Các em tích cực chuẩn bị bài cũ, tích cực trao đổi, tranh luận giữa các nhóm học sinh trong mét lớp, giữa các học sinh với nhau để hình thành mét graph tối ưu.
Vì thế, tinh thần học của các em khá chủ động, tù bộc lộ được các suy nghĩ của mình.
Trên lớp, không khí học tập sôi nổi, tuy có ồn ào, các em mạnh dạn tranh luận, trao đổi, bảo vệ ý kiến của mình, thậm trí có nhiều thắc mắc của học sinh thể hiện sự phân tích, làm việc độc lập với sách giáo khoa để nắm bài một cách sâu sắc.
Ví dụ: Khi dạy bài: Quần xã và mét sè đặc trưng co bản của quần xã. Học sinh nghiên cứu sách giáo khoa chỉ nêu được hai đặc trưng của quần xã là: đặc trưng về thành phần loài và sự phân bố, còn đặc trưng về kiểu dinh dưỡng thì giáo viên phải gợi ý. Sau khi xây dựng các đỉnh con của đặc trưng kiểu dinh dưỡng thì có 2 ý kiến khác nhau:
- Em Vò Xuân Quỳnh (12A1) cho rằng: Kiểu dinh dưỡng bao gồm : sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân huỷ.
- Em Phạm Tiến Tài lại cho rằng: Kiểu dinh dưỡng bao gồm: Sinh vật tự dưỡng và sinh vật dị dưỡng.
Có thể thấy guồng hoạt động của lớp học khá sôi động, liên tục, sự phối hợp hoạt động của thầy và trò nhịp nhàng, thực hiện các bước trong quy trình xây dựng graph. Học sinh hứng thú học tập và khả năng tự lực tăng hơn hẳn. Khi ra câu hỏi yêu cầu các kĩ năng như so sánh, hệ thống hoá, khái quát hoá,... các em đều biết vận dụng phân tích được nội dung kiến thức thể hiện trong từng ô của graph, thậm trí nhiều em có thể tù rút ra nhận xét và vận dụng sau khi hệ thống hoá các kiến thức trong graph đó.
IV-2.1.2. Về chất lượng lĩnh hội kiến thức:
Thông qua việc tự đánh giá sau mỗi tiết dạy, việc phân tích chất lượng các bài kiểm tra khảo sát, chúng tôi nhận thấy chất lượng lĩnh hội kiến thức ở nhóm lớp thực nghiệm cao hơn nhóm lớp đối chứng. Biểu hiện ở mức độ hiểu sâu kiến thức, mức độ phân tích và vận dụng đầy đủ và ngày càng đi sâu vào bản chất của của các khái niệm, sự tổng hợp, hệ thống và tư duy logic. . . theo nhiều hướng khác nhau và có vận dụng graph để thực hiện các thao tác duy cao như: khái quát hoá, hệ thống hoá...
Như vậy, ở nhóm lớp thực nghiệm, do được liên tục làm quen với phương pháp graph và được rèn luyện các kĩ năng lập graph nên năng lực tư duy của học sinh được nâng cao rõ rệt hẳn. Các em đều biết hệ thống hoá, phân tích đề kiểm tra để thức hiện đúng lệnh yêu cầu của bài học. Nhiều em trình bày graph rất rõ ràng, khoa học, có tính thẩm mĩ, tốc độ làm bài nhanh, phong thái tự tin hào hứng, các
nội dụng trọng tậm của bài học được nắm bắt đầy đủ, sâu sắc. Các em có thể lập các graph khác nhau, song đều có sự hệ thống hoá sâu sắc, khái quát và rút ra những nhận xét, ứng dụng quan trọng.
Trong khi đó, ở lớp đối chứng, nhiều em còn chưa nắm được hệ thống bài, các thao tác chậm, kiến thức nắm lơ mơ, không đầy đủ.
IV. 2.1.3. Về năng lực tư duy:
Phân tích mét sè bài kiểm tra của học sinh lớp thực nghiệm và đối chứng như sau:
Với đề kiểm tra sè 3:
- Em Đoàn Thị Việt (12B6): Điền được đầy đủ kiến thức vào các ô trống của graph.
- Em Dương Thị Nga (12B7): Không điền được ô cách li.
- Em Vò Thị Thảo (12B7): Điền sai ô cạnh tranh thành đối kháng.
Với đề kiểm tra sè 2:
- Em Vò Văn Phong (12B6):
Em Vò Văn Sang (12B7):
Nhận xét: Học sinh Phong trình bày đúng các mối quan hệ dinh dưỡng trong quần xã và thiết lập mối quan hệ qua lưới thức ăn đúng, tuy chưa đươc đẹp, nhưng chứng tỏ em đã biết lập graph đúng theo yêu cầu.
Học sinh Sang: Phần mối quan hệ thực vật - chim sâu là sai, hình thức trình bày không đẹp, các mũi tên chồng chéo nhau. Như vậy, chứng tỏ ở lớp đối chứng hiệu quả lập graph chưa cao.
IV-2.1.3. Về độ bền kiến thức:
Kết quả thực nghiệm cho thấy, ở nhóm lớp thực nghiệm, học sinh nhí lâu hơn, chính xác hơn, thể hiện ở bài làm của học sinh vẫn tốt hơn, điểm số nhìn chung có xu hướng ổn định. Còn ở lớp đối chứng, kết quả làm bài phản ánh nhiều em kiến thức bị rơi vãi, nhầm lẫn, làm bài thiếu chắc chắn, có nhiều sai sót, điểm số có xu hướng giảm thể hiện là các em không nhớ lâu kiến thức.
*. Nhận xét chung về quá trình thực nghiệm:
- Về phía giáo viên: Đây là một phương pháp đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức để tìm tòi gia công tài liệu giáo khoa một cách chu đáo, tỉ mỉ. Ở các trường chúng tôi thực nghiệm, các giáo viên sau khi được hướng dẫnđều tổ chức được học sinh học tập theo graph và tự lập được graph.
- Về phía học sinh: Sau khi được tìm hiểu, hướng dẫn sơ qua về graph và cách lập graph, các em đã hứng thú đón nhận. Bằng thực tế, trong các giờ học thực nghiệm,
hầu hết các em đã ghi lại tri thức được bằng graph, thậm trí có những em trình bày rất đẹp.
Có thể nói, graph đã đem đến cho học sinh một cách học mới, giúp cho các em hệ thống kiến thức ngắn gọn, đầy đủ, khoa học những kiến thức cơ bản của bài học, từ đó các em sẽ nhí nhanh, tư duy tốt và học tập tốt hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, trong quá trình thực nghiệm chúng tôi còn nhận thấy mét số thiếu sót sau:
- Giáo viên còn lúng túng khi sử dụng graph nhưng điều này không kéo dài.
Nguyên nhân là do giáo viên chưa kết hợp tốtgiữa phương pháp graph và phương pháp dạy học tích cực khác.
- Học sinh còng còn lúng túng khi theo dõi và ghi lại bài học bằng graph.
Với kết quả thực nghiệm thu được và những phân tích, đánh giá về định tính, định lượng nên có thể khẳng định tính khả thi của phương pháp graph trong đề tài này. Như vậy, việc sử dụng graph trong dạy học sinh thái học tuy còn là mới mẻ song phần nào đó khẳng định được ưu thế của nã.