Cơ cấu tổ chức công ty cổ phần

Một phần của tài liệu bài giảng kế toán tài chính (Trang 89 - 93)

KẾ TOÁN CÔNG TY CỔ PHẦN

13.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

13.1.1.3 Cơ cấu tổ chức công ty cổ phần

Công ty cổ phần là tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân tồn tại riêng biệt, cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần có một số điểm khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp khác. Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần bao gồm:

Cổ đông là những cá nhân, tổ chức kinh tế xã hội có đủ tư cách pháp nhân tự nguyện dùng vốn của mình gộp lại với nhau thành vốn của công ty.

Đại hội cổ đông thường kỳ là hội nghị toàn thể các cổ đông của công ty, mọi cổ

đông đều có quyền tham dự để bàn bạc và quyết định những vấn đề quản lý và kinh doanh của công ty. Mỗi đại hội phải có sự tham gia của những cổ đông đại diện cho trên hai phần ba số vốn điều lệ của công ty thì đại hội mới có giá trị pháp lý.

Hội đồng quản trị là cơ quan thường trực của đại hội cổ đông, do đại hội cổ đông bầu ra và được đại hội cổ đông ủy quyền quản lý toàn bộ tài sản và các hoạt động kinh doanh của công ty trong phạm vi quyền hạn chức năng của mình. Hội đồng quản trị không giữ chức năng điều hành bộ máy sản xuất kinh doanh của công ty mà chỉ đóng vai trò quản lý, được tổ chức gọn nhẹ, bao gồm những người có trình độ chuyên môn và quản lý giỏi.

Ban kiểm soát là bộ phận thực hiện quyền kiểm tra, kiểm soát của các cổ đông đối với hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc điều hành công ty, do đại hội cổ đông bầu ra trong cùng một nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị.

Ban giám đốc là bộ phận thực hiện chức năng điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hội đồng quản trị và sự kiểm tra, giám sát của

kinh doanh làm sao đảm bảo có lợi nhuận và gia tăng giá trị của công ty.

13.1.2 Tổng quan về chứng khoán

Chứng khoán là các loại giấy có giá, chứng nhận sự góp vốn hay cho vay dài hạn đối với chủ thể phát hành. Chứng khoán là một công cụ rất hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường để tạo nên một lượng vốn tiền tệ khổng lồ, tài trợ dài hạn cho các mục đích mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hay các dự án đầu tư của Nhà nước và tư nhân.

Căn cứ vào bản chất chứng khoán, có thể chia ra thành chứng khoán nợ và chứng khoán vốn.

Chứng khoán nợ là giấy chứng nhận nợ do Nhà nước hoặc các doanh nghiệp phát hành khi cần huy động vốn cho các mục đích tài trợ dài hạn, gồm có trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu.

Chứng khoán vốn là giấy chứng nhận sự góp vốn kinh doanh vào các công ty cổ phần, gồm có cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.

Để duy trì và phát triển hoạt động của công ty, ở từng giai đoạn cụ thể công ty có thể phát hành chứng khoán nợ hoặc chứng khoán vốn. Việc phát hành chứng khoán nợ đã được nghiên cứu ở Kế toán tài chính 2 chương 2 (nội dung về phát hành trái phiếu doanh nghiệp), trong phạm vi chương này chỉ tìm hiểu về chứng khoán vốn hay còn gọi là cổ phiếu.

13.1.2.1 Cổ phiếu thường

Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu mà tất cả các công ty cổ phần đều phát hành.

Đó là loại chứng khoán phát hành đầu tiên và thu về cuối cùng của một công ty cổ phần.

Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường là những người chủ sở hữu doanh nghiệp nên là người trực tiếp nhận được lợi tức từ kết quả sản xuất kinh doanh cũng như chia sẻ mọi rủi ro trong kinh doanh, do đó cổ phiếu thường có 2 đặc điểm:

- Cổ phiếu thường không có kỳ hạn và không hoàn vốn;

- Lợi tức của cổ phiếu tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó cổ tức của nó không cố định. Khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt, cổ đông

suất cố định, nhưng ngược lại cổ tức có thể rất thấp hoặc hoàn toàn không có khi công ty làm ăn thua lỗ.

Trách nhiệm của cổ đông

Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường của công ty cổ phần đại chúng chịu trách nhiệm hữu hạn theo phần vốn góp của mình trên hai mặt:

- Thứ nhất, phần vốn góp vĩnh viễn không được rút vốn lại. Lúc cần lấy lại vốn, họ có thể chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần trên thị trường chứng khoán bằng cách bán cổ phiếu cho một nhà đầu tư khác.

- Thứ hai, trách nhiệm của cổ đông đối với việc làm ăn thua lỗ hay tình trạng phá sản của công ty chỉ giới hạn trong phần vốn góp trên cổ phiếu. Nếu công ty làm ăn không hiệu quả xem như họ mất phần vốn đã bỏ ra để mua cổ phiếu.

Các hình thức giá trị của cổ phiếu thường

Mệnh giá là giá trị ban đầu được ghi trên cổ phiếu, chứng nhận phần vốn góp của cổ đông vào công ty. Mệnh giá cũng thể hiện vốn pháp định của công ty cổ phần.

Khi cổ phiếu đã được giao dịch trên thị trường thứ cấp thì mệnh giá chỉ đơn thuần là một số liệu kế toán, không có giá trị thực tế đối với nhà đầu tư. Bởi vì khi công ty hoạt động có hiệu quả, giá thị trường của chứng khoán sẽ lớn hơn nhiều lần so với mệnh giá;

ngược lại, khi công ty lâm vào tình trạng kinh doanh thua lỗ, thì giá thị trường của chứng khoán cũng giảm.

Giá trị thị trường là giá của cổ phiếu được thực hiện trong các giao dịch mua bán chứng khoán trên thị trường, nó được quyết định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường.

Giá trị sổ sách là giá trị của cổ phiếu được xác định căn cứ vào số liệu trên sổ sách kế toán của công ty.

Các loại cổ phiếu thường

Căn cứ vào đặc điểm hoạt động công ty, cổ phiếu thường có thể phân thành:

phát triển lâu đời, vững mạnh về khả năng sinh lợi và trả cổ tức. Đây là loại cổ phiếu có giá trị cao trên thị trường.

Cổ phiếu tăng trưởng là cổ phiếu được phát hành từ những công ty đang trên đà tăng trưởng nhanh, nó thường giữ lại hầu hết lợi nhuận để dành vào việc đầu tư, việc trả cổ tức chỉ là phần nhỏ hoặc không có.

Cổ phiếu thu nhập là loại cổ phiếu mà cổ tức được trả cao hơn mức trung bình trên thị trường, nó dành cho những người hưu trí hoặc lớn tuổi vì các đối tượng này thường mong muốn nhận thu nhập hiện tại cao hơn trung bình.

Cổ phiếu chu kỳ là cổ phiếu của các công ty mà thu nhập của nó dao động theo chu kỳ kinh tế. Khi công ty có thu nhập khá, tích lũy nhiều, giá cổ phiếu tăng cao trên thị trường. Ngược lại, khi kinh tế khó khăn, hoạt động kinh doanh của công ty giảm sút thì giá cổ phiếu giảm.

Cổ tức

Cổ tức của cổ phiếu thường là khoản tiền chia cho các cổ đông trên mỗi cổ phiếu thường, xuất phát từ thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Cổ tức của cổ phiếu thường được trả sau khi đã trả cổ tức cố định cho cổ phiếu ưu đãi. Hằng năm, Đại hội cổ đông sẽ quyết định việc trả cổ tức và chính sách phân chia cổ tức.

Cổ tức là mục tiêu đầu tiên của nhà đầu tư. Chính sách chi trả cổ tức của một công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khả năng thanh toán, triển vọng tăng trưởng, nhu cầu tăng vốn và uy tín của công ty. Chính sách phân chia cổ tức thể hiện chiến lược phát triển của công ty đó, cụ thể trong giai đoạn đầu công ty cần nhiều vốn để phát triển sản xuất thì lợi nhuận đa phần được giữ lại ở quỹ đầu tư hay quỹ phát triển sản xuất.

Khi công ty đã qua giai đoạn này, có thu nhập cao và ổn định thì lợi nhuận phần lớn để chia cổ tức cho cổ đông. Cổ tức của cổ phiếu là căn cứ quan trọng để nhà đầu tư quyết định mua cổ phiếu của công ty nào.

13.1.2.2 Cổ phiếu ưu đãi

phiếu. Đây là giấy chứng nhận cổ đông được ưu tiên so với cổ đông thường về mặt tài chính nhưng lại bị hạn chế về quyền hạn.

Cổ phiếu ưu đãi được ưu đãi hơn cổ phiếu thường ở các điểm sau:

- Được hưởng một mức lãi riêng biệt, cố định hàng năm;

- Được ưu tiên chi lãi trước cổ phiếu thường;

- Được ưu tiên phân chia tài sản còn lại của công ty trong trường hợp công ty bị giải thể trước cổ phiếu thường.

Các loại cổ phiếu ưu đãi

Cổ phiếu ưu đãi lũy kế là loại cổ phiếu trong trường hợp công ty làm ăn không có lãi để trả cổ tức hoặc không đủ để trả thì phần còn thiếu năm nay sẽ được tích lũy sang năm sau hay vài năm sau khi công ty có đủ lợi nhuận để trả. Và khi công ty có lãi, sẽ dành ra phần lãi ưu tiên trả để trả cổ tức lũy kế cho cổ phiếu này trước rồi mới trả lãi cho các cổ phiếu thường.

Cổ phiếu ưu đãi không lũy kế là loại cổ phiếu mà trong trường hợp công ty không công bố chia lãi hoặc bị lỗ, cổ tức của những cổ phiếu này sẽ bị bỏ qua.

Cổ phiếu ưu đãi có chia phần là loại cổ phiếu mà người nắm giữ chúng ngoài phần cổ tức được chia cố định, sẽ còn được hưởng thêm phần lợi tức phụ trội theo quy định khi công ty làm ăn có lãi nhiều.

Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường là loại cổ phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường theo một tỷ lệ đã ấn định trước.

Ngoài ra, còn có thể có các loại cổ phiếu ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định như: cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi hoàn lại, cổ phiếu ưu đãi cổ tức…

Cổ phiếu ưu đãi được phản ánh theo mệnh giá. Khi công ty thanh lý giải thể thì mệnh giá là cơ sở để thanh toán vốn cho cổ đông, mệnh giá cổ phiếu thường không hề có ý nghĩa này. Cổ tức cổ phiếu ưu đãi được tính bằng tỷ lệ lãi suất theo mệnh giá.

Một phần của tài liệu bài giảng kế toán tài chính (Trang 89 - 93)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(244 trang)