HỆ THỐNG NHIÊN LI ỆU ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG
II- CẤU TẠO HỆ THỐNG NHIÊN LIỆU ĐỘNG CƠ XĂNG
2.2. Hệ thống phun xăng cơ khí
Hình 2.5:Sơ đồ bộ chế hoà khí đơn giản.
1- Vòi phun; 2- Họng;
3- Bướm ga; 4- Zíclơ;
5-Phao xăng; 6- Buồng phao;
7- Van kim; 8- Ống xăng;
9- Lỗ thông; I-Xăng;
II- Không khí;
III- Hoà khí.
2.2.1. Bộ cảm biến dòng không khí nạp
Hình 2.6. giới thiệu kết cấu hoạt động của bộ cảm biến khối lượng không khí nạp.
Dòng không khí do động cơ hút, thổi xuyên qua bộ cảm biến sẽ tác động một lực lên mâm đo (2), lực này tỷ lệ thuận với khối lượng không khí nạp và đẩy mâm đo nâng lên. chuyển động của mâm đo làm cho cần bẩy (6) xoay quanh trục xoay (5). Cuối cùng cần bẩy điều khiển van trượt của bộ phân phối để định lượng số xăng phun ra.
Hình 2.6: Bộ cảm biến lưu lượng dòng không khí nạp kiểu mâm đo được hút lên.
1- Đường ống khuếch tán ; 2- Mâm đo; 3- Vùng giảm áp; 4- Vít điều chỉnh hỗn hợp;
5- trục xoay của thiết bị đo; 6- Cần bẩy; 7- Lò so lá.
2.2.2. Bộ phân phối xăng
Bộ phân phối xăng kết hợp với bộ cảm biến dòng không khí nạp nhằm định lượng và phân phối xăng đến các vòi phun đúng yêu cầu và đúng lượng cần thiết.
Tuỳ theo vị trí cao hay thấp của mâm đo trong bộ cảm biến dòng không khí nạp, bộ phân phối sẽ định lượng một số xăng tương ứng với lượng không khí nạp để cung cấp cho các vòi phun của từng xylanh động cơ.
Như đã giới thiệu trước đây, dao động của mâm đo được cần bẩy truyền động đến van trượt (5). Hình 2.7 cho thấy xăng nạp vào bộ phân phối qua lỗ nạp (3), sau đó len qua vai của van trượt (5) trong xylanh (6). Số xăng đã định lượng được đưa lên các vòi phun qua các mạch (4).
2.2.3. Áp suất kiểm soát van trượt
Áp suất kiểm soát van trượt suất phát từ áp suất ban đầu trong mạch xăng (hình 2.8). Áp suất kiểm soát được cách ly với áp suất ban đầu nhờ zíclơ tiết lưu (2). Có nghĩa là áp suất trong khoang (5) là áp suất ban đầu do bơm xăng cung cấp, còn áp suất (1) phía sau zíclơ (4) và (2) là áp suất kiểm soát van trượt.
Hình 2.7: Bộ phân phối và định lượng nhiên liệu gồm đôi xylanh-van trượt định lượng ,
được tác động do cần bẩy của mâm đo.
1- Dòng không khí nạp; 2- Áp suất kiểm soát;
3- Xăng vào xylanh phân phối;
4- Xăng đã được định lượng; 5 - Van trượt;
6- Xylanh với các khe;
7- Bộ phân phối xăng.
Một đường ống dẫn nối liền bộ phân phối xăng với bộ tiết chế sưở i nóng động cơ, thiết bị này làm đậm khí hỗn hợp trong quá trình sưởi nóng động cơ sau khi khởi động.
Khi khởi động, động cơ đang còn nguội lạnh, áp suất kiểm soát có trị số khoảng 0,5 bar.
Lúc động cơ đã nóng đến nhiệt độ vận hành bình thường thì cơ cấu s ưởi nóng động cơ sẽ làm tăng áp suất kiểm soát lên đến 3,7 bar.
Áp suất kiểm soát tác động lên tiết diện van phân lượng tạo ra một lực đẩy theo hướng ngược lại với hướng nâng lên của mâm đo bộ cảm biến không khí nạp. Động tác này có tác dụng giảm chấn, dập tắt dao động của van trượt do bộ cảm biến không khí nạp gây ra. Áp suất kiểm soát còn làm cho van trượt phải luôn luôn đi theo mâm đo, không bị kẹt treo phía trên sau khi mâm đo đã đi xuống.
Áp suất kiểm soát ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của bộ phân phối xăng trong công tác định lượng nhiên liệu như sau:
-Nếu áp suất này thấp, sức hút của dòng khí nạp sẽ nâng mâm đo lên cao hơn, khe định lượng sẽ được mở rộng hơn, hậu quả là hỗn hợp sẽ dư xăng.
-Ngược lại nếu áp suất kiểm soát cao, thì mức dịch lên của mâm đo không đủ, van trượt mở nhỏ khe phân lượng khí hỗn hợp thiếu xăng.
2.2.4. Bộ tiết chế sưởi nóng động cơ
Hình 2.9 giới thiệu kết cấu và hoạt động của bộ tiết chế sưởi nóng động cơ. Nó được bố trí trên thân động cơ nhằm tiếp nhận trực tiếp nhi ệt độ của động cơ. Bên trong bộ này gồm có màng van (1) được điều khiển nhờ lò xo (4). Thanh lò xo lưỡng kim (5) được nung nóng thêm nhờ điện trở (6) sẽ tác động lên sức căng của lò xo (4). Trong điều kiện động cơ đang còn nguội, thanh lò xo lưỡng kim (5) ấn lò xo (4) kéo màng (1) trũng xuống theo làm tăng thể tích trên màng. Nhờ vậy áp suất điều khiển tác động trên van trượt sẽ giảm giúp van này mở khe phân lượng lớn hơn để thêm xăng.
Hình 2.9: Kết cấu của bộ tiết chế sưởi nóng động cơ.
1- Màng van; 2- Xăng hồi về; 3- Áp suất kiểm soát ; 4- Lò xo; 5- Lò xo lưỡng kim; 6-
Dây nung bằng điện.
Suốt thời gian nổ máy sưởi nóng động cơ, nhiệt độ tăng lên dần, tấm lò xo lưỡng kim nở dài theo hướng bật lên, lò xo (4) sẽ đội màng Hình 2.8: Áp suất ban đầu và áp suất kiểm soát
van trượt.
1- Áp suất kiểm soát van trượt thuỷ lực; 2-Zíclơ tiết lưu giảm chấn; 3 - Liên hệ tới bộ tiết chế sưởi nóng động cơ; 4- Zíclơ phân cách; 5- Áp suất ban đầu của xăng; 6- Lực nâng của mâm đo bộ cảm biến dòng khí nạp.
1
2
3 4
Hình 2.11: Vòi phun cơ khí (1) lên làm tăng áp suất điều khiển van trượt trong bộ phân phối xăng nhằm mở nhỏ khe phân lượng giảm bớt xăng. Sau khi động cơ đã kết thúc quá trình sưởi nóng, áp suất điều khiển trở lên không đổi ở mức 3,7 bar.
2.2.5. Bộ điều áp suất xăng ban đầu
Hình 2.10 giới thiệu kết cấu của bộ điều áp suất ban đầu. Áp suất điều áp từ bộ sưởi nóng động cơ đi vào cửa (5) chui xuyên qua van chặn (4) trở về thùng xăng qua lỗ (2).
Van chặn mở trong suốt thời gian động cơ hoạt động và nó đóng kín khi ngừng động cơ. Động tác này nhằm mục đích duy trì áp suất kiểm soát ở một mức quy định nào đó cũng như duy trì áp suất nhiên liệu trong mạch khi ngừng động cơ.
Hình 2.10: Kết cấu và hoạt động của van điều áp áp suất ban đầu có trang bị van chặn.
1- Áp suất ban đầu đi vào van; 2 - Mạch hồi về thùng xăng; 3- Piston của van điều áp áp suất ban đầu; 4-
Van chặn; 5- Áp suất điều khiển từ bộ tiết chế sưởi nóng đi vào van.
2.2.6. Vòi phun cơ khí
Hình 2.11 giới thiệu kết cấu của vòi phun cơ khí trang bị trên HTPX K -Jectronic.
Trong quá trình hoạt động, vòi phun mở ra để phun xăng do chính áp suất đã được điều áp của nhiên liệu, xăng được phun vào cửa nạp của xupáp hút. Các vòi phun xăng được lắp trong vỏ bọc cách nhiệt đặc biệt nhằm tránh bị ảnh hưởng nhiệt độ của động cơ. Bản thân các vòi phun cơ khí không tự nó ấn định lưu lượng xăng phun ra, công tác này được điều khiển do áp suất xăng trong mạch. Khi áp suất nhiên liệu đạt đến khoảng 3,5 bar thì các béc phun xăng mở van.
Kết cấu của vòi phun gồm van kim (3) đóng kín bệ van (4). ở tầng số phun xăng cao, van kim rung động mạnh có thể nghe nhận được tiếng rung. nhờ vậy phun sương rất tốt cho dù lượng xăng phun ra rất bé. Khi tắt máy, động cơ ngừng, bơm xăng được nghỉ, áp suất trong mạch giảm xuống dưới mức áp suất mở vòi phun, van kim đóng kín bệ
1.2.2.7. Một số bộ phận khác
Các bộ phận của hệ thống phun xăng kiểu cơ khí như bơm, vòi phun khởi động lạnh, bầu tích lũy xăng, bộ lọc xăng cũng giống như của hệ thống phun xăng kiểu điện tử.
Nó sẽ được trình bày ở phần sau.