạo tổ chuyên môn kiểm tra đột xuất sổ điểm, bài kiểm tra,…Nội dung này đƣợc CBQL đánh giá là rất cần thiết và cần thiết nhƣng có 47.78%

CBQL trả lời chƣa thực hiện tốt và 10% CBQL trả lời chƣa thực hiện.

Chỉ đạo tổ chuyên môn phân công GV ra đề thi học kì đáp ứng quy định của DH theo quan điểm DHPH, phù hợp với năng lực, nhu cầu của HS và đáp ứng được mục tiêu đào tạo…Nội dung này đƣợc CBQL đánh giá là rất cần thiết và cần thiết nhƣng vẫn có 42.23% CBQL trả lời chƣa thực hiện tốt.

Tổ chức kiểm tra, thi một cách dân chủ công khai, công bằng. Nội dung này đƣợc CBQL đánh giá là rất cần thiết và cần thiết nhƣng có tới 18,34%

CBQL trả lời đã thực hiện nhƣng chƣa tốt và 1,12% trả lời chƣa thực hiện.

Bảng 2.4. Tổng hợp ý kiến đánh giá của CBQL về nhận thức và mức độ thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo quan điểm dạy học phân hóa

stt

Nội dung Số ý

kiến

Ý kiến đánh giá

Nhận thức của CBGV Mức độ thực hiện Rất cần

thiết Cần thiết Không cần thiết

Đã thực hiện tốt

Đã làm nhƣng chƣa tốt

Chƣa làm

SL % SL % SL % SL % SL % SL %

1 Phổ biến cho GV các văn bản quy định về

chế độ kiểm tra, cho điểm, xếp loại HS… 180 136 75.56 44 24.45 0 0 140 77.78 40 22.23 0 0 2 Chỉ đạo cải tiến đổi mới pp kiểm tra, đánh

giá phù hợp với năng lực nhận thức của HS,…

180 107 59.45 71 39.45 2 1.12 120 66.67 53 29.45 7 3.89 3 Chỉ đạo tổ chuyên môn kiểm tra đột xuất

sổ điểm, bài kiểm tra,… 180 83 46.12 85 47.23 12 6.67 76 42.23 86 47.78 18 10.00 4 Chỉ đạo tổ chuyên môn phân công GV ra

đề thi học kì đáp ứng quy định DH theo quan điểm DHPH

180 66 36.67 108 60.00 6 3.34 97 53.89 76 42.23 7 3.39 5 Tổ chức kiểm tra, thi một cách dân chủ,

công khai và công bằng. 180 98 54.45 81 45.00 1 0.56 145 80.56 33 18.34 2 1.12

Biểu đồ 2.4. Tổng hợp ý kiến đánh giá của CBQL về nhận thức và mức độ thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo quan điểm dạy học phân hóa

2.2.2.3. Thực trạng QL hoạt động dạy của GV theo quan điểm DHPH

*) Thực trạng QL việc phân công giảng dạy cho GV theo quan điểm dạy học phân hóa

Người hiệu trưởng cần nhận thức được việc phân công phải xuất phát từ yêu cầu của việc giảng dạy và quyền lợi học tập của toàn thể HS. Phân công GV trước hết phải vì sự tiến bộ của cả tập thể sư phạm, tạo điều kiện người giỏi kèm người chưa có kinh nghiệm, người còn yếu, đồng thời chú ý đúng mức đến khả năng tiếp thu kiến thức của HS. Phân công giảng dạy cho đội ngũ GV một cách hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường sẽ góp phần nâng cao chất lƣợng giảng dạy.

Cuối năm học, hiệu trưởng xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục cho năm học sau, khi đƣợc Sở GD&ĐT phê duyệt thì thông báo các tổ chuyên môn thảo luận, dự kiến phân công giảng dạy của tổ. Căn cứ vào đề xuất của các tổ chuyên môn, hiệu trưởng cùng phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn tổng hợp dự kiến phân công của các tổ và quyết định sao cho đảm bảo quyền lợi tối đa của người học và thể hiện được tính dân chủ trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu của việc giảng dạy, phù hợp với năng lực, sở trường của GV, thâm niên nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình và nguyện vọng cá nhân.

Bên cạnh việc phân công giảng dạy, chủ nhiệm, công tác xếp thời khóa biểu cũng được các hiệu trưởng quan tâm, sắp xếp các giờ học phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS, với đặc điểm môn học,…có chú ý đến tính ổn định của thời khóa biểu.

Để khảo sát thực trạng QL việc phân công giảng dạy cho GV, tác giả tiến hành khảo sát (phụ lục 3.2). Tổng hợp kết quả khảo sát ở Bảng 2.5 (minh họa bằng Biểu đồ 2.5) cho thấy: CBQL các trường được khảo sát đều đánh giá QL việc phân công giảng dạy cho GV tương đối tốt.

Bảng 2.5. Tổng hợp ý kiến đánh giá của CBQL về nhận thức và mức độ thực hiện công tác phân công GV giảng dạy theo quan điểm dạy học phân hóa

STT Những căn cứ để phân công nhiệm vụ giảng dạy cho GV

Số ý kiến

Ý kiến đánh giá

Nhận thức của CBGV Mức độ thực hiện

Rất cần

thiết Cần thiết Không cần thiết

Đã thực hiện tốt

Đã làm nhƣng chƣa tốt

Chƣa làm

SL % SL % SL % SL % SL % SL %

1 Theo năng lực, trình độ

180 113 62.78 66 36.67 1 0.55 145 80.55 32 17,78 3 1.67

2 Theo nguyện vọng và đúng

chuyên ngành đào tạo 180 146 81.11 34 18.89 0 0.00 122 67.78 42 11.11 16 8.89

3 Theo đề nghị của tổ bộ môn 180 106 58.89 67 37.22 7 3.89 145 80.55 33 18.33 2 1.11

4 Phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị

180 94 52.22 78 43.33 8 4.44 143 79.44 35 19.45 2 1.11

Một phần của tài liệu Quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa ở trường trung học phổ thông Việt Nam hiện nay (Trang 94 - 131)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(257 trang)