Sửa chữa các h hỏng ở mố, trụ cầu

Một phần của tài liệu Sách kiểm định cầu Đại học GTVT (Trang 36 - 41)

- Nứt ở thân mố, trụ, nứt trên xà mũ trụ.

- Bê tông ở phạm vi mực nớc lên xuống bị ăn mòn chất dính kết trơ cốt liệu, bê tông bị phong hoá, vỡ, tróc mảng.

- Cột thép, cọc thép bị gỉ.

- Móng bị xói, lở.

- Móng bị lún, nhất là lún không đều làm cho mố, trụ bị nghiêng lệch, bị nứt.

3.4.2. Nứt bê tông ở mố, trụ.

3.4.2.1. Nguyên nhân của tình trạng nứt ở mố, trụ.

- Do co ngót bê tông, những vết nứt này thờng nhỏ và nhọn dần về hai đầu.

- Nứt do lún không đều của nền, các vết nứt này có thể lớn và có phơng thẳng

đứng hoặc có góc nghiêng không lớn hơn so với phơng thẳng đứng.

- Nứt do ứng suất pháp,ởtên xà mũ các vết nứt do ứng suất pháp có phơng thẳng

đứng hoặc gần nh thẳng đứng, có độ mở rộng vết nứt nhỏ dần về phía chịu nén và thờng xuất hiện ở mặt cắt giữa hoặc mặt cắt sát cột của trụ thân cột, trên thân mố, trụ các vết nứt này thờng có phơng nằm ngang và nhiều khi độ mở rộng vết nứt khá lớn..

- Do chiều dày lớp bê tông bảo vệ không đủ, nớc thấm vào làm gỉ cốt thép, cốt thép gỉ trơng nở thể tích đẩy nứt và đẩy vỡ lớp bê tông bên ngoài, các vết nứt hoặc vỡ bê tông này thờng nằm dọc theo cốt thép ở bên trong.

- Do va chạm của thuyền bè. Khi thuyền bè va chạm vào thân cột trụ có thể gây ra nứt hoặc vỡ bê tông, nghiêm trọng hơn có thể làm gãy cọc hoặc làm sập đổ trụ dẫn đến sập cầu.

3.4.2.2. Phơng pháp sửa chữa khi độ mở rộng vết nứt lớn hơn 0,3mm.

Khi độ mở rộng vết nứt nhỏ hơn hay bằng 0,3mm thì không thể bơm vữa hoặc keo, khi đó có thể phủ lên bề mặt vết nứt một lớp vữa hoặc keo nh ở phần xử lý vết nứt cho kết cấu nhịp BTCT, ở đây chỉ xét trờng hợp vết nứt có độ mở rông vết nứt lớn hơn 0,3mm.

- Thi công kết cấu ngăn nớc nếu tại thời điểm sửa chữa vết nứt nằm ở dới nớc.

- Bơm nớc và làm sạch vết nứt. Trờng hợp hai bên mép vết nứt có rêu bám cần

đục hết phần bê tông có rêu bám trớc khi làm sạch vết nứt. Khi xử lý bằng bơm keo thì cần làm khô vết nứt.

- Trám vá các vết nứt đã đợc đục rộng để làm sạch.

- Bơm keo, vữa vào vết nứt theo trình tự nh đã nêu ở trên.

- Nếu trên thân trụ có nhiều vết nứt, vỡ bê tông có thể sửa chữa theo trình tự sau:

+ Làm vòng vây ngăn nớc, tuỳ theo mực nớc thi công có thể làm vòng vây

đất hoặc vòng vây cọc ván.

+ Bơm nớc ra để sao cho toàn bộ phần cần sửa chữa nằm trên mực nớc.

+ Đục bỏ hết phần bê tông bị h hỏng ở quanh vết vỡ hoặc rêu bám ở vết vỡ ở mép vết nứt.

+ Nếu có những vết nứt vỡ do cốt thép bên trong bị gỉ gây ra cần đục bỏ hết bê tông bên ngoài và làm sạch gỉ trên cốt thép, khi cốt thép bị gỉ đứt hoặc làm tiêu hao tiết diện ban đầu cần hàn bù cốt thép sau đó dùng vữa hoặc bê tông trám vá vào phần bê tông đã đục bỏ.

+ Khoan các lỗ trong bê tông cũ, chôn neo liên kết giữa bê tông cũ và bê tông của lớp vỏ sắp bọc.

+ Lắp đặt cốt thép của lớp bê tông bọc, cần hàn cốt thép với neo đã chôn trong bê tông cũ để định vị cốt thép.

+ Lắp đặt ván khuôn.

+ Đổ bê tông lớp bọc, khi bê tông lớp bọc đã đông cứng, tháo dỡ ván khuôn, hoàn thiện.

+ Tháo dỡ thiết bị ngăn nớc.

3.4.3. Bê tông bị ăn mòn, bị phong hoá, cờng độ bê tông suy giảm 3.4.3.1. Nguyên nhân.

- Chất lợng bê tông không tốt, trong nớc hoặc trong cốt liệucủa bê tông có muối, có tạp chất.

- Bị mài mòn. Bề mặt bê tông chịu tác động trực tiếp của nớc chảy, sóng vỗ v.v...

sẽ bị mài mòn dần, trớc mắt chất kết dính bị mài mòn trơ cốt liệu.

- Điều kiện xấu của môi trờng xung quanh, nớc mặn, nớc thải của khu công nghiệp, khu vực dân c cha đợc xử lý có muối, axít và các hoá chất khác làm cho bê tông bị ăn mòn, bị phong hoá nhất là ở những vị trí bê tông bị rỗ, bị nứt, ở đó bê tông sẽ bị suy giảm với tốc độ mạnh hơn.

3.4.3.2. Phơng pháp sửa chữa.

- Làm thiết bị ngăn nớc nếu vùng bị h hỏng nằm dới mực nớc thi công.

- Đục bỏ hết phần bê tông đã bị h hỏng, nếu tại đó có cốt thép và cốt thép đã bị gỉ cần hàn bù diện tích đã bị tiêu hao do gỉ.

- Làm sạch bề mặt cả bê tông và cốt thép.

- Nếu khối lợng ít có thể trám vá bằng vữa ximăng cát hoặc bê tông thờng cốt liệu nhỏ.

- Nếu khối lợng nhiều có thể phun vữa hoặc bê tông vào bề mặt. Khi phun cần di chuyển sao cho vòi phun vuông góc với bề mặt cần phun, chiều dày mỗi lớp phun phụ thuộc vào phun từ dới lên hoặc phun vào bề mặt thẳng đứng, thông th- ờng chiều dày mỗi lớp từ 2cm đến 8cm, khi phun tuỳ tình hình cụ thể mà điều chỉnh chiều dày sao cho lớp phun không bị tróc mảng và số lợng lớp phun ít. Sau khi phun đủ chiều dày dùng bay hoặc bàn xoa làm phẳng bề mặt.

- Bảo dỡng vữa hoặc bê tông đến khi đông cứng.

- Hoàn thiện, tháo dỡ thiết bị phục vụ thi công.

3.4.4. Cột thép, cọc thép bị gỉ.

3.4.4.1. Nguyên nhân.

- Lớp sơn bảo vệ bị h hỏng hoặc quá niên hạn mà cha sơn lại.

- Tác động của môi trờng: không khí ẩm, mặn, nớc mặn, nớc thải từ nhà máy, khu công nghiệp, khu dân c có các thành phần gây gỉ nh axít, muối v.v... trờng hợp này gỉ phát triển mạnh nhất trên đoạn nằm trong phạm vi dao động của mực níc.

- ở miền Nam nớc ta nhiều cầu có cọc thép trong nhồi bê tông cốt thép, bê tông nhồi trong cọc thờng bị rỗ, thậm chí có chỗ bê tông không chiếm hết không gian tạo thành những lỗ hổng. Vì một lý do nào đó chẳng hạn cọc bị gỉ thủng ở một chỗ nào đó nớc sẽ vào trong cọc làm gỉ cốt thép và gỉ cột từ trong ra.

3.4.4.2. Phơng pháp sửa chữa.

- Phần cột hoặc cọc nằm trên mực nớc cao nhất có thể sửa chữa bằng sơn lại (xem phần trên), tuy nhiên nếu chiều dài phần này không lớn và phần dới bọc bê tông thì cũng có thể bọc bê tông.

- Phần cột hoặc cọc ngập trong nớc nhất là trong mực nớc lũ hàng năm có thể sửa chữa bằng cách bọc bê tông.

+ Làm thiết bị ngăn nớc.

+ Sửa chữa các h hỏng nếu có, chẳng hạn hàn bù tiết diện chỗ đã bị gỉ thủng hoặc gỉ gần thủng, sau đó làm sạch bề mặt. Thông thờng thì phần cọc thép chôn trong đất rất ít bị gỉ cho nên chỉ cần bọc đến mặt đất hoặc dới mặt đất 0,5m là đủ, chú ý mặt đất ở đây là đã xét đến xói.

+ Lắp đặt cốt thép của lớp bê tông bọc, hàn các thanh thép liên kết giữa mặt ngoài của cột hoặc cọc với lới cốt thép, các thanh thép hàn vừa để liên kết,

để định vị lới cốt thép và giữ khoảng cách giữa lới thép với mặt ngoài của cột hay cọc.

+ Lắp đặt ván khuôn, nếu chiều cao lớp bê tông bọc lớn có thể lắp ván khuôn thành nhiều đợt hoặc lắp một đợt nhng phải có cửa sổ để đổ và đầm bê tông.

+ Đổ bê tông, thông thờng ở đây chỉ dùng bê tông thờng có thể có thêm phụ gia nh phụ gia đông cứng nhanh v.v...

+ Bảo dỡng bê tông đến khi đông cứng, hoàn thiện và tháo dỡ các thiết bị phục vụ thi công.

3.4.5. Xói lở, lún sụt.

3.4.5.1 Nguyên nhân.

- Dòng chảy bị thu hẹp do các công trình xây dựng ở thợng và hạ lu, nhiều cầu cũ dòng chảy không bị thu hẹp nhng lu lợng dòng chảy tăng lên vì nhiều lý do khác nhau nh chặt, phá rừng v.v... khẩu độ thoát nớc không đủ dẫn đến tăng chiều sâu xói làm xói lỏ móng mố, trụ, chân khay của phần tứ nón và mái dốc tr- ớc mố bị xói lở dẫn đến làm h hỏng phần tứ nón và mái dốc trớc mố.

- Sự thay đổi dòng chảy dẫn đến dòng nớc hớng về một bên làm cho mố, trụ ở bên đó bị xói lở.

- Chất lợng thi công không tốt nh đất ở phần tứ nón và mái dốc không đợc đầm chặt, móng của chân khay không đảm bảo ( đặt trên đất không tốt, cha nằm dới

đờng xói lở), mái dốc của phần tứ nón không phải là đá xây mà chỉ xếp đá, miết mạch, khi ngập nớc đất đắp bị lún, chân khay sụt lở làm mố bị xói lở.

3.7.5.2. Phơng pháp sửa chữa.

- Sửa chữa mái dốc trớc mố, mái dốc phần tứ nón.

+ Phá bỏ phần đá xây hoặc đá lát đã bị sụt lở, nứt nẻ.

+ Dọn sạch mặt đất ở dới.

+ Đổ cát, đất và đầm chặt cho đến cao độ thiết kế.

+ Xây đá. Đá xây phải sạch, đủ cờng độ (400daN/cm2) không bị nứt nẻ, không có kích thớc quá nhỏ, vữa xây phải đủ cờng độ. Tới nớc trớc khi xây, phải xây mà không lát đá miết mạch. Nếu dùng đá cũ để xây lại phải đục bỏ phần vữa xây cũ còn bám trên đá, rửa sạch trớc khi xây.

+ Bảo dỡng vữa xây cho đến khi đông cứng.

- Sửa chữa chân khay bị sụt lở.

+ Nếu chân khay nằm trong nớc thì trớc khi sửa chữa phải làm thiết bị ngăn nớc, nên thi công vào mùa khô.

+ Đục bỏ hết phần đá xây ở chân khay đã bị sụt lở và bị nứt nẻ.

+ Đóng cọc gia cố chân khay, ở miền Bắc thờng dùng cọc tre, miền Nam hay dùng cừ chàm hoặc cọc BTCT, chiều sâu mũi cọc và số lợng cọc tuỳ theo địa chất dới chân khay. Nếu địa chất tốt và chân khay đã nằm dới đờng

Một phần của tài liệu Sách kiểm định cầu Đại học GTVT (Trang 36 - 41)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(41 trang)
w