PHẦN III: NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH
4. Kết cấu đối thoại và con đường khám phá thế giới trẻ thơ
Là những tác phẩm thuộc thể loại trữ tình, thơ cho các em ít có sự chuyển biến mạnh mẽ về mặt kết cấu như truyện. Mặc dù vậy, quan sát những sáng tác thơ cho thiếu nhi những năm qua, có thể thấy hai đặc điểm nổi bật về kĩ thuật tổ chức tác phẩm như là sự tiếp nối và bổ sung thành tựu thơ giai đoạn trước: Sự trùng điệp và tính chất đối thoại trong kết cấu của văn bản thơ.
Kết cấu trùng điệp được sử dụng khá nhiều như chính một đặc điểm tâm lí của trẻ: thích nghe mãi một câu chuyện mà không biết chán, đố nhau một câu dù ai cũng biết tỏng đáp án là gì... Sự lặp lại, điệp trùng trong việc tổ chức từ và cụm từ giúp trẻ khắc sâu những ấn tượng thẩm mĩ về nhân vật trữ tình, về lời thơ, ý thơ... Trong thơ thiếu nhi hôm nay, ta bắt gặp rất nhiều những phương thức vận hành ngôn từ như thế (Cùng đi, Cầu vồng - Phạm Thanh Quang, Cuộc hành quân của thời gian – Phi Tuyết Ba, Chim gõ kiến – Nguyễn Như Mai,…).
Điệp từ ngữ hay điệp cấu trúc câu là phép tạo nhịp điệu hữu hiệu, nhịp điệu mô phỏng. Mỗi kết cấu
“của em”, “vì em” được lặp lại trong bài Tất cả cho em (Phạm Đình Ân) là một lần đánh thức cảm nhận về trẻ thơ - những mầm non tương lai của đất nước:
Của em: nhà máy
Của em: cánh đồng Của em: ngọn núi Của em: con sông.
Vì em, chim múa hát Vì em, hoa nở tươi Vì em, hương thơm ngát Vì em, hoa cũng vui.
Tu từ điệp ngữ được các nhà thơ hiện đại sử dụng như một phép tạo nhịp điệu, làm nên sự trùng điệp trong văn chương và cả trong cảm thức của người đọc. Hình ảnh thơ cũng vì vậy mà neo đậu mãi trên bến thời gian, trong lòng người:
Trăng như quả thị chín vàng Để cho cô Tấm nhẹ nhàng bước ra.
Trăng như là chiếc bánh đa Để cho cu Tí dâng quà biếu ông.
Trăng như trái bưởi, trái bòng Để cây mang nặng uốn cong vòm trời.
(Trăng - Nguyễn Văn Chương)
Đối với trẻ, hình thức đối thoại hình thành sớm hơn độc thoại. Trong thơ thiếu nhi thời kì trước 1986, ta bắt gặp một Xuân Quỳnh dịu dàng, đằm thắm trong từng lời ru, từng lời kể, từng nhịp điệu tâm tình, một Trần Đăng Khoa với tiếng gọi của trẻ thơ đáng yêu, một Phạm Hổ với lối đối - đáp nũng nịu và ngộ nghĩnh... Từ 1986 đến nay, thơ vẫn tiếp tục cuộc hành trình với những câu chuyện rất thú vị
“mẹ kể con nghe” về cuộc sống, với những câu hỏi líu lo luôn chứa đựng những điều bất ngờ và không bao giờ vơi cạn của trẻ thơ. Trong hai tuyển tập Tắc kè hoa và Đất đi chơi biển của Phạm Đình Ân, có 13 bài sử dụng kết cấu đối đáp. Những câu chuyện như bung nở, mở ra một thế giới thần tiên trước mắt bé thơ với bao điều cần khám phá và lí giải (Qủa chín và thơm, Tết nhà có khách, Người đi đường, Nhờ chú, Có kẻ lách vào vườn,…). Lắng tai nghe âm thanh rộn rã của vạn vật cũng là dịp để nhà thơ khắc chạm trong tác phẩm bức tranh sinh động về cuộc sống của trẻ thơ (Trung thu của trống Choai – Nguyễn Văn Chương). Với Cột mốc (Nguyễn Châu), kiểu kết cấu này lại nêu bật sự trân trọng những người lặng thầm làm việc. Ở Niềm vui (Đặng Hấn), sự đối đáp giữa các sự vật trước những câu hỏi ngây thơ của bé là cơ sở để người viết nêu bật triết lí sống rất cần cho trẻ thơ: Hạnh phúc của mỗi người chỉ có được nhờ ở sự lao động chân chính, ở những thành công bằng chính nỗ lực của mình.
Trẻ rất thích được vỗ về, được trò chuyện (và thậm chí được nghe chính tiếng nói của riêng mình).
Luôn luôn gặp trong thế giới của của bé những khát khao giãi bày, tìm tòi, khám phá những chân trời mới lạ. Bé “hỏi mẹ” xem “ai quạt thành gió - Thổi mây ngang trời?”, muốn tìm hiểu bầu trời “ai nhuộm” mà xanh đến thế... Với bé, bầu trời với muôn ngàn vì sao lấp lánh, với ông trăng rằm và chú Cuội... là cả một khoảng không bao la, kì bí: “Mẹ ơi, có phải - Cuội buồn lắm không - Nên chú phi công - Bay lên thăm Cuội?” (Hỏi mẹ - Nguyễn Xuân Bồi). Kết cấu đối - đáp hình thành xuất phát từ chính những câu hỏi hồn nhiên, trong trẻo ấy. Và bởi, viết cho thiếu nhi cũng là viết cho chính tuổi thơ
của mình, viết cho những đứa con yêu thương, cho những đứa trẻ thánh thiện xung quanh mình... nên các nhà thơ đã sử dụng kết cấu này như một gợi dẫn để đi dần vào thế giới tâm hồn trẻ thơ. Mỗi tác phẩm, hơn thế, còn là tấm vé về lại tuổi ấu thơ trên con tàu mang tên nỗi nhớ. Kí ức và tình yêu, quá khứ và những câu hỏi ngây thơ, khát vọng sống và sự sẻ chia của tấm lòng người sáng tạo đã đẩy nhà thơ vào cuộc hành trình đi tìm những câu trả lời để từ đó mở ra cho con trẻ những chân trời mới lạ. Thi sĩ dành một quãng thơ của mình để ngân nga khúc nhạc yêu thương, và trong đó, người đọc bắt gặp những cuộc trò chuyện tâm tình giữa người hỏi - người đang “sở hữu” một tuổi thơ thánh thiện và người trả lời - người đang nhìn ngày hôm qua bằng đôi mắt rất đỗi nhớ thương và đang dang rộng vòng tay ấp ủ những bé thơ. Bỏ qua cách cắt nghĩa mang những “triết lí hồn nhiên của sự sống, thứ triết lí mà ở mỗi lứa tuổi có thể hấp thụ một cách riêng”, những câu hỏi và trả lời bình dị như được lẩy ra từ những cung bậc dịu dàng trong cuộc đời này là lấp lánh sắc màu của sự đồng điệu hai thế giới:
thế giới trẻ thơ - thế giới của những con người đã bước qua thời vụng dại.
* *
*
Nếu trong văn học 30 năm chiến tranh, thơ thiếu nhi đã lên đến đỉnh gắn liền với tên tuổi của thần đồng thơ Trần Đăng Khoa, những năm gần đây, do nhiều lí do, cả chủ quan lẫn khách quan, mảng sáng tác này chững lại, nhường chỗ cho sự lên ngôi của các thể loại văn xuôi.
Trong nhiều sản phẩm văn học cho trẻ em hôm nay, thơ xem ra có lẽ là bộ phận bị tác động theo chiều hướng tiêu cực của cơ chế thị trường nhiều hơn cả. Đây là hệ quả, mặt trái của thời kinh tế thị trường: Thơ in cho các em không bán được, các nhà thơ viết cho các em không còn khí thế như giai đoạn trước, ít làm thơ hơn. Thế hệ trẻ bây giờ quá bận học, lại bị cuốn hút vào nhiều hoạt động khác trong một xã hội đang phát triển mạnh mẽ, với nhịp sống ồn ã và gấp gáp. Nhưng không phải vì thế mà thiếu vắng những tác giả, tập thơ tạo được ấn tượng. Cùng với truyện ngắn, truyện tranh, thơ hiện đại với sự tìm tòi, thể nghiệm không ngừng của người viết, vẫn là hành trang tinh thần cần thiết của thiếu nhi hôm nay. Bên cạnh những truyện ngắn, tiểu thuyết như Đợi mặt trời của Phạm Ngọc Tiến, Miệt vườn xa lắm của Dạ Ngân, Khúc đồng dao lấm láp của Kao Sơn, Thủy cung dậy sóng của Lê Trọng Minh, Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, Một thiên nằm mộng của Nguyễn Ngọc Thuần, Kính vạn hoa, Tôi là Bêtô, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh v.v…, một điều an ủi lớn đối với bạn đọc yêu thơ, quan tâm đến cuộc sống thơ cho thiếu nhi là, từ những năm 90 trở lại đây, vẫn có những tác giả, tập thơ tạo được phong cách riêng trong sân chơi kém phần sôi động này như Cưỡi ngựa đi săn của Dương Thuấn (Giải thưởng Văn học thiếu nhi 1990), May áo cho mèo của Phùng Ngọc Hùng (1991), Bờ ve ran của Mai Văn Hai (Giải thưởng Văn học thiếu nhi 1992), Dắt mùa thu vào phố của Nguyễn Hoàng Sơn (Giải thưởng Văn học thiếu nhi 1993), Cái sân chơi biết đi của Hoàng Tá (Giải thưởng văn học thiếu nhi 1994), Trứng treo trứng nằm của Lê Hồng Thiện (1994), Tắc kè hoa (1996) và Đất đi chơi biển (2007) của Phạm Đình Ân, Tí tách mưa rơi (2009) của Nguyễn Ngọc Quế, Bữa tiệc của loài vật (2009) của Trần Quốc Toàn v.v…
Thơ cho thiếu nhi hôm nay đã có những chuyển biến đáng kể, cả ở phương diện tiếp cận cuộc sống mới sôi động từ nhiều hướng, quan tâm một cách toàn diện mọi mặt của cuộc sống trẻ em đến một quan niệm mới mẻ về đối tượng tiếp nhận chủ yếu của bộ phận văn học này, về các phương thức biểu đạt của thơ: Ngắn gọn về dung lượng, gần gũi với đời sống trẻ em, mang nhiều âm hưởng của đồng dao, sử dụng nhiều chi tiết kì ảo, hoang đường, tăng cường tính chất đối thoại, giảm rõ rệt sự phán xét và dạy bảo khô cứng... Tất cả những phương diện đó là nỗ lực lớn của đội ngũ tác giả trên con đường đưa thơ đến gần hơn với tuổi thơ. Bên cạnh những đặc điểm kế thừa truyền thống, thơ thiếu nhi hơn hai mươi năm qua đã có những bước chạy vượt rào ngoạn mục. Người viết đã cho thấy sự mới mẻ, hiện đại trong quan niệm, cách nhìn, cách tái hiện hình tượng trẻ em - trung tâm của văn học thiếu nhi, thể hiện sự trăn trở đầy tâm huyết và tinh thần trách nhiệm với độc giả nhỏ tuổi. Ở đó, nhà thơ vừa là người bạn, người anh, người đồng hành với trẻ em để thấu hiểu những nỗi ấm ức và tâm sự thầm kín của trẻ. Rõ ràng, bước ngoặt chuyển mình của lịch sử – xã hội đã cung cấp cho thơ thiếu nhi nguồn năng lượng mới để vận động theo một quy luật khá thuận chiều, thể hiện rõ đặc trưng của văn học Đổi
mới nói chung. Thơ thiếu nhi sau 1986 đã kinh qua nhiều cái “trở về”: Trở về với văn học, trở về với cá tính nghệ thuật của nhà văn và sự trở trăn tìm con đường ngắn nhất để đến với trẻ em, làm sao để văn học thâm nhập thế giới tinh thần của thiếu niên nhi đồng hôm nay một cách hiệu quả. Nhìn chung, dẫu chưa có một địa vị tương xứng với thơ cho người lớn, nhưng quá trình đổi mới cũng đã đem đến cho các em không ít những sáng tác giàu tính nhân văn và giá trị thẩm mĩ.
Huế, tháng 10 – 2009
BTT – TQN ---
(1), (2) Lê Phương Liên: Viết cho thiếu nhi viết cho tương lai, Văn nghệ, Số 40 - 2009, tr.2.
(3) Bộ Giáo dục và Đào tạo: 35 tác phẩm được giải (Cuộc vận động sáng tác truyện ngắn giáo dục đạo đức cho thiếu niên, nhi đồng), Nxb.Giáo dục, Hà Nội, 2002.
Mà lòng cha không yên?
Một cái tên giản dị Cha tìm đặt cho con
Ôi! Những chữ tầm thường Sẽ theo con đi mãi
Trong khu rừng tiếng Việt Cha tìm một thanh âm Một cái tên thật đẹp Nhưng lòng cha yêu con Con sẽ là Sơn Ca?
Hay sẽ là Hải Yến?
Những cái tên rừng xa Của dài sông, rộng biển Cha tìm về kỷ niệm
Những chuyện buồn chuyện vui Mong những lời yêu mến Hiện về từ xa xôi
Cha soi vào ước mơ Những gì cha ủ ấp Những gì cha mong chờ Những gì chưa làm được…
Tên sẽ mang hạnh phúc Tên phải gợi niềm vui Tên nói tình cha mẹ
Trong những ngày hôm nay … Mẹ cho con tất cả
Phần cha có chi nhiều Một cái tên nho nhỏ Suốt đời con mang theo.
ĐI HỌC SỚM
TRẦN QUỐC TOÀN Học sinh Đồng Tháp Mười Đi học sớm nhất nước Trống khai trừơng thúc rồi Mùa thu còn xa lắc!
Như là đi học võ
Vít cong sào tầm vông Một con xuồng ba lá Mấy nam sinh khinh công!
Xuồng nữ sinh tàng hình Giữa một rừng điên điển Vàng vương miện trên đầu Những hoa khôi hiển hiện…
Thu sang, nghỉ hè chung Với trăng rằm tháng Tám.
Chị Hằng chạy nước lên Nổi như cái phao tắm!
EM BÉ BÁN KEM TRẦN HOÀNG VY
Em trao ngọt mát cho đời Riêng em tuổi nhỏ một thời lao đao
Giọng non trẻ khàn tiếng rao Trời râm em lại ước ao nắng già.
Em chưa lần gọi tiếng ba Mẹ đi bước nữa cửa nhà quạnh hiu
Ngoại già nuôi cháu chắt chiu Góp gom hạt nắng sợ chiều hoàng hôn
Em thèm một vòng tay ôm Thèm nghe tiếng mẹ, nụ hôn ngọt ngào
Giữa trời trưa cất tiếng rao
Em mang mát ngọt, gửi vào ngược xuôi…
HOA MAI
NGUYỄN VĂN CHƯƠNG
Hoa hôm nay bừng nở Sao gọi là hoa mai?
Hoa vàng – hoa sắc lụa Hoa trắng – trắng như mây.
Mấy mùa chẳng thấy hoa Tết về, hoa mới nở Phải hoa là sứ giả
Mùa xuân cử đến không?
Nhìn mai vàng đơm bông Em mừng thêm một tuổi Lớn, phải càng học giỏi
Càng chăm ngoan, chăm ngoan!
HỌC TRONG VƯỜN
TRẦN QUỐC TOÀN Lớp học xanh!
Lớp học xanh!
Con chim tập đọc trên cành líu lo O…A…Ô…khúc học trò
Nhả thơ từng chữ xuống tờ lá non Chim ngoan lãnh thưởng điểm son Tươi bông mõm chó thắm bông mào gà Vở xanh hoa đỏ kẻ lề
Bút cây chấm mực nắng đề từng chương Lớp vui giờ học không cùng
Bướm ong tập điệu múa vòng triền miên Tre nương gió gõ sênh tiền
Bao nhiêu tay lá vươn lên nhịp nhàng Mênh mông đất mở rộng trang
Trời làm bảng viết hàng hàng mây bay…
HƯƠNG THƠM VƯỜN NGOẠI ĐẶNG HẤN Nghỉ hè, em được má
Cho về bà ngoại chơi Vườn ngoại nhiều hoa trái Nhiều hương thơm quá trời!
Mãng cầu thơm dìu dịu Sầu riêng thơm nồng nàn Hoa lài thơm thoang thoảng Thơm ngào ngạt bông lan Em tíu tít trèo chơi Ngửi hoa và hái quả Ôi hoa chanh thơm lạ - Mít chín rồi ngoại ơi!
Mọi hoa trái trên đời Vườn ngoại đều có cả Hỏi ngoại thích hương nào:
Hương hoa hay hương quả?
Ngoại ôm em ngoại cười Hôn em hồng hai má - Đây, hoa thơm nhất đời Ngoại hôn hoài không đã!
LỜI RU
ĐINH ĐỨC CƯỜNG
Lời ru từ thủa lên ba
Con cua con cá theo cha ra đồng Lời ru từ thủa lọt lòng
Bà còng đi chợ bế bồng đường xa
Mái đình giếng nước cây đa Lời ru của mẹ mặn mà yêu thương Lời ru đưa bé đến trường
Biết yêu biết nhớ quê hương cội nguồn Lời ru xẻ dọc Trường Sơn
Vơi đi vất vả chặng đường hành quân Lời ru như gió mùa xuân
Lời ru đằm thắm trong ngần ánh trăng À ơi gạn đục khơi trong
Giữ lời ru mãi trong lòng chúng ta MẸ
ĐỖ TRUNG LAI Lưng mẹ còng rồi
Cau thì vẫn thẳng Cau - ngọn xanh rờn Mẹ - đầu bạc trắng Cau ngày càng cao Mẹ ngày càng thấp Cau gần với trời Mẹ gần với đất Ngày con còn bé Cau mẹ bổ tư Giờ cau bổ tám Mẹ còn ngại to Một miếng cau khô Khô gầy như mẹ Con nâng trên tay
Không cầm được lệ Ngẩng trời hỏi vậy - Sao mẹ ta già ? Không một lời đáp Mây bay về xa...
MẸ SINH EM BÉ
CAO XUÂN SƠN Mẹ sinh em bé, bà trêu:
- Cái thằng cu lớn, lêu lêu, ra rìa Bố an ủi, mẹ vỗ về:
- Làm anh thích lắm! Em kìa, anh Hai!
“Anh Hai” – nghe cũng oai oai Nhưng mà sao cứ… lạ tai thế nào!
Suốt ngày hôm đó, hôm sau
“Anh Hai” ngơ ngẩn ra vào ngẩn ngơ Ngang qua nôi bé, tò mò
“Anh Hai” trộm ngắm rồi vờ như không!
MẸ VÀ CỔ TÍCH
CAO XUÂN SƠN Cổ tích bắt đầu từ mẹ Chim thiêng ăn khế trả vàng Bụt hiện mỗi lần Tấm khóc Thạch Sanh ra trận ôm đàn Cổ tích bắt đầu từ mẹ Tre trăm đốt trị phú ông Rắn rết đầy nhà kẻ ác
Trời sai sét nện Lý Thông…
Nhưng mẹ hiền như cô Tấm Mà chưa dự hội bao giờ Bụt ở đâu không thấy tới
Phượng hoàng chấp chới trong mơ Mẹ ạ, mai này con lớn
Bà Tiên, ông Bụt chắc già Con sẽ làm ra phép lạ
Đáp đền nghĩa mẹ, công cha
MỘT BÀI TẬP LÀM VĂN
NGUYỄN HOÀNG SƠN “Viết bài tập làm văn
Kể chuyện trường ta nhé Này cửa gương, nhà tầng Tả sao cho văn vẻ…”
Đề ra nghe thật dễ Sao tôi bí thế này?
Viết, viết rồi lại xé Biết nói điều gì đây Nhà xây, vâng nhà xây Nhưng mái thì lại dột Kính tấm vỡ tấm “bay”
Gió mùa về lạnh buốt Ghế què và bàn ngáp Không đủ chỗ trò ngồi Phải chia ca để học Chật vẫn chật, giời ôi!
Nhưng mà… thôi thôi thôi!