Nhân vật với những xúc cảm mới mẻ

Một phần của tài liệu TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN (Trang 183 - 186)

PHẦN III: NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH

2. Nhân vật với những xúc cảm mới mẻ

Sự vận động của lịch sử từ chiến tranh đến thời bình, từ cơ chế bao cấp đến cơ chế thị trường đã tạo ra bối cảnh phức tạp cho sự vận động của văn học. Nói như Nguyên Ngọc thì “hoá ra đời sống trong hoà bình phức tạp hơn chiến tranh rất nhiều”. Cùng với sự công khai đường lối văn hoá dân chủ của Đảng

là hành trình văn học khơi mở những vấn đề về con người, đặt con người vào những thức nhận mới của thời đại. Như lẽ tất yếu, xúc cảm của con người trước vận mệnh dân tộc, những biến cố lớn của lịch sử sẽ nhạt dần đi, thay vào đó là hành trình quay trở về với cái tôi cá nhân, về với vòng đời đa đoan, tục lụy. Các nhà văn đã thăm dò đến những cái vặt vãnh nhất, nhỏ nhặt nhất, đi vào tận tâm linh, tiềm thức con người. Cuối hành trình ấy, họ đã gặp gỡ với những nhân vật trong những dạng thái xúc cảm phong phú. Cảm xúc ấy là nét tâm lí vĩnh cửu, thường nhật của muôn thế hệ nhưng lại là trạng thái tinh thần mới mẻ của văn học thiếu nhi Việt Nam nếu quan sát từ điểm nhìn lịch đại. Đó là tiền đề cho sự xuất hiện của một dạng thức nhân vật mới trong văn học thiếu nhi - nhân vật cô đơn.

Có thể gọi Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn của cảm thức cô đơn, lạc loài nếu xét riêng ở địa hạt văn chương dành cho người lớn. Rất nhiều lần, ông để cho nhân vật của mình cô đơn, trần trụi giữa cuộc đời, mặc cho những đứa con tinh thần của ông phải thốt lên: “Sao tôi cứ như lạc loài”. Những hành động như thế của người lớn dẫu sao cũng dễ cắt nghĩa. Phần vì do khoảng cách giữa hai thế hệ quá lớn nên những con người cũ khó nhập cuộc. Phần vì những vết rạn của đời sống tinh thần mà cuộc sống hiện đại đưa đến... Nhưng mặc cảm cô đơn không chừa trẻ thơ. Truyện ngắn Tâm hồn mẹ xuất hiện một nhân vật đặc biệt - đứa trẻ cô đơn. Đăng cô đơn từ lúc hai tuổi - một sự cô đơn gần như tiền định vì những “chấn thương tinh thần lớn”: mẹ chết đột ngột, bố đi lấy vợ khác. Hoàn cảnh sống tạo cho Đăng sự nhạy cảm quá mức. Đăng không thiết lập được sợi dây liên lạc với những người thân. “Đến bảy tuổi, Đăng chỉ quanh quẩn trong nhà, Nó ở với toàn người lớn. Người lớn không hiểu nó”. Từ đây, nhân vật xuất hiện trạng thái tâm lí mới: hay tủi thân. Có khi, sự tủi thân ấy được gửi vào tiếng khóc.

Có khi, nó thể hiện ở sự xét nét về thái độ săn sóc của những người xung quanh: “Lúc bà ngoại kì cọ kĩ quá, nó nghĩ ngay rằng nếu là mẹ thì không làm thế. Mẹ chỉ gội đầu và kì cọ những chỗ chủ yếu, còn những chỗ khác thì mẹ để cho nó làm lấy. Ăn cơm cũng vậy, nếu là mẹ thì không làm như ông ngoại.

Ông ngoại không hiểu nó không thích lạp xường, đáng lẽ đừng ép thì đằng này ông lại ép, nổi giận và cuối cùng ông chén luôn miếng lạp xường. Nó không tiếc miếng lạp xường, nó chỉ tủi thân vì ông không hiểu nó”. “Nếu là mẹ sẽ thế nào?” – đó là một giả định nhưng đồng thời là một ước vọng nhức nhối về tình mẹ. Tâm hồn cậu bé trở nên mong manh, dễ vỡ, dễ tổn thương. Khi người bạn gái chọc mũi kim vào chỗ nó đau nhất: “Mày là thằng mồ côi. Mày cay nghiệt lắm!”, Đăng đã đứng sững lại, mặt tái đi, nước mắt trào ra, đôi môi run rẩy, tái dại. Cứ thế, nhân vật đã lớn lên cùng với sự cô đơn và nhạy cảm hơn với thân phận côi cút của mình.

Vũ Oanh tiếp tục phát triển môtip nhân vật cô đơn trong truyện ngắn Tuổi thơ côi cút. “Nó cô đơn biết bao!”, câu văn tuồng như lời trần thuật khách quan nhưng lại có dáng dấp của một lời độc thoại. Tồn tại ở tư cách nào thì nó cũng góp phần xác minh hiện trạng tâm lí của đứa trẻ 11 tuổi: sự cô đơn giữa biển đời. Thật xót xa khi đứa trẻ ấy cảm nhận rằng tuổi thiếu niên của mình như khuất xa rồi. Hạnh phúc, sự bình yên cứ mờ dần theo sự chuyển đổi về không gian cư trú. Cái đêm ông bà nội bị đội cải cách và mấy nông dân đấu tố ở chùa là thời khắc định mệnh chia đôi thân phận. Bình yên là khi nó được sống cùng ba mẹ trong một mái nhà với khu vườn mênh mông, xanh rì cây cối. Bị khinh miệt, hắt hủi là khi bát gạo cuối cùng đã hết, ngôi nhà to sang tay người khác và mẹ con nó phải sống nhờ nhà bà ngoại. Tuổi thơ với nó là những ám ảnh tâm lí dữ dội. Đứa trẻ ấy bị bủa vây bởi những không gian toàn màu đỏ và màu vàng. Màu đỏ của máu, “máu chảy nhiều. Máu từ mũi chảy xuống miệng...

Máu tươi tràn ra cằm. Có những giọt nhỏ long tong xuống đất, trước hai bàn chân nhỏ bé mà cái móng lúc nào cũng vàng màu rỉ sắt, màu gạch cua đồng”. Màu vàng, rất vàng - gam màu của đói khát. Đói đến nỗi cái bụng lép kẹp, cái rốn lồi như dính vào cột sống. Không gian ấy đã tạo ra lực cản ghê gớm cắt đứt mối liên hệ giữa nó với bạn bè, người thân. Hành trang của chị em nó giờ chỉ là những cái tên xa xót: những đứa con đen, những đứa trẻ mồ côi, những đứa trẻ đi ở nhờ, những đứa trẻ bị tước đoạt hết cái ăn... Cứ thế, tuổi thơ côi cút trôi qua trong nỗi sợ hãi, ngơ ngác - sợ hãi và ngơ ngác ngay cả khi ở cạnh những người thân. Sự cô đơn ngày càng thành hình, thành khối, trở thành nỗi ám ảnh của nhân vật. Sau cùng, nó đã tìm cách hoá giải nỗi cô đơn bằng một cách rất tâm linh là sống với... âm hồn. Nó nói chuyện theo cách những đứa trẻ câm biết chữ, gói những dằn vặt thơ dại vào những trang thư gửi cho người cha quá cố.

Xây dựng nhân vật cô đơn như thế, Nguyễn Huy Thiệp và Vũ Oanh đã chạm đến tinh thần của phân tâm học, để bóng dáng Freud soi vào trang văn của mình. Dấu ấn phân tâm học trong tác phẩm thật

đậm nét, đặc biệt là ở cái cách giải toả mặc cảm thân phận của Đăng. Đầu tiên là việc em dồn tình cảm cho Thu – cô bạn gái bảy tuổi, hồn nhiên và khá tự do. Lần thứ hai chính là cách phản ứng tiêu cực của Đăng khi ông bà ngoại xúc phạm “mẹ Thu”. Sau phút uất ức tủi cực vì tâm hồn bị thương tổn, Đăng đã thu mình vào bóng tối và bất ngờ xuất hiện rất nhanh ý thức về cái chết. Em quyết định giải thoát cuộc đời bằng cách lao vào đường ray khi tàu điện đi qua... Từ ý thức khám phá chiều sâu tâm linh để nhận diện con người đích thực, tác giả Tuổi thơ côi cút đã nỗ lực tiếp cận thế giới của vô thức, tiềm thức đằng sau bức tranh hiện thực. Có lần, nhân vật đã hành động trong vô thức và chính hành động đó đã đưa người đọc về với một thực tế nghiệt ngã: “Có những bận tới bãi sông này, nó vừa bì bõm lội vừa tức tưởi khóc. Khi nằm xuống vạt cói, khi nằm xuống bãi lầy, vô ý thức trát bùn kín người, cả mặt và đầu tóc. Nó hoàn toàn lẫn vào đất. Nó không còn khái niệm sạch và bẩn khi ẩn mình vào sông nước.

Bùn đất, cỏ rác, nước và phù sa là những gì gần gũi và thân thiết...”. Sự sống và cái chết sao giờ lại gần nhau đến thế? Một đứa trẻ chưa đi hết vòng tuổi thơ sao lại gần với cát bụi đến thế?

Nỗi buồn và sự cô đơn đã trở thành một trạng thái tâm lí dễ nhận biết của con người mới trong văn học. Không hề giấu giếm, các nhà văn đã mặc sức để cho nhân vật phơi phóng cả tâm hồn. Góc nhìn đời tư ấy góp phần hình thành nên dạng thức nhân vật cá tính, nhân vật nhiều khát vọng - sản phẩm của chính xã hội hiện đại (Apsara hoang dại – Quế Hương, Chị Dịu – Bùi Năng Ngân Hằng, Chuỗi hạt cườm màu xám – Đỗ Bích Thúy, Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp Ri – Nguyễn Quang Lập, Dòng sông tuổi – Dương Thuấn,...).

“Con câm”, “con rắn”, “con vịt xấu xí”, “que củi” là những danh từ mà mọi người sử dụng khi “giao tiếp” với Apsara hoang dại. Những từ xưng gọi ấy như những chiếc áo vô tình phủ kín bí mật về một tâm hồn nhiều xúc cảm. Từ trong đói khổ, bất hạnh, nhân vật thể hiện sự mê hoặc đặc biệt trước vẻ đẹp của những đền tháp lở lói, rêu phong.Việc gia nhập hội “Những kẻ Chàm ám”, thể hiện tình yêu với thánh địa Mĩ Sơn bằng cách bắt chước điệu múa của vũ nữ Chăm là biểu hiện của khát vọng hoá thân cháy bỏng. Hai lần cô bé cất tiếng nói và đó thật sự là những thanh âm đầy ý nghĩa, được khởi nguồn từ khát vọng vươn đến cái Đẹp, ghi dấu giấc mơ trở thành thiên nga của con vịt con xấu xí, tiếng nói của khát vọng sinh tồn mãnh liệt. Như một viên gạch Chăm, nói nhiều điều trong câm lặng là hình ảnh so sánh đẹp mà nhà văn dành cho nhân vật. Phải chăng vì thế ông già Chăm - người cho nó sống lần hai, đã yêu thương gọi nó là Tagiglao – tên của một loài hoa nở rộ ở quê ông vào mùa hội Katê. Tên gọi ý nghĩa ấy đã đi theo cuộc đời nhân vật, cùng đứa bé lớn lên trong hoang dại, khốn khổ, cô đơn nhưng vẫn là đoá hoa dại của rừng và trở thành “người lĩnh hội nghệ thuật từ thinh lặng trong đá”, hoá thân thành một phần của văn hoá Chămpa cổ xưa, đưa cái an nhiên, thần bí, thẳm sâu của Mĩ Sơn ra ngoài dâu bể thời gian.

Sự dịch chuyển từ tư duy hướng ngoại sang hướng nội đã giúp nhà văn phát hiện những nhu cầu, trạng thái tâm lí rất thật, rất nhân bản của con người. Nhân vật văn học, đặc biệt là thiếu nhi, được khai thác ở cả những xúc cảm về giới tính nhưng đã dừng được ở cái ngưỡng cần thiết, tuyệt nhiên không đậm chất tính dục như văn học người lớn mà vẫn trong trẻo, hồn nhiên như thiên tính trẻ. Nhà văn Trần Thiên Hương, “một người phụ nữ đa đoan, quan tâm đến mọi thứ, hệ lụy đến mọi thứ” bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đến những rung động đầu đời của tuổi nhỏ. Bây giờ bạn ở đâu là những hồi ức trong trẻo, thơ dại về ngày xưa. Người viết đã tinh nhạy trong việc nắm bắt những diễn biến trong xúc cảm giới tính của nhân vật nữ chính, từ chỗ “thoắt nóng ran cả mặt”, sống trong “nỗi nhục nhã tuổi thơ”, chỉ còn biết cúi gằm mặt mà đi trong tiếng eo xèo của bè bạn đến sự căm ghét, xa lánh của Tâm đối với Bình – chủ nhân của những dòng nhật kí gây “náo động” lũ học trò lớp tám. Đã có lúc, Tâm gào lên trong câm lặng và ước rằng có một quả bom để nổ tung tất cả. Lúc đó, thằng Bình, Tâm, những đứa bạn trong lớp sẽ cùng tan biến mất. Phản ứng mạnh mẽ, sự tổn thương của nhân vật trước trò đùa thơ dại của bè bạn cho thấy, sâu trong tiềm thức, cô học sinh lớp tám này đã ý thức rõ ràng về tình cảm với người khác giới. Cái duyên riêng - và cũng là chỗ hơn người của tác giả- là đã tạo nên một cái kết bất ngờ làm thay đổi hoàn toàn đề tài của truyện. Khi dòng nhật kí của Bình chính thức được mở ra thì câu chuyện đột ngột chuyển hướng. Hoá ra, đây không phải là chuyện yêu đương trẻ con mà là sự cảm thông, thấu hiểu của Bình “quý tử” với cô bạn nhà nghèo bán rau trong phiên chợ Tết. Đề tài về xúc cảm tình yêu học trò đến đây mất hẳn vai trò trung tâm, nhường chỗ cho tấm lòng bè bạn ấm áp.

Tìm về Cỏ may để lẩy ra chút hương đồng nội, Trần Thiên Hương cũng kịp thời lưu giữ những rung động đầu đời của Tuấn - một cậu học sinh thành phố với cô bé nhà quê. Cuộc gặp gỡ tình cờ, oái ăm đã giúp Tuấn khám phá ra vẻ đẹp đồng quê rắn rỏi, mặn mà với làn da bồ quân và đôi mắt đen của cô bé đưa đò: “Ôi cái tiếng “em” kỳ diệu từ miệng cô bé trạc tuổi chúng tôi, mà có đốt đuốc cũng không hi vọng tìm thấy ở phe áo dài lớp tôi. Con gái đồng quê hay thật! Dịu dàng thật!”. Sau chuyến pic – nic, những lưu ảnh đẹp ấy đã theo Tuấn về thành phố: “Tôi thì thỉnh thoảng vẫn lén giở tấm ảnh cô bé đồng quê ấy ra xem để được thấy lại đôi mắt đen dịu hiền - dịu hiền ngay cả khi giận dữ. Tiếc rằng tôi đã không hỏi cô địa chỉ để có thể gửi tấm ảnh cho cô – bông hoa cỏ may của tôi”.

Với việc quan tâm đến những biến thái tế vi trong tâm hồn con người như thế, truyện ngắn thiếu nhi thời kì Đổi mới đã lùi dần khỏi từ trường của sử thi chiến tranh. Điều đó góp phần đáng kể vào quá trình cấu trúc lại tác phẩm. Cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn cho tuổi thơ sau 1986 đang dần dịch chuyển từ cấu trúc lịch sử - sự kiện sang cấu trúc lịch sử - tâm hồn, tâm hồn ở dạng thái rất thực của đời.

Một phần của tài liệu TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN (Trang 183 - 186)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(235 trang)
w