- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ : 500
- Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp: 65,4 - Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh : 23
5. Nhận xét, đánh giá phương pháp lập báo cáo kết quả kinh doanh trước và sau khi lập lại.
Phương pháp lập báo cáo kết quả kinh doanh sau khi lập lại chính xác hơn. Vì, có đầy đủ thông tin hơn, như:
- Giá trị các loại tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ.
- Các khoản chi phí phát sinh được chi tiết cho sản xuất và ngoài sản xuất.
- Các loại chi phí phát sinh được tập hợp cho từng khoản mục tính giá thành một cách rõ ràng hơn, chính xác hơn.
2.2.4. Đánh giả hàng tồn kho
Việc xác định giá trị hàng tồn kho là một vấn đề hết sức quan trọng xét từ quan điểm lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Bởi vì, những phí tổn không được đưa vào tồn kho sẽ được coi là những khoản chi phí thời kỳ và được đưa vào báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Còn những phí tổn được đưa vào hàng tồn kho sẽ được đưa vào bảng cân đối kế toán. Như vậy, việc xử lý và đánh giá hàng tồn kho có tác động đến việc đánh giá kết quả kinh doanh lãi hoặc lỗ, hoặc xác định giá trị của tài sản được thể hiện trên bản cân đối kế toán của doanh nghiệp-.
- Các khoản giảm trừ - Doanh thu thuần - Giá vốn hàng bán - Lợi nhuận gộp
0
411,6 88,4 500
Giá trị hàng tồn kho của doanh nghiệp thường được xác định bằng công thức sau đây:
Giá trị hàng tổn kho = ỵ (Số lượng hàng tốn kho X đơn giá hàng tồn kho) Số lượng hàng tồn kho được xác định trên cơ sở được đo đếm thực tế hoặc trên cơ sở hồ sơ kiểm kê tồn kho thường xuyên.
Đơn giá hàng tồn kho, bao gồm: Giá hoá đơn + các khoản chi phí và vận chuyển, bảo quản, bốc xếp và các khoản chi phí khác trừ các khoản chiết khấu được thưởng.
Do đơn giá hàng tồn kho là yếu tố rất cơ bản cần được xem xét khi ước giá hàng tồn kho, nên việc lựa chọn phương pháp ước giá thích hợp sẽ phải xét đến sự ảnh hưởng trực tiếp của các phương pháp đó tới giá vốn hàng bán và như vậy, sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận thu được trong kỳ của doanh nghiệp.
Để đánh giá hàng tồn kho, thông thường có ba phương pháp ước giá sau đây:
- Phương pháp nhập trước, xuất trước.
- Phương pháp nhập sau, xuất trước.
- Phương pháp bình quân gia quyền Bài tập số 2:
Có tình hình cung cấp và sử dụng một loại nguyên vật liệu trong tháng 8 năm N của một doanh nghiệp sản xuất, như sau:
ĐVT: w o o d
N gày n hập Số lượng (cái) Đơn g iá ổn định Đơn g iá tă n g lê n Đơn g iá g iả m x u ố n g
1/8 20 100 100 100
15/8 40 100 102 97
31/8 30 100 105 94
Giả sử đầu kỳ không có hàng tồn kho, cuối kỳ tồn kho là 20 cái.
Yêu cầu:
Xác định giá trị nguyên vật liệu tồn kho và đưa vào sản xuất sản phẩm theo các phương pháp trên cho cả ba trường họp: Đon giá ổn định, đon giá tăng lên, đon giá giảm xuống.
Bài giải:
Từ số liệu ở biểu trên, có thể tính toán và xác định giá trị nguyên vật liệu tồn kho và đưa vào sản xuất sản phẩm theo 3 phưong pháp với giá phí cho cả ba trường hợp: Đon giá ổn định, đon giá tăng lên, đon giá giảm xuống theo biểu sau đây:
ĐVT: lOOOđ
C h ỉ tiêu n h ập trư ở c
x u ấ t trước
B ìn h q uân g ia quyển
N hập sau x u ấ t trước
A. Mức giá ổn định:
-G iá trị N V Ltố n k h o cuối kỳ 2.00 0 2.00 0 2.00 0
-G iá trị N VL đưa v à o sản xuất 7.00 0 7 .0 0 0 7 .0 0 0
B. Mức giá tăn g lên
-G iá trị N VL tổn c u õ ik ỳ 2.10 0 2.051 2.00 0
- Giá trị N V I đưa v à o sản xuất 7.13 0 7 .1 7 8 7.23 0
c. Mức giá giảm x u ố n g
-G iá trị N VL tốn c u ó ik ỳ 1.880 1.933 2.00 0
- Giá trị N VL đưa v à o sản xuất 6.820 6 .7 6 6 6.70 0
Từ kết quả tính toán ở trên, có thể rút ra những nhận xét sau đây:
- Khi mức giá ổn định: Mọi phưong pháp ước giá đều cho cùng một kết quả.
- Khi mức giá tăng lên: Phưong pháp nhập sau xuất trước cho giá phí đưa vào sản xuất trong kỳ là cao nhất, giá trị nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ là thấp nhất, do đó lãi cũng thấp nhất.
- Khi mức giá giảm xuống: Phưong pháp nhập sau xuất trước cho giá phí đưa vào sản xuất là thấp nhất và giá trị nguyên vật liệu tồn kho là cao nhất. Còn phương pháp nhập trước xuất trước trong trường hợp này thì ngược lại.
Từ sự phân tích trên cho thấy: Việc đánh giá và lựa chọn phương pháp ước giá hàng tồn kho có thể nói không có phương pháp ước giá hàng tồn kho nào được xem là tốt nhất. Cả ba phương pháp: Nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước và bình quân gia quyền phù hợp với các tình huống khác nhau. Do các phương pháp ước giá khác nhau có tác động khác nhau tới việc xác định thu nhập và định giá tài sản nên việc cân nhắc để áp dụng phương pháp nào là thích hợp phải được xem xét trên hai góc độ:
- Ý nghĩa đối với việc xác định thu nhập của doanh nghiệp.
- Ý nghĩa đối với việc đánh giá tài sản.
2.3. PHÂN LOẠI CHI PHÍ ĐỂ RA CÁC QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, quản trị của các cấp quản lý trong nội bộ doanh nghiệp phải luôn luôn quan tâm đến việc quản lý chi phí. Bởi vì, mỗi đồng chi phí bỏ ra đều ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Do vậy, việc cung cấp những thông tin hữu ích về chi phí phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh hợp lý là một vấn đề có ý nghĩa rất lớn trong công tác cải tiến quản lý kinh tế của doanh nghiệp. Đe phục vụ thông tin cho việc ra các quyết định, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được phân loại theo các tiêu thức sau đây:
2.3.7. Phân loại chi phí theo chức nâng hoạt động
Với cách phân loại này giúp quản trị doanh nghiệp thấy rõ vị trí, chức năng hoạt động của chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, nó còn là căn cứ để xác định giá thành sản phẩm của doanh nghiệp và cung cấp những thông tin một cách có hệ thống cho việc lập báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp.
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành:
2.3.1.1. Chi phí sản xuất:
Là loại chi phí chế tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp, bao gồm 3 khoản mục chi phí cơ bản:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK621).
Dưới góc độ của kế toán quản trị, chi phí nguyên vật liệu được chia thành 2 loại: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hay còn gọi là chi phí tách biệt - loại chi phí này chỉ liên quan đến một loại sản phẩm nào đó. Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp là loại chi phí có liên quan đến nhiều loại sản phẩm, không thể tách trực tiếp cho từng sản phẩm hoặc cho từng loại sản phẩm và do đó, phải tập hợp vào chi phí sản xuất chung để phân bổ.
- Chi phí nhân công trực tiếp (TK622).
Dưới góc độ kế toán quản trị, chi phí nhân công của doanh nghiệp cũng chia thành 2 loại: Chi phí nhân công trực tiếp là loại chi phí cũng giống như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nó có thể tách biệt cho từng loại sản phẩm. Cho nên, có thể tính trực tiếp cho từng sản phẩm hoặc từng loại sản phẩm. Chi phí nhân công gián tiếp là loại chi phí không trực tiếp tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ, nhưng nó lại không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí lao động gián tiếp cũng không thể tách trực tiếp cho một sản phẩm nào đó. Cho nên, nó cũng phải tập hợp vào tài khoản chi phí sản xuất chung để phân bổ.
- Chi phí sản xuất chung (TK627)
Dưới góc độ của kế toán quản trị, chi phí sản xuất chung cũng bao gồm rất nhiều loại chi phí mà không có liên quan trực tiếp đến một sản phẩm hay một loại sản phẩm, hay một công việc cụ thể nào.
Cho nên, nó phải được tập hợp để phân bổ cho từng sản phẩm, từng loại công việc.
2.3.1.2. Chi phí ngoài sản xuất
Là những chi phí ngoài khâu sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp, bao gồm 2 khoản mục chi phí cơ bản:
- Chi phí bán hàng (TK641).
- Chi phí quản lý doanh nghiệp (TK642).
Ngoài việc phân chia chi phí sản xuất thành 3 khoản mục chi phí cơ bản như trên, kế toán quản trị còn chia chi phí sản xuất thành 2 loại: Chi phí ban đầu và chi phí chuyển đổi.
-'Chi phí ban đầu: Là khoản chi phí đầu tiên, chủ yếu của sản phẩm. Đó là sự kết hợp giữa chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Chi phí ban đầu là những căn cứ để lập kế hoạch về lượng chi phí chủ yếu, cần thiết để sản xuất ra một loại sản phẩm nhất định.
- Chi phí chuyển đổi: Là những khoản chi phí cần thiết để chuyển đổi nguyên vật liệu từ dạng thô thành dạng sản phẩm của doanh nghiệp. Đó là sự kết hợp giữa chi phí nhân công trực tiếp với chi phí sản xuất chung. Chi phí chuyển đổi cũng là những căn cứ để lập kế hoạch về lượng chi phí cần thiết phục vụ chế biến một lượng nguyên vật liệu nhất định thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Bài tập số 3:
Một doanh nghiệp chuyên sản xuất ghế đệm, giường đệm. Có tài liệu sau đây thu thập được về tình hình sản xuất ghế, giường đệm trong tháng 8/N, như sau: (ĐVT: l.OOOđ)