THÔNG TIN HOẠT ĐỘNG 1
3. Cả lớp làm bài tập. Đại biểu các nhóm thể hiện sự hiểu biết của nhóm trước tập thể
- Phân tích kĩ thuật giai đoạn giậm nhảy trong nhảy cao.
- Người ta dựa vào đâu để cải tiến kĩ thuật giai đoạn trên không của nhảy cao?
- Người ta dựa vào đâu để cải tiến kĩ thuật rơi xuống đất trong nhảy xa và nhảy cao?
- Việc thay đổi tư thế các bộ phận riêng lẻ của cơ thể người nhảy ở trên không ảnh hưởng như thế nào đến quỹ đạo bay trọng tâm cơ thể?
(Giáo viên gợi ý dẫn dắt những nội dung khi sinh viên hiểu biết chưa đầy đủ).
Sinh viên viết thu hoạch qua thực hiện nhiệm vụ 3.
+ Quá trình thực hiện giai đoạn giậm nhảy trong nhảy cao.
+ Vai trò của kĩ thuật giai đoạn rơi xuống đất trong nhảy cao.
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG 1
Đánh dấu x vào ô trống trước những nội dung và phương án đúng.
1. Thành tích nhảy cao H phụ thuộc vào những yếu tố nào?
a. Tốc độ bay ban đầu.
b. Góc độ giậm nhảy.
c. Độ cao ban đầu của trọng tâm cơ thể trước khi nhảy cao.
2. Giai đoạn giậm nhảy bao gồm những thời kì nào?
a. Thời kì đưa đặt chân giậm.
b. Thời kì chống hoãn xung.
c. Thời kì giậm nhảy.
d. Thời kì bay trên không.
Hoạt động 2. TÌM HIỂU KĨ THUẬT BẬT CAO TẠI CHỖ VÀ KĨ THUẬT CHẠY ĐÀ GIẬM NHẢY, NHẢY CAO (2 tiết) THÔNG TIN CƠ BẢN
* Ý nghĩa của động tác bật cao trong hoạt động giáo dục thể chất
Tập luyện nhảy cao có ý nghĩa rất lớn trong công tác giáo dục và giáo dưỡng học sinh trong nhà trường. Qua đó, nhằm hình thành các phẩm chất, ý chí và đạo đức của con người mới, góp phần vào giáo dục và nâng cao trí tuệ, giáo dục lao động và giáo dục thẩm mĩ cho các em.
Thông qua việc tập luyện và thi đấu nhảy cao sẽ có tác dụng tốt đến:
- Sự phát triển toàn diện cơ thể, trên cơ sở đó phát triển các tố chất chuyên môn như sức mạnh, sức mạnh tốc độ, sức bền và sự khéo léo…
- Sự hình thành và phát triển cảm giác của cơ thể trong không gian và thời gian.
- Sự hình thành và phát triển tính kiên trì, bền bỉ, nhẫn nại, khắc phục khó khăn và lòng dũng cảm của người tập.
- Làm cho phong trào hoạt động thể dục, thể thao ở trường (kể cả nội khoá và ngoại khoá) càng thêm sôi nổi, hào hứng, cuộc sống của người tập càng thêm phong phú.
* Động tác kĩ thuật tại chỗ bật cao bằng 2 chân, đà 1.2.3 bước bật nhảy lên cao bằng 1 chân.
- Đứng tại chỗ bật cao lên bằng hai chân a) Chuẩn bị
Đứng hai chân chạm vào nhau, hai tay buông xuôi tự nhiên, mặt ngửa lên cao nhìn vào một vật chuẩn nào đó, ví dụ: một cành lá, một quả bóng treo ở độ cao có thể bật với tay lên được.
Hai đầu gối hơi khuỵu, hai tay đưa chếch chữ V xuống dưới, chữ V ngược thân người thẳng, mắt nhìn vào đích. Tiếp theo đạp mạnh hai chân phối hợp với tay đánh hai tay từ ngoài vòng vào trong, lên cao, sau đó dùng tay thuận với vật trên cao. Khi rơi xuống, hai bàn chân tiếp đất cùng một lúc bằng nửa bàn chân trên, sau đó co gối giảm dần quán tính rồi đứng thẳng lên về tư thế chuẩn bị.
Hình 29. Đứng tại chỗ bật người lên cao bằng 2 chân
- Đà 1 bước bật nhảy lên cao bằng hai chân a) Chuẩn bị
Đứng chân trước chân sau, hai chân đều hơi khuỵu gối, trọng tâm cơ thể dồn nhiều vào chân sau, hai tay đưa chếch chữ V ngược, thân người thẳng hoặc hơi ngửa ra sau, mắt nhìn vào vật ở trên cao phía trước để xác định được điểm giậm nhảy và mức độ dùng sức.
b) Động tác
Giậm nhảy bằng hai chân phối hợp với đánh tay để di chuyển một bước về trước, hai chân chạm đất bằng gót bàn chân, hai gối hơi khuỵu, thân trên hơi cong và ngả về trước, hai tay chếch chữ V ngược, mắt nhìn vào đích. Tiếp theo bật mạnh hai chân phối hợp với đánh hai tay để vươn người lên cao và dùng một tay với vật ở trên cao.
Động tác tiếp đất: Hai bàn chân tiếp đất cùng một lúc bằng nửa bàn chân trên, sau đó co gối giảm dần quán tính rồi đứng thẳng lên về tư thế chuẩn bị.
Hình 30. Đà 1 bước bật nhảy lên cao
- Đà 2 bước bật nhảy lên cao bằng một chân a) Chuẩn bị
Đứng chân trước chân sau, hai chân đều hơi khuỵu gối, trọng tâm cơ thể dồn nhiều vào chân sau, hai tay đưa chếch chữ V ngược, thân người thẳng hoặc hơi ngửa ra sau, mắt nhìn vào vật ở trên cao phía trước để xác định được điểm giậm nhảy và mức độ dùng sức.
b) Động tác
Chạy đà hai bước giậm nhảy bằng hai chân phối hợp với đánh tay để di chuyển một bước về trước, hai chân chạm đất bằng gót bàn chân, hai gối hơi khuỵu, thân trên hơi cong và ngả về trước, hai tay chếch chữ V ngược, mắt nhìn vào đích. Tiếp theo bật mạnh hai chân phối hợp với đánh hai tay để vươn người lên cao và dùng một tay với vật ở trên cao. Động tác tiếp đất: Hai bàn chân tiếp đất cùng một lúc bằng nửa bàn chân trên, sau đó co gối giảm dần quán tính rồi đứng thẳng lên về tư thế chuẩn bị.
- Đà 3 bước bật nhảy lên cao bằng một chân a) Chuẩn bị
Đứng chân trước chân sau, hai chân đều hơi khuỵu gối, trọng tâm cơ thể dồn nhiều vào chân sau, hai tay đưa chếch chữ V ngược, thân người thẳng hoặc hơi ngửa ra sau, mắt nhìn vào vật ở trên cao - phía trước để xác định được điểm giậm nhảy và mức độ dùng sức.
b) Động tác
Giậm nhảy bằng hai chân phối hợp với đánh tay để di chuyển một bước về trước, hai chân chạm đất bằng gót bàn chân, hai gối hơi khuỵu, thân trên hơi cong và ngả về trước, hai tay chếch chữ V ngược, mắt nhìn vào đích. Tiếp theo bật mạnh hai chân phối hợp với đánh hai tay để vươn người lên cao và dùng một tay với vật ở trên cao. Động tác tiếp đất: Hai bàn chân tiếp đất cùng một lúc bằng nửa bàn chân trên, sau đó co gối giảm dần quán tính rồi đứng thẳng lên về tư thế chuẩn bị.
Giai đoạn chạy đà:
- Giới hạn: Từ lúc bắt đầu chạy đà đến khi chân giậm đặt vào điểm giậm nhảy.
- Nhiệm vụ: Tạo ra tốc độ nằm ngang hợp lí chuẩn bị điều kiện tốt cho giai đoạn giậm nhảy có hiệu quả.
Giai đoạn giậm nhảy:
- Giới hạn: Từ khi chân giậm nhảy đặt vào điểm giậm đến khi chân giậm nhảy rời khỏi mặt đất.
- Nhiệm vụ: Tạo ra tốc độ bay ban đầu V0 lớn nhất và góc bay a hợp lí.
Giai đoạn trên không:
- Giới hạn: Từ khi chân giậm nhảy rời khỏi đất đến khi một bộ phận cơ thể chạm đất sau xà.
- Nhiệm vụ: Lợi dụng sự bù trừ của các bộ phận cơ thể nhằm giữ thăng bằng và tạo điều kiện tận dụng tối đa hiệu quả quỹ đạo bay do kết quả chạy đà, giậm nhảy tạo nên.
Giai đoạn rơi xuống đất:
- Giới hạn: Từ khi một bộ phận cơ thể chạm cát cho đến khi dừng lại các hoạt động.
- Nhiệm vụ: Giảm chấn động, giữ vững thành tích đạt được, chuẩn bị tốt cho lần nhảy tiếp theo.
- Cách đo đà trong nhảy cao
Từ điểm giậm nhảy đi ngược hướng chạy đà, cứ hai bước đi thường tính một bước chạy, rồi chạy thử vài lần để điều chỉnh cho chính xác. Sau đó đo lại bằng dây hoặc độ dài bàn chân và đánh dấu hai mốc để ghi nhớ. Mốc thứ nhất là điểm xuất phát của chạy đà, mốc thứ hai cách điểm giậm nhảy 2 - 4 bước.
Có nhiều cách bắt đầu chạy đà. Thông dụng là đứng chân trước, chân sau, cũng có thể đứng hai chân song song rồi chạy hoặc đi nhanh mấy bước ngắn lấy đà để xuất phát.
Nếu bước chẵn thì chân giậm để trước. Nếu bước lẻ thì chân lăng đặt trước vạch xuất phát.
- Kĩ thuật chạy đà kiểu nhảy cao “Bước qua”
Cự li toàn đà thường từ 5 đến 7 bước, có khi đến 9 bước. Chạy đà từ phía chân lăng. Chân giậm nhảy là chân ở xa xà, chân lăng là chân
gần xà. Chạy đà theo đường thẳng tạo thành một góc 30 – 600 so với hình chiếu xà ngang (góc độ chạy đà).
Đoạn đầu chạy tương tự như kĩ thuật giữa quãng của chạy cự li trung bình, nhưng cẳng chân đá lăng vươn nhiều về trước, bước chạy tương đối dài, có độ nảy hơn.
Vào đoạn sau tức là 2 – 4 bước cuối cùng, chạy bằng gót chân kiểu “Bàn thấm” gót chạm đất trước rồi chuyển lên mũi bàn chân, góc đạp sau nhỏ. Sau khi rời đất, cẳng chân không hất lên cao mà đưa là là mặt đất về trước, tay đánh sát người và về trước nhiều hơn ra sau, trọng tâm hạ thấp. Người thẳng, toàn bộ động tác như “Ngồi chạy”.
Hình 31. Hai bước cuối cùng trong chạy đà nhảy cao kiểu “Bước qua”
Đến bước cuối cùng chân giậm nhảy vươn rất dài về trước dùng gót chạm đất.
Hông và đầu gối duỗi hết trên một đường thẳng với thân người. Hai tay cùng đánh ra sau, hoặc tay bên giậm nhảy đánh thẳng ra sau, còn tay kia gập lại giữ cạnh người. Điều đặc biệt quan trọng là tư thế thân người và chân trên một đường thẳng chếch về sau là do kết quả của việc chuyển chân về trước rất nhanh, rất dài chứ hoàn toàn không phải vì thân người chủ động ngả ra sau.
Chạy đà thoải mái, có nhịp điệu, tốc độ tăng liên tục và đạt nhanh nhất vào thời điểm chuẩn bị giậm nhảy. Ở kiểu nhảy cao “Bước qua” độ ngả thân trên về sau ở những bước cuối cùng ít hơn các kiểu nhảy khác. Điểm cuối cùng của chạy đà cũng là điểm giậm nhảy.
- Kĩ thuật chạy đà và giậm nhảy kiểu nhảy cao “Nằm nghiêng”
Chạy đà kiểu nhảy cao “Nằm nghiêng” không khác biệt kiểu nhảy cao “Bước qua”, nhưng chạy đà nhảy cao “Nằm nghiêng” lại chạy đà từ phía chân giậm (chân giậm nhảy ở phía gần xà và tạo với xà một góc 30 – 400 (H.32).
Hình 32. Kĩ thuật giậm nhảy trong nhảy cao “Nằm nghiêng”
- Kĩ thuật giai đoạn giậm nhảy trong nhảy cao
Giậm nhảy được bắt đầu từ lúc chân giậm nhảy chạm đất đến khi hoàn thành động tác giậm nhảy và rời khỏi điểm giậm nhảy.
Nhiệm vụ giai đoạn này là chuyển tốc độ nằm ngang đạt được trong quá trình chạy đà thành tốc độ thẳng đứng, tập trung sức toàn thân đưa người lên cao.
Đây là giai đoạn quan trọng nhất, trực tiếp quyết định đến thành tích lần nhảy.
Để thực hiện nhiệm vụ đó, người nhảy phải đưa dài chân giậm về trước, xa điểm dọi trọng tâm cơ thể nhằm tăng phản lực chống trước để đưa người lên cao.
Trong giậm nhảy, động tác đá chân lăng và vung tay có tác dụng tăng áp lực trên chân giậm nhảy.
- Cách xác định điểm giậm nhảy: Điểm giậm nhảy thường được xác định từ 1/3 xà, hướng về phía chạy đà, đứng cách xà 1 cánh tay hoặc 3 bàn chân.
Tuỳ theo kiểu nhảy mà điểm giậm nhảy và góc độ chạy đà mà có thể xê dịch cho phù hợp.
- Kĩ thuật giậm nhảy: Chia làm 3 thời kì (thời kì đưa đặt chân giậm, thời kì hoãn xung và thời kì giậm nhảy).
+ Đặt chân giậm nhảy: Ở bước đà cuối cùng, khi trọng tâm cơ thể vượt qua điểm đặt của chân lăng, đùi chân lăng không đưa cao, cẳng chân giậm vươn dài về phía trước, đến điểm xa nhất thì duỗi thẳng và chạm đất bằng gót. Lúc này thân người và chân giậm nhảy gần như trên một đường thẳng, hai tay đánh hơi dang ngang và hơi chếch về sau, chân lăng gập ở gối. Việc đặt chân giậm nhảy nhanh và là là mặt đất nhằm đảm bảo không làm giảm tốc độ nằm ngang.
+ Thời kì hoãn xung: Khi chân giậm nhảy đặt vào điểm giậm nhảy, theo quán tính cơ thể vẫn tiếp tục di chuyển về trước làm cho chân giậm nhảy co lại ở khớp gối với một góc khoảng 130 – 1350. Điều đó có hai tác dụng: làm giảm chấn động khi chân giậm chống vào điểm giậm nhảy, làm căng các nhóm cơ phía trước và sau đùi, sau cẳng chân, cổ chân… làm tăng sức mạnh giậm nhảy.
+ Thời kì giậm nhảy: Sau thời kì hoãn xung là thời kì giậm nhảy vươn lên thực hiện co cơ nhanh, mạnh, duỗi hết các khớp hông, gối cổ chân, ngón chân để tác dụng một lực lớn trên điểm giậm nhảy với tốc độ nhanh, nhằm đẩy trọng tâm cơ thể bay lên với tốc độ ban đầu lớn và góc độ bay hợp lí.
Góc độ giậm nhảy (góc của chân giậm so với mặt đất) từ 90 – 930 để tạo ra một góc độ bay đạt 60 – 640. Quá trình giậm nhảy này không chỉ đơn thuần là chỉ có chân giậm nhảy, mà còn có sự hoạt động đồng bộ tích cực của chân đá lăng và hai tay. Việc phối hợp đồng bộ giữa động tác của chân giậm với chân lăng và hai tay là điều hết sức quan trọng cần thiết trong động tác giậm nhảy của nhảy cao.
+ Động tác của chân lăng: Chân lăng được hoạt động cùng lúc với hoạt động duỗi các khớp của chân giậm. Động tác của chân lăng được bắt đầu ngay từ khi chân lăng rời đất ở bước cuối cùng.
Đá chân lăng thẳng bán kính lớn, sẽ làm tăng áp lực lớn trên chân giậm.
Tổng trọng tâm trong đá lăng thẳng chân cao hơn trong đá lăng cong chân, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục kĩ thuật giai đoạn trên không.
+ Động tác đánh tay: Cùng với hoạt động của hai chân hai tay cũng được đánh mạnh từ sau ra trước, lên trên, khi đến ngang vai thì dừng lại đột ngột, tay bên chân lăng hoạt động có biên độ lớn hơn tay bên chân giậm. Tư thế thân người được vươn lên lúc giậm nhảy.
Cần phối hợp đồng bộ giữa chân giậm nhảy ngay khi chạm đất với chân đá lăng và hai tay dùng sức để đưa người về trước - lên cao.
Lúc chân lăng vượt qua chân giậm, cẳng chân duỗi thẳng, mũi bàn chân hướng lên trên để tiếp tục đá lên cao. Hai tay đánh lên trên và về trước, nhằm phối hợp với động tác đá lăng. Khi hai tay ngang vai thì dừng lại đột ngột, hai tay co ở khớp khuỷu tạo thành một góc xấp xỉ 900. Vai bên chân lăng được nâng cao hơn bên chân giậm, thân người hơi ngả về phía chân giậm nhảy.
Động tác chân giậm nhảy kết thúc khi chân giậm nhảy duỗi thẳng hết mũi
Hình 33. Động tác giậm nhảy đá lăng thẳng chân với cong chân phối hợp đánh tay
NHIỆM VỤ
1. Cá nhân đọc tài liệu thông tin sau:
- Đứng tại chỗ bật người lên cao bằng hai chân.
- Đà một bước bật người lên cao bằng hai chân.
- Chạy đà hai, ba bước bật nhảy bằng một chân, tay chạm vật chuẩn trên cao.
- Giới hạn, nhiệm vụ các giai đoạn nhảy cao.
- Cách đo đà trong nhảy cao.
- Kĩ thuật chạy đà kiểu nhảy cao “Bước qua”.
- Kĩ thuật chạy đà kiểu nhảy cao “Nằm nghiêng”.
- Kĩ thuật giai đoạn giậm nhảy trong nhảy cao.
Sinh viên viết thu hoạch qua thực hiện nhiệm vụ 1.
2. Thảo luận và tập luyện theo nhóm học tập với nội dung:
- Tìm hiểu thế nào là động tác bật cao?
- Thực hiện động tác tại chỗ bật cao bằng hai chân, tay với lên vật chuẩn trên cao.
- Chạy đà 3 bước bật nhảy bằng 1 chân, tay chạm vật chuẩn trên cao.
- Xác định chân giậm nhảy.
- Tập luyện đo đà từ điểm giậm nhảy.
- Tại chỗ tập động tác đưa đặt chân giậm nhảy.
- Đà 1.2.3. bước, đưa đặt chân giậm nhảy, đá lăng.
- Phối hợp chạy đà và đưa đặt chân giậm nhảy đá lăng.
- Các hoạt động trò chơi phát triển sức mạnh cơ chân: “Lò cò tiếp sức” hoặc
“Bật cóc”, tại chỗ bật bằng 2 chân lên cao và ra xa.
Sinh viên viết thu hoạch qua thực hiện nhiệm vụ 2.