CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ FDI VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM- ASEAN
1.3 ASEAN và lợi thế thành viên của ASEAN
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam á (Association of Southeast Asian Nations- ASEAN) đƣợc thành lập ngày 8/8/1967 bởi Tuyên bố ăng-cốc, Thái Lan, đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của khu vực. Khi mới thành lập ASEAN gồm 5 nước là In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, Xin-ga-po và Thái Lan. Năm 1984 ASEAN kết nạp thêm Bru-nây Da-ru-xa-lam làm thành viên thứ 6.
Ngày 28/7/1995Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội.
Ngày 23/7/1997 kết nạp Lào và Mi-an-ma. Ngày 30/4/1999, Cam-pu-chia trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN, hoàn thành ý tưởng về một ASEAN bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam Á, một ASEAN của Đông Nam Á và vì Đông Nam Á.
Các nước ASEAN (trừ Thái Lan) đều trải qua giai đoạn lịch sử là thuộc địa của các nước phương Tây và giành được độc lập vào các thời điểm khác nhau sau
Chiến tranh thế giới thứ hai. Mặc dù ở trong cùng một khu vực địa lý, song các nước ASEAN rất khác nhau về chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hoá, tạo thành một sự đa dạng cho Hiệp hội.
Các nước ASEAN đều nằm ở khu vực Đông Nam Á, trừ Lào, đều tiếp xúc với biển Thái ình Dương và Ấn Độ Dương, thuận lợi cho giao thương quốc tế và phát triển du lịch. ASEAN có diện t ch hơn 4.5 triệu km2 với dân số khoảng 575 triệu người; GDP khoảng 1281 tỷ đô la Mỹ và tổng kim ngạch xuất khẩu 750 tỷ USD. Các nước ASEAN có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và hiện nay đang đứng hàng đầu thế giới về cung cấp một số nguyên liệu cơ bản nhƣ: cao su (90% sản lƣợng cao su thế giới); thiếc và dầu thực vật (90%), gỗ xẻ (60%), gỗ súc (50%), cũng như gạo, đường dầu thô, dứa...
Với diện t ch đất nông nghiệp chiếm trên 30% tổng diện t ch tự nhiên, kh hậu nóng ẩm quanh năm, ASEAN là một v ng có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp, nhất là trồng cây nhiệt đới nhƣ lúa gạo, cao su thiên nhiên, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, cọ dầu… Thái Lan và Việt Nam đứng thứ nhất thứ nhì thế giới về xuất khẩu gạo; Inđônêxia và Việt Nam là 2 trong 4 nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới. Về lâm nghiệp, các nước ASEAN có tiềm năng lớn về rừng với nhiều loại gỗ quý, dƣợc liệu và các loài thú quý hiếm. Về ngƣ nghiệp, với vị tr gần biển và hệ thống sông, ngòi kênh rạch chằng chịt, các nước ASEAN có nhiều tiềm năng về khai thác, nuôi trồng thuỷ sản: Philippin có trữ lƣợng cá đứng thứ 11 trên thế giới;
Thái Lan là 1 trong 10 nước xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới. Công nghiệp của các nước thành viên ASEAN cũng đang trên đà phát triển, đặc biệt trong các l nh vực: dệt, hàng điện tử, hàng dầu, các loại hàng tiêu d ng. Những sản phẩm này đƣợc xuất khẩu với khối lƣợng lớn và đang thâm nhập một cách nhânh chóng vào các thị trường thế giới. ASEAN là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với các khu vực khác trên thế giới, và đƣợc coi là tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển.
Tuy nhiên mức độ phát triển kinh tế giữa các nước ASEAN không đồng đều.
Mi-an-ma hiện là nước có thu nhập quốc dân t nh theo đầu người thấp nhất trong ASEAN, ch vào khoảng hơn 200 đôla Mỹ. In-đô-nê-xi-a là nước đứng đầu về diện tích và dân số trong ASEAN, nhưng thu nhập quốc dân t nh theo đầu người ch vào khoảng trên 600 đôla Mỹ. Trong khi đó, Singapore và Bru-nây Đa-ru-xa-lam là hai
quốc gia nhỏ nhất về diện tích (singapore) và về dân số (Bru-nây Đa-ru-xa-lam) lại có thu nhập theo đầu người cao nhất trong ASEAN, vào khoảng trên 30.000 đô la Mỹ/năm.
Ở các nước ASEAN đang diễn ra quá trình chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá. Nhờ chính sách kinh tế “hướng ngoại”, nền ngoại thương ASEAN đã phát triển nhanh chóng, tăng gần năm lần trong 20 năm qua, đạt trên 160 tỷ đôla Mỹ vào đầu những năm 1990 (nay là 750 tỷ đôla Mỹ). ASEAN cũng là khu vực ngày càng thu hút nhiều vốn đầu tƣ của thế giới. Nếu năm 2005, tổng số vốn đầu tƣ mà ASEAN thu hút đƣợc tăng 16,9% so với năm 2004, thì năm 2006, tổng số vốn đầu tƣ đã tăng 27,5%.
1.3.2 Cơ cấu tổ chức của ASEAN
Cơ cấu tổ chức hiện nay của ASEAN là kết quả của một quá trình hoàn thiện từng bước, song song với việc phát triển của tổ chức ASEAN trong gần 50 năm qua.
Cơ cấu tổ chức của ASEAN hiện nay nhƣ sau:
- Hội nghị Cấp cao ASEAN (ASEAN Summit)
- Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (ASEAN Ministerial Meeting- AMM)
- Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Ministers-AEM) - Hội nghị Bộ trưởng các ngành
- Các hội nghị bộ trưởng khác
- Hội nghị liên Bộ trưởng (Join Ministerial Meeting-JMM) - Tổng thƣ ký ASEAN
- Uỷ ban thường trực ASEAN (ASEAN Standing Committee-ASC) - Cuộc họp các quan chức cao cấp (Senior Officials Meeting-SOM)
- Cuộc họp các quan chức kinh tế cao cấp (Senior Economic Officials Meeting-SEOM)
- Cuộc họp các quan chức cao cấp khác
- Cuộc họp tƣ vấn chung (Joint Consultative Meeting-JCM) - Các cuộc họp của ASEAN với các ên đối thoại
- an thƣ ký ASEAN quốc gia - Uỷ ban ASEAN ở các nước thứ ba - an thƣ ký ASEAN
1.3.3 Quan hệ Việt Nam – ASEAN
Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN ngày 28/7/1995 tại Bru-nây; và lần đầu tiên tham dự Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 28 và các Hội nghị liên quan (Bru-nây, 2-3/8/1995) với tư cách thành viên đầy đủ. Trước đó, tháng 7/1992, Việt Nam đã ch nh thức tham gia Hiệp ƣớc Thân thiện và Hợp tác (Hiệp ƣớc Ba-li) và trở thành quan sát viên của ASEAN. Từ năm 1993, Việt Nam đã tham gia các chương trình và dự án hợp tác ASEAN trên 5 l nh vực: khoa học-công nghệ, môi trường, y tế, văn hoá-thông tin, phát triển xã hội. Việt Nam cũng tham gia Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và trở thành một trong những nước sáng lập Diễn đàn này.
Việt Nam là một thành viên tích cực của Cộng đồng kinh tế ASEAN. Không ch thực hiện tốt các cam kết chung của khối, Việt Nam còn có nhiều đóng góp t ch cực trong việc hoàn thành ý tưởng về một ASEAN gồm 10 quốc gia Đông Nam Á.
Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng trên tất cả các l nh vực hợp tác của Hiệp hội, góp phần quan trọng vào việc triển khai thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước; củng cố xu thế hoà bình, ổn định và hợp tác ở khu vực có lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Điều quan trọng hơn là Việt Nam đang gắn phát triển kinh tế - xã hội với hội nhập kinh tế quốc tế. Trong khu vực, quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam - ASEAN phát triển rất tốt đẹp. Con số này đang tiếp tục tăng lên mạnh mẽ. Trong những năm tới, quan hệ hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và các nước ASEAN chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển tốt đẹp.
ên cạnh những đóng góp của mình, việc gia nhập ASEAN cũng mang lại nhiều lợi ch cho Việt Nam về tất cả các mặt ch nh trị- an ninh, kinh tế, văn hóa-xã hội.
Về ch nh trị, cộng đồng ASEAN góp phần tăng cường ch nh trị, ổn định xã hội tạo một môi trường hòa bình, ổn định. Các quốc gia thành viên luôn trao đổi, hợp tác trong công cuộc phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy, các tệ nạn truyền thống và phòng chống thiên tai…
Về văn hóa-xã hội, là tăng cường phát triển bền vững để người dân được hưởng những tiêu ch chung của ASEAN về l nh vực này, như đảm bảo quyền lợi của phụ nữ, cảu những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, những ch nh sahcs xã hội, các dịch vụ hợp tác về y tế và giáo dục.
Về kinh tế, các quốc gia thành viên của khối đều phải có trách nhiệm đóng góp vào sự thịnh vƣợng chung của khối. Do đó, sự phát triển của ASEAN và Việt Nam sẽ có những tác động qua lại lẫn nhau. Các nước cũng luôn tìm những cơ hội, dành những ƣu tiên cho nhau trong hợp tác đầu tƣ. Trong quá trình phát triển, Việt Nam cũng là một nước đi sau về thành tựu phát triển so với một số nước khác trong khu vực. Vì vậy, những bài học phát triển của các nước đi trước cũng đã được Việt Nam nhìn thấy, từ đó khắc phục các nhƣợc điểm. Những vấn đề về chính sách, hệ thống luật pháp... đã được Việt Nam hoàn thiện tương đối nhanh, tạo ra sự minh bạch, thuận lợi, phù hợp nhất với thông lệ làm ăn quốc tế cũng nhƣ trong khu vực.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng biết sử dụng tốt các nguồn lực, tài nguyên..
ên cạnh đó, Việt Nam cũng thu đƣợc nhiều lợi ch:
- Thu hút vốn đầu tƣ từ các thành viên trong khối cũng nhƣ các nguồn vốn từ ngoài khối. Khi tiềm lực về tài ch nh và công nghệ của Việt Nam còn yếu, trở thành thành viên ASEAN đã là lợi thế cho việc thu hút vốn đầu tƣ nội khối, đồng thời tạo uy t n cho Việt Nam trong thu hút vốn và công nghệ từ các quốc gia ngoài ASEAN.
- Với tổng cộng 11 quốc gia thành viên, với gần 600 triệu dân, ASEAN đã trở thành một thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn cho các quốc gia thành viên trong đó có Việt Nam. Điều này đã khuyến kh ch các nhà đầu tư trong nước đầu tư ra các thị trường trong khu vực cũng như đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa trong nước.
- Là một thành viên ASEAN, Việt Nam cũng được hưởng nhiều ch nh sách ƣu đãi về giá cả và thuế.
- Hoàn thiện các thủ tục hành ch nh về đầu tư, luật định về đầu tư và thương mại quốc tế.
- Hỗ trợ và tăng cường mức độ hội nhập kinh tế quốc tế cho Việt Nam.