FDI do các nước đang phát triển cung cấp đang tăng mạnh

Một phần của tài liệu triển vọng và thách thức của việt nam trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các quốc gia trong khối asean (Trang 22 - 27)

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ FDI VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM- ASEAN

1.2 Xu hướng vận động của các dòng vốn FDI trên thế giới

1.2.2 FDI do các nước đang phát triển cung cấp đang tăng mạnh

Mặc dù vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn, lƣợng vốn FDI do các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi cung cấp đang có xu hướng ngày càng tăng lên và tăng mạnh từ 11.2% tổng vốn FDI toàn cầu năm 2000 lên 29.3% năm 2010. Các nhà đầu tƣ từ khu vực Nam Á, Đông Nam Á và khu vực châu Mỹ Latinh là những động lực chính cho sự tăng trưởng mạnh của dòng vốn FDI do các nước đang phát triển cung cấp. Dòng vốn FDI từ Hong Kong và Trung Quốc tăng lên mức k lục là 76 tỷ USD và 68 tỷ USD trong năm 2012. Các công ty của Trung Quốc tiếp tục tham gia tích cực vào việc mua lại tài sản ở nước ngoài trong nhiều ngành và tại nhiều nước và năm 2010 Trung Quốc đã vượt Nhật Bản về tổng vốn FDI ra nước ngoài. Nhờ tăng trưởng kinh tế mạnh, các nước đầu tư lớn từ châu Mỹ Latinh như Braxin, Chile, Colombia và Mehico đã tăng cường các hoạt động mua lại ở nước ngoài, đặc biệt là tại các nước phát triển khi các cơ hội đầu tư tăng lên sau khủng hoảng.

FDI vào l nh vực khai thác mỏ ( dầu khí, khai thác kim loại và các hoạt động khai thác khác) chiếm một phần quan trọng trong tổng FDI vào khu vƣc Nam Á, Đông Á, và Đông Nam Á, trong đó Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Malaixia là những nước đầu tư lớn. Mặc dù nếu t nh theo lượng FDI t ch lũy, tỷ trọng của ngành khai khoáng hiện vẫn không lớn, nhƣng tỷ trọng của ngành này trong dòng vốn FDI hàng năm đang liên tục tăng lên. Tại Trung Quốc, mặc dù FDI vào ngành khai thác chiếm khoảng 20% tổng vốn FDI ra nước ngoài của Trung Quốc hàng năm, tổng lƣợng vốn FDI t ch lũy của l nh vực khai thác cho tới cuối năm 2009 ch chiếm 16% tổng vốn FDI của Trung Quốc ra nước ngoài. Do đây là những dự án cần nhiều vốn nên mặc dù số lƣợng dự án đầu tƣ nhỏ, nhƣng lƣợng vốn đầu tƣ rất lớn. Trong giai đoạn 2003-2010, ch có 560 vụ M&A và 500 dự án đầu tƣ mới của khu vực đầu tư vào ngành khai thác ở nước ngoài, nhưng vốn đầu tư đã lên đến 65 tỷ USD và 258 tỷ USD ( chiếm tương ứng 19% và 25% tổng vốn đầu tư).

Sự gia tăng của dòng vốn FDI khu vực vào các ngành khai thác đƣợc thúc đẩy bởi nhu cầu ngày càng tăng đối với dầu, khí ga, và các loại nguyên liệu khoáng

chất tại các nền kinh tế đang nổi, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ để hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế và quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng, cũng nhƣ nhu cầu của cả chính phủ và các công ty tại những nền kinh tế này trong việc đảm bảo các nguồn cung tài nguyên thiên nhiên ổn định trong dài hạn, trong bối cảnh giá hàng hóa ngày càng tăng cao. ên cạnh đó, chiến lƣợc an ninh năng lượng quốc gia cũng là yếu tố thúc đẩy các công ty thuộc sở hữu nàh nước tại các nền kinh tế này đầu tư ra nước ngoài. Về l nh vực đầu tư, ngoài các nhà đầu tư trong l nh vực truyền thống nhƣ khai thác mỏ, dầu khí còn xuất hiện một số nhà đầu tƣ mới, gồm các công ty, tập đoàn thép nhƣ CITIC ( Trung Quốc) và Reliance Group ( Ấn Độ). FDI trong các ngành khai thác từ các nước đang phát triển châu Á được hướng tới các nước giàu tài nguyên trên thế giới, gồm các nước giàu tài nguyên khoáng sản Oxtraylia và Canada, các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi nhiều dầu mỏ như Irac, Xudan và Udobekixtan và các nước nhiều tài nguyên như Cận Xahara châu Phi, châu Mỹ Latinh, v ng Caribe và châu Đại Dương.

FDI vào l nh vực chế tạo từ khu vực Nam Á,Đông Á,Đông Nam Á chủ yếu đƣợc thực hiện thông qua đầu tƣ mới ,chiếm một nửa tổng t ch lũy vốn FDI của khu vực vào l nh vực chế tạo ở nước ngoài,nhưng ch chiếm dưới 15% tổng số lượng các vụ M&A đầu tư ra nước ngoài. Phần lớn vốn FDI mà khu vực cung cấp trong nghành chế tạo thuộc về điện tử,thép,và sản phẩm thép, mô tô, hóa chất và các sản phẩm hóa chất. Là trung tâm sản xuất hàng điện tử trên toàn cầu, khu vực này là nguồn cung cấp vốn FDI ch nh trong nghành điện tử.Tầm quan trọng của ngành điện tử trong FDI do khu vực cung cấp cũng phù hợp với năng lực cạnh tranh quốc tế của các công ty Châu Á trong ngành này,đặc biệt là các nhà chế tạo theo hợp đồng,vốn đã trở thành lực lƣợng chủ chốt trong công đoạn sản xuất của chuỗi giá trị ngành điện tử toàn cầu.

FDI trong ngành chế tạo của khu vực chủ yếu tập trung vào đầu tƣ nội khối.Tuy nhiên do quá trình nâng cấp ngành trong khu vực,chi phí sản xuất ở một số nước như Trung Quốc tăng lên và sự thay đổi về chiến lược của một số công ty,mô hình đầu tư ra nước ngoài của khu vực cũng đã có sự thay đổi.Một số địa điểm sản xuất mới ngoài khu vực cũng đã xuất hiện nhƣ Châu Phi và Châu Mỹ Latinh và vùng Caribe,mặc dù mới tiếp nhận một số lƣợng vốn nhỏ nhƣng tiềm năng khá lớn.Trong những năm gần đây,một số công ty từ các nước lớn trong khu

vực nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Xingapo đã t ch cực tham gia vào việc mua lại các công ty tại các nước phát triển nhằm tìm kiếm các tài sản chiến lược nhƣ công nghệ hiện đại và độc quyền,nhãn hiệu và các kênh phân phối. Các cơ hội M&A tại các nước phát triển,được thúc đẩy bởi quá trình tái cấu trúc ngành trong và sau khủng hoảng tài chính,cùng với lợi nhuận cao và vốn cho vay ngân hàng dồi dào ở trong nước cũng thúc đẩy FDI của khu vực vào l nh vực chế tạo.

FDI chảy vào l nh vực dịch vụ tăng mạnh và đã chiếm t trọng rất cao,chiếm khoảng 70% tổng vốn FDI ra nước ngoài của các công ty châu Á thông qua hình thức M&A của khu vực và dưới 30% đối với hình thức đầu tư mới.Phần lớn đầu tư trong l nh vực dịch vụ của khu vực đƣợc đầu tƣ vào bất động sản,khách sạn và du lịch,viễn thông ,vận tải và các dịch vụ tài chính tại các nước trong và ngoài khu vực.

Bên cạnh sự trỗi dậy của các nền kinh tế đang nổi,tỷ trọng vốn FDI toàn cầu do các nền kinh tế phát triển cung cấp ngày càng giảm còn bắt nguồn từ chính sách thắt lƣng buộc bụng của chính phủ các nền kinh tế phát sau khủng hoảng tài chính toàn cầu,tác động của khủng hoảng nợ công và những yếu kém về vấn đề quản lý . 1.2.3 Hình thức đầu tư M&A sụt giảm mạnh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu; hình thức đầu tư phi cổ phần (NEM) ngày càng phổ biến.

Sau khi tăng mạnh vào đầu những năm 2000 và đạt mức đ nh điểm là hơn 1000 tỷ USD vào năm 2007, hình thức đầu tƣ M&A đã sụt giảm mạnh do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, với mức độ sụt giảm lớn hơn nhiều sao với hình thức đầu tƣ mới. Giá trị các vụ M&A xuyên quốc gia đã sụt giảm tới 35%

trong năm 2008 so với năm 2007. ên cạnh nguyên nhân do hạn chế về tài chính, sự sụt giảm của giá cổ phiếu cũng là nguyên nhân ch nh dẫn đến sự sụt giảm giá trị của M&A. Giá cổ phiểu của các nước phát triển trung bình giảm tới 40% trong năm 2008. Mức độ sụt giảm ở các nền kinh tế lớn khác cũng ở mức cao tương tự: ch số S&P 500 tại Mỹ giảm 41%, ch số DJ Euro Stoxx 50 giảm 44%. Giá cổ phiếu trong ngành dịch vụ tài chính của các nước phát triển sụt giảm tới 60% và giá trị các vụ M&A mua lại xuyên quốc gia giảm 36%, mặc dù số lƣợng các vụ M&A mua lại ch giảm 14%. Khủng hoảng tài ch nh cũng khiến cho việc huy động vốn cổ phần và vốn vay nợ cho các giao dịch M&A trở nên khó khăn hơn và chi ph cao hơn, do khả năng cho vay của các ngân hàng giảm đáng kể sau khi các điều kiện tín dụng đƣợc thắt chặt và phí bảo hiểm rủi ro lãi suất cho khu vực công ty tăng lên. Một tác

động khác của khủng hoảng là khiến cho lƣợng tiền mặt để tài trợ cho các hoạt động của M&A giảm mạnh, trong khi đây lại là hoạt động cấp vốn chính cho các hoạt động M&A xuyên quốc gia trong giai đoạn trước năm 2008. Tuy nhiên hình thức M&A có thể tăng trở lại trong những năm tới nếu thị trường chứng khoán thế giới tiếp tục hồi phục sau khủng hoảng.

Theo khảo sát của UNCTAD và TNCs sẽ tiếp tục sử dụng rộng rãi hình thức đầu tƣ cổ phần truyền thống và đầu tƣ mới trong những năm tới. Tuy nhiên các TNCs cũng có thể sẽ dựa nhiều hơn vào hình thức đầu tƣ NEM nhƣ thành lập các đối tác, liên minh hoặc ký hợp đồng phụ. Những hình thức này cho phép các công ty có thể chia sẻ rủi ro, giảm chi cho đầu tƣ và tận dụng các lợi thế bổ sung bí quyết, công nghệ hay thị phần theo sản phẩm và khu vực. Khảo sát cũng cho thấy mặc dù khủng hoảng tài chính toàn cầu có tác động tiêu cực đến khả năng đầu tƣ của các TNCs dưới các hình thức đầu tư cổ phần như M&A và đầu tư mới, nhưng nó cũng không khiến cho các TNCs phụ thuộc nhiều hơn vào hình thức đầu tƣ NEM. Hình thức này chi phối mạnh mẽ đầu tƣ dài hạn, nhƣng nó sẽ ch bổ sung chứ không hoàn toàn thay thế cho các hình thức đầu tƣ và kinh doanh truyền thống.

1.2.4 Một số FDI có tính chất khu vực

a) Xu hướng nâng cấp ngành tại khu vực châu Á và tác động dòng vốn FDI nội vùng

Tại Châu Á quá trình nâng cấp ngành đang diễn ra đã góp phần kết nối các quốc gia ở những trình độ phát triển khác nhau trong khu vực. Các nền kinh tế phát triển cao hơn đang dịch chuyển dần lên các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn, mở ra cơ hội cho các nước làng giềng có nền kinh tế kém phát triển hơn tham gia vào quá trình phân công lao động trong khu vực thông qua việc tăng cường các ngành sản xuất dựa vào tài nguyên và thâm dụng lao động. FDI có vai trò quan trọng trong quá trình này, trở thành phương tiện để chuyển giao công nghệ, “ tái chế’ các lợi thế so sánh và nâng cao năng lực cạnh tranh.

FDI nội v ng ngày càng tăng do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong khu vực, nhất là việc hình thành các liên minh kinh tế và các khu vực thị trường tự do.

Mỹ từng đóng vai trò là nước đóng góp FDI lớn nhất cho những khu vực Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á trong những năm 60 và 70, tiếp đó là Nhật Bản trong những năm 80, nhưng vai trò của những nước này đã giảm dần từ đầu những năm

90. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế khu vực đã thúc đẩy đầu tƣ nội vùng, hiện chiếm khoảng 40% tổng vốn FDI của khu vực Nam Á, Đông Á, Đông Nam Á. Nếu tính cả đầu tư thông qua các trung tâm tài ch nh ở nước ngoài, tỷ lệ này có thể chiếm tới 50%. Tiếp theo các TNCs đến từ Nhật Bản, các công ty đến từ các nền kinh tế mới công nghiệp hóa (NIEs) hiện cũng đang di chuyển các hoạt động sản xuất của mình trong nội bộ khu vực nhằm tận dụng lợi thế về chi phí rẻ, nhờ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và thúc đẩy quá trình tái cơ cấu và nâng cấp ngành tại đất nước mình. Thông qua quá trình này các nước láng giềng khi tiếp nhận đầu tư có thể hưởng lợi nhờ tăng cường tiếp cận vốn, công nghệ, năng lực sản xuất và các thị trường nước ngoài ngay tại các quốc gia lân cận.

b) Xu hướng dịch chuyển các hoạt động chế tạo từ các nước phát triển hơn trong khu vực sang các nước đi sau

Trong những năm gần đây, việc di chuyển một số hoạt động chế tạo từ các nền kinh tế phát triển hơn (nhƣ Trung Quốc và Malaixia) đã tạo nhiều cơ hội cho các nước đi sau trong việc tham gia vào các mạng lưới sản xuất khu vực của các TNCs. Việt Nam đang trở thành một điểm nút ngày càng quan trọng trong những mạng lưới đó nhờ các dự án đầu tư hàng tỷ đô la do các công ty khác trong khu vực thực hiện. Các nước kém phát triển nhất trong khu vực như Campuchia, Lào và Myanma cũng đã bắt đầu được hưởng lợi nhờ quá trình đầu tư nội vùng ngày càng tăng. Phần lớn các nguồn cung cấp vốn FDI cho các nước này đều đến từ các quốc gia khác trong khu vực bao gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Singapo, Indonexia, Malaixia, Hàn Quốc và Thái Lan. Trong các ngành chế tác, điện tử tiếp tục là ngành chính dẫn dắt quá trình nâng cấp ngành trong khu vực, nhƣng điểm mới là các ngành công nghệ cao đƣợc đƣa vào nhiều hơn và quá trình chuyên môn hóa ngày càng được tăng cường. Ngoài điện tử, nhiều hoạt động sản xuất khác trong những năm gần đây đã đƣợc dịch chuyển không ngừng trong nội bộ khu vực, đáng chú ý là các ngành sản xuất thép, dệt may và ô tô. Do các dòng vốn FDI nội vùng trong ngành chế tác liên tục tăng, các hoạt động dịch vụ có liên quan cũng tăng theo nhƣ tài ch nh và cơ sở hạ tầng.

Một điểm đáng chú ý là trừ một số ngoại lệ, hầu hết các “nước đi sau” đều không thể vượt lên về công nghệ và năng lực cạnh tranh so với các “nước đi trước”

(đã chuyển giao công nghệ cho họ). Không những thế, trong bối cảnh tiến bộ khoa

Một phần của tài liệu triển vọng và thách thức của việt nam trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các quốc gia trong khối asean (Trang 22 - 27)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(73 trang)