Đầu tƣ trực tiếp FDI của ASEAN vào Việt Nam

Một phần của tài liệu triển vọng và thách thức của việt nam trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các quốc gia trong khối asean (Trang 32 - 40)

CHƯƠNG II: TRIỂN VỌNG VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM

1.1 Đầu tƣ trực tiếp FDI của ASEAN vào Việt Nam

Do hội nhập kinh tế quốc tế, dòng vốn FDI nội v ng càng có xu hướng tăng cao. Theo nghiên cứu vốn đầu tƣ nội v ng ở Đông Nam Á chiếm 40% tổng vốn đầu tƣ FDI vào khu vực này.

T nh đến hết tháng 12/2013, các nhà đầu tƣ vào Việt Nam ở khu vực ASEAN có 2.306 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 53,63 tỷ USD, chiếm trên 23% tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tại Việt Nam. Quy mô vốn bình quân 1 dự án của ASEAN là 23,25 triệu USD/dự án, cao hơn so với mức bình quân chung 1 dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (là 14,66 triệu USD/dự án).

1.1.1 Phân theo ngành

Bảng 2.1: FDI của ASEAN vào Việt Nam theo phân ngành

TT Chuyên ngành Số dự án Tổng vốn đầu tƣ

( tỷ US )

1 KD bất động sản 82 19.501

2 CN chế biến chế tạo 907 19.459

3 Xây dựng 162 2.995

4 Dịch vụ lưu trú và ăn uống 57 2.279

5 Các ngành khác 1098 9.398

Tổng 2306 53.634

Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài

Đến nay, ASEAN đã đầu tƣ vào 18 trên tổng số 21 ngành kinh tế theo hệ thống phân ngành của Việt Nam. Các dự án đầu đƣợc chia làm 5 l nh vực, bao gồm kinh doanh bất động sản, công nghiệp chế biến chế tạo, xây dựng, dịch vụ lưu trú và ăn uống và các ngành khác. Trong đó l nh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ nhất với 82 dự án, tổng vốn đầu tƣ đăng ký đạt 19,5 tỷ USD (chiếm 3,5% tổng số dự án và chiếm 36,3% tổng vốn đầu tƣ); tiếp theo là l nh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với 907 dự án và tổng vốn đầu tƣ đăng ký đạt 19,45 tỷ USD (chiếm 39,3%

tổng số dự án và 36,2% tổng vốn đầu tƣ). L nh vực xây dựng có 162 dự án với số vốn đầu tƣ đăng ký là 2,99 tỷ USD (chiếm 7% tổng số dự án và 5,59% tổng vốn đầu tƣ). Còn lại là các l nh vực khác với 1098 dự án và tổng vốn đầu tƣ đăng ký đạt 9.4 tỷ USD.

Hình 2.1: Cơ cấu FDI của ASEAN theo phân ngành

Nguồn: Tính toán theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài Trong 5 l nh vực ASEAN đầu tƣ vào Việt Nam, 2 l nh vực là kinh doanh bất động sản và công nghiệp chế biến chế tạo đƣợc quan tâm hơn cả, số vốn đầu tƣ đăng ký của 2 l nh vực trên đều xấp x 36%. Việc một số hoạt động chế tạo có xu hướng dịch chuyển sang từ một số nền kinh tế phát triển (như Trung Quốc và Malaixia) sang các nền kinh tế kém phát triển hơn đã tạo ra nhiều cơ hội cho các quốc gia trong khu vực trong đó có Việt Nam. Việt Nam đang trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi đầu tƣ FDI vào l nh vực này khi càng ngày càng thu hút nhiều hơn các dự án đầu tƣ với số vốn hàng tỷ đô la. V dụ nhƣ Tập đoàn Samsung Elextronics đã chọn Việt Nam là cứ điểm sản xuất điện thoại di động lớn nhất toàn cầu của Tập đoàn, tổng sản lƣợng sản xuất ở Việt Nam chiếm tới 60% số lƣợng điện thoại di động mà Samsung bán ra trên toàn thế giới. Tổng vốn đầu tƣ Samsung đầu tƣ cho nhà máy sản xuất đóng tại Thái Nguyên là 2 tỷ USD. Hai hãng di động cũng đóng nhà máy ở Việt Nam nhƣng với quy mô nhỏ hơn là LG và Nokia, với tổng vốn đầu tƣ đạt 5,7 tỷ USD. Việt Nam cũng đã có tên trên bản đồ ngành công nghiệp hàng không thế giới khi các hãng hàng không lớn nhƣ oeing và Airbus chọn nơi đây để sản xuất linh kiện máy bay. Bên cạnh đó nhiều dự án FDI thuộc l nh vực công nghiệp chế tạo cũng đi vào hoạt động. Chẳng hạn, nhà máy sản xuất các loại khung cửa, cửa sổ ... của Lixil (Nhật Bản), vốn đầu tƣ 441 triệu USD; nhà máy sản xuất bình nước nóng của Ariston (Italia) ở Bắc Ninh, vốn đầu tư 18 triệu

KD bất động sản 36.4%

CN chế biến chế tạo 36.3%

Xây dựng 5.59%

Dịch vụ lưu trú và ăn uống

4.25%

Các ngành khác 17.52%

USD và nhiều nhà máy mới: nhà máy Miki Industry Việt Nam, 7,5 triệu USD;

Toyota Tshuno, 6.6 triệu USD; Idemitsu, 32 triệu USD....

Năm 2013, nguồn vốn FDI vào bất động sản d đạt 900 triệu USD, nhƣng không có dự án lớn nào, ngoài Dự án Xây dựng nhà xã hội ở Hải Phòng có tổng vốn đầu tƣ 50 triệu USD của Công ty Pruksa (Thái Lan). Có thể nói, năm 2013 là năm vắng bóng những dự án khủng vào bất động sản. Đáng kể nhất, trong giai đoạn 2009-2013 là Dự án Khu đô thị vườn Tokyu ình Dương của Tập đoàn Tokyu (Nhật Bản) liên doanh với Becamex, với tổng vốn đầu tƣ 1,2 tỷ USD đƣợc cấp giấy chứng nhận đầu tƣ năm 2012. Số còn lại ch là những dự án trung bình và vốn tăng thêm của các dự án hiện hữu. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia bất động sản và nhà đầu tƣ kỳ vọng FDI vào bất động sản sẽ tăng vào năm 2014 khi nền kinh tế dần phục hồi.

1.1.2 Phân theo hình thức đầu tư

Bảng 2.2: FDI của ASEAN vào Việt Nam theo hình thức đầu tƣ TT Hình thức đầu tƣ Số dự án Tổng vốn đầu tƣ

(triệu US )

1 100% vốn nước ngoài 1689 34950

2 Liên doanh 556 17268

3 Công ty cổ phần 34 883

4 Hợp đồng hợp tác KD 26 495

5 Hợp đồng OT, T, TO 1 35

Tổng cộng 2306 53634

Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài

Các nhà đầu tƣ ASEAN đầu tƣ chủ yếu vào hai hình thức chính là hình thức 100% vốn nước ngoài và hình thức liên doanh. Trong đó hình thức 100% vốn nước ngoài thu hút đƣợc nhiều dự án nhất với 1.689 dự án, vốn đăng ký đạt 34,95 tỷ USD (chiếm 73,2% tổng số dự án và 65% tổng vốn đầu tƣ); hình thức liên doanh có 556 dự án, số vốn đăng ký là 17,26 tỷ USD (chiếm 24% tổng số dự án và 32% tổng vốn đầu tƣ). Còn lại là ba hình thức công ty cổ phần; hợp đồng hợp tác kinh doanh và hợp đồng BOT, BT, BTO.

Hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài và liên doanh là hai hình thức được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong đầu tƣ quốc tế. Các hình thức trên rất phù

hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Khi quy mô vốn còn nhỏ, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia, kèm theo đó trình độ công nghệ sản xuất còn lạc hậu, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước còn chưa cao và hệ thống pháp luật về đầu tư chưa đủ chặt chẽ FDI theo các hình thức trên vào Việt Nam sẽ làm tăng vốn cho đầu tƣ phát triển kinh tế xã hội, cung ứng dịch vụ, góp phần chuyển giao công nghệ, triển khai nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tƣ; bên cạnh đó làm giảm rủi ro cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp trong nước không kịp thời thích ứng và phát triển có thể sẽ bị các doanh nghiệp nước ngoài lất át, chiếm l nh thị trường.

1.1.3 Phân theo địa phương

Các nhà đầu tƣ khu vực ASEAN đã đầu tƣ vào 54/63 t nh thành của Việt Nam, trong đó đứng đầu là thành phố Hồ Chí Minh với 989 dự án với số vốn đầu tƣ đăng ký 12,77 tỷ USD (chiếm 42,8% tổng số dự án và 23,8% tổng vốn đầu tƣ).

Đứng thứ 2 là thủ đô Hà Nội với 371 dự án, tổng vốn đầu tƣ đăng ký đạt 8,18 tỷ USD (chiếm 16% tổng số dự án và chiếm 15,25% vốn đăng ký). T nh Bà Rịa – Vũng Tàu đứng thứ 3 có 65 dự án với số vốn đầu tƣ đăng ký 6,13 tỷ USD (chiếm 2,8% tổng số dự án và 11,4% tổng vốn đầu tư). Còn lại là các địa phương khác.

Hình 2.2: Các tỉnh, thành phố thu hút nhiều nhất FDI của ASEAN

Nguồn: tính toán theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài Cũng như hầu hết các nước đầu tư vào Việt Nam, FDI từ các quốc gia ASEAN thường tập trung vào các địa phương có hạ tầng cơ sở tốt, nằm ở vị trí

0 2,000,000,000 4,000,000,000 6,000,000,000 8,000,000,000 10,000,000,000 12,000,000,000 14,000,000,000

Tổng vốn đầu tƣ (US )

thuận lợi về hành chính và kinh tế, các nước ASEAN cũng không phải là một ngoại lệ.

Singapore là nước có mặt ở nhiều địa phương nhất (29 địa phương) với quy mô vốn không đồng đều

+ Hà Nội đặc biệt tập trung 35 dự án với 2,8 tỷ USD vốn đầu tƣ, quy mô 80 triệu USD/dự án.

+ Thành phố Hồ Chí Minh 94 dự án 1,6 tỷ USD, quy mô trung bình là 16 triệu USD, bằng 1.5 Hà Nội.

+ Các t nh khác như Lâm Đồng, ình Dương, Hà Tây, Hải Dương, à Rịa- Vũng Tàu có vốn đầu tư khoảng 0,208 đến 1,1 tỷ USD ( ình Dương thu hút 725 triệu USD nhưng có tới 51 dự án, Hải Dương 272 triệu USD ch với 2 dự án). Số dự án và vốn đầu tư nằm rải rác trên các địa phương còn lại.

Các dự án của Thái Lan đầu tƣ trên 21 t nh, thành phố nhƣng có đến 58% số dự án tập trung tại ba địa phương lớn, có quy mô tổng vốn đầu tư và vốn đầu tư t nh trung bình cho một dự án thấp hơn so với Singapore. Cụ thể:

+ Hà Nội có 12 dự án với tổng số 90 dự án chiếm 13,3%, vốn đầu tƣ là 435,23 triệu USD so với hơn 1,3 tỷ USD bằng 34,28%

+ Đồng Nai có 15 dự án bằng 16,6% tổng số dự án với số vốn đầu tƣ 243,14 triệu USD, chiếm 16,4 % tổng vốn.

+ Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nhất là 27 dự án bằng 30% tổng số dự án trên cả nước nhưng tổng vốn đầu tư ch có 154,04 triệu USD, chiếm khoảng 11%

tổng vốn đầu tƣ.

Đầu tƣ trên của Malayxia tập trung nhiều nhất ở Đồng Nai 716 triệu USD, thành phố Hồ Chí Minh 272 triệu USD, Hà Nội 181 triệu USD. Các dự án đầu tƣ vào v ng sâu, v ng xa, v ng khó khăn đã xuất hiện và đang có tiến triển khả quan.

Để thực hiện được mục tiêu hướng tới một xã hội phát triển đồng đều, Việt Nam cần chú trọng thu hút đầu tư nước ngoài vào cả những địa bàn không phải là trọng điểm. Do mức độ phát triển không cao, lợi thế của những vùng này là lao động nhiều, rẻ, kỹ năng vừa phải; là vùng nguyên liệu tự nhiên đồng thời là thị trường tiềm năng.

Nhƣ các phần trên đã phân t ch, đặc trƣng của vốn ASEAN là quy mô vừa;

có tiềm năng trong l nh vực công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, xây dựng với

công nghệ vừa phải, phát triển nông - lâm - ngƣ nghiệp… Ta nhận thấy vốn ASEAN rất thích hợp trong việc tạo nên hiệu ứng chảy tràn từ các trọng điểm phát triển sang các vùng, ngành khác. Vấn đề là Nhà nước cần có những chính sách, biện pháp tạo những điều kiện hấp dẫn có lợi để họ sẵn sàng đầu tƣ.

1.1.4 Phân theo đối tác

Bảng 2.3:FDI của ASEAN vào Việt Nam theo đối tác

TT Địa phương Số dự án Tổng vốn đầu tư

(triệu US )

1 Singapore 1243 29883

2 Malaysia 454 11544

3 Thái Lan 340 6595

4 Brunei 144 4882

5 Indonesia 38 320

6 Philippines 66 285

7 Lào 8 66

8 Campuchia 13 54

Tổng cộng 2306 53634

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài

Hiện tại có 8 quốc gia ASEAN đầu tƣ vào Việt Nam, t nh đến ngày

31/12/2013 các quốc gia ASEAN có tổng cộng 2306 dự án đầu tƣ còn hiệu lực với tổng vốn đầu tƣ đăng k là 53634 triệu USD.

Dẫn đầu trong khu vực ASEAN đầu tƣ vào Việt Nam là Singapore có 1243 dự án, tổng vốn đầu tƣ đăng ký đạt 29,88 tỷ USD;chiếm 53,9% tổng số dự án và 55,7% tổng vốn đầu tƣ đăng ký của các quốc gia ASEAN tại Việt Nam. Quy mô trung bình một dự án đạt khoảng 24,04 triệu USD cao hơn so với trung bình một dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (là 14.66 triệu USD/dự án).

Đứng thứ hai là Malaysia với 454 dự án, tổng vốn đầu tƣ đăng ký đạt 11,54 tỷ USD; chiếm 19,6% tổng số dự án và 21,5% tổng vốn đầu tƣ đăng ký. Quy mô vốn một dự án đạt 25,43 triệu USD. Các nhà đầu tƣ Malaisia rất nghiêm túc trong triển khai dự án, thể hiện ở lƣợng vốn giải ngân rất cao, tỷ lệ dự án giải thể thấp (tỷ lệ dự án giải thể trước thời hạn khoảng 12%). Lượng vốn đầu tư chủ yếu hướng vào

công nghiệp và kinh doanh bất động sản rất phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của nước ta.

Đứng thứ ba là Thái Lan với 340 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đầu tƣ đăng ký đạt 6,59 tỷ USD, chiếm 14,7% tổng số dự án và 12,3% tổng vốn đầu tƣ đăng ký. Dự án của Thái Lan có quy mô vốn đầu tƣ đạt 19.4 triệu USD/dự án.

Còn lại theo thứ tự lần lượt là các nước Brunei, Indonesia, Philippines, Lào và Campuchia với quy mô đầu tư nhỏ, chủ yếu dưới 10 triệu USD/dự án

1.1.5 Đánh giá chung

Đặc điểm nguồn vốn đầu tƣ FDI của các quốc gia ASEAN vào Việt Nam nhƣ sau: nguồn vốn đầu tư FDI của các nước ASEAN là một bộ phận của nguồn vốn đầu tƣ FDI trên thế giới đầu tƣ vào Việt Nam nhƣng do đặc điểm riêng của từng nước ASEAN cũng như khu vực, nên đầu tư FDI của các nước ASEAN có những đặc điểm riêng so với các nước trên thế giới.

a. Đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam chủ yếu là các ngành công nghệ không cao, chủ yếu nhằm tranh thủ lợi thế về lao động

Trong những năm gần đây đầu tư từ ASEAN vào nước ta tập trung vào một số ngành xây dựng, khách sạn, du lịch hay công nghệ thực phẩm …, điều này phù hợp với đặc điểm của các nhà đầu tƣ đến từ ASEAN bởi thực chất, ngoại trừ Singapore là tương đối phát triển các nước còn lại đều đang ở giai đoạn đầu của tiến trình công nghiệp hoá. Thêm nữa, tất cả các nước ASEAN đều có chung lợi thế so sánh với Việt Nam, do đó lao động nhiều và rẻ nên phát triển những ngành công nghệ vừa phải, tận dụng nguồn lao động là phù hợp. Cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam đang dành rất nhiều ƣu đãi cho các nhà đầu tƣ vào phát triển cơ sở hạ tầng và đầu tƣ cho sản xuất hàng xuất khẩu. Vì vậy, đầu tƣ vào xây dựng, công nghiệp nhẹ hiện nay đối với các nhà đầu tƣ là an toàn và hiệu quả nhất.

b. Quy mô dự án

Quy mô dự án đầu tư đến từ các nước ASEAN còn nhỏ, điều này bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính là tiềm năng của các nhà đầu tƣ ch hạn chế ở mức đó và do đặc thù của l nh vực đầu tƣ không cần nhiều vốn. Nhƣng gần đây đã xuất hiện các dự án lớn của các tập đoàn đa quốc gia từ các nước ASEAN.

c. Các nước ASEAN vừa là nước đi đầu tư vừa là đối thủ cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài

Cũng tuân theo xu thế của thế giới các nước ASEAN đều có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài nhưng có lẽ Việt Nam là đối tác đầu tư đặc biệt hơn các nước khác không ch bởi sự tương đồng về lịch sử, văn hoá, truyền thống mà trên hết, Việt Nam là thành viên của ASEAN. Nhằm thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế và thoát ra khỏi những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, các nước đều nhất chí về vai trò của sự hợp tác phát triển, đặc biệt là hợp tác thương mại và đầu tư nhất là xu thế khu v ực hoá của nền kinh tế thế giới hiện nay. So với một số nước như Singapore, Malaysia hay Thái Lan, Việt Nam vẫn là nước kém phát triển hơn, phù hợp để các nhà đầu tƣ ASEAN chuyển giao những công nghệ đã cũ, những ngành không còn phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế (những ngành sử dụng nhiều lao động, cộng nghệ thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao…)

Đảo ngược lại, chính bản thân các nước ASEAN cũng rất cần vốn đầu tư, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng, FDI trở thành nguồn quan trọng nhất cho phục hồi nền kinh tế. Kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy FDI có vai trò rất tích cực đối với giai đoạn đầu của phát triển kinh tế. Vì vậy, vấn đề thu hút vốn có ý ngh a như nhau đối với các nước đang phát triển. Theo phân tích của các chuyên gia thì vốn FDI trong những năm tới có xu hướng đổ vào các nước Mỹ La tinh, một số nước Châu Á tương đối phát triển. Trong khu vực nổi lên Malaysia và Singapore là những nước có tiềm năng thu hút đầu tư nhất. Các nước ASEAN có lợi thế so sánh nhƣ nhau, lại thêm những cam kết trong xuất nhập khẩu hàng hoá có nguồn gốc trong khu vực thì thực chất đầu tư vào nước nào cũng như nhau. Đây ch nh là nguồn gốc dẫn đến thực trạng các nước ASEAN vừa hợp tác cùng phát triển nhưng lại cũng cạnh tranh ngày càng gay gắt trong thu hút đầu tƣ.

d. Việt Nam và các nước ASEAN ở trong cùng một khu vực kinh tế nên chịu chung các tác động toàn cầu

Sự giống nhau giữa các nướcASEAN vừa có lợi nhưng cũng gây rất nhiều hạn chế. Mỗi khi có những biến động lớn xảy ra trên thị trường thì thương mại và đầu tư của tất cả các nước cùng bị ảnh hưởng nặng nề thông qua đó ảnh hưởng đến mọi mặt của nền kinh tế mà điển hình nhất là cuộc khủng khoảng kinh tế vừa qua.

Do sự lỏng lẻo của hệ thống tài chính, tất cả các nước (trừ Singapore) đều không chống đỡ đƣợc cơn bão khủng hoảng. Đối với Việt Nam tác động của khủng hoảng bị khuyếch đại do thị trường xuất khẩu cộng thêm nguồn đầu tư trực tiếp chủ yếu là

Một phần của tài liệu triển vọng và thách thức của việt nam trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các quốc gia trong khối asean (Trang 32 - 40)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(73 trang)