Đoạn 1: Những cuộc hành quân gian khổ và khung cảnh thiên nhiên miền Tây

Một phần của tài liệu Giáo án ngữ văn lớp 12 full (Trang 110 - 115)

II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN

1. Đoạn 1: Những cuộc hành quân gian khổ và khung cảnh thiên nhiên miền Tây

- Hai câu đầu: Khơi mở mạch cảm xúc cho bài thơ:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi, Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.”

+ Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kiềm nén nỗi, bật lên thành tiếng gọi Tây Tiến ơi!

HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ NỘI DUNG CẦN ĐẠT + GV: Nhớ chơi vơi là một nỗi nhớ như

thế nào ?

+ HS: “Nhớ chơi vơi”: Nỗi nhớ mênh mông, không định hình, không theo trình tự thời gian và không gian, cứ dâng trào theo cảm xúc của nhà thơ. Tây Tiến là một thời đã qua. Chỉ còn lại nỗi nhớ chơi vơi.

+ GV: Hai câu thơ giúp cho ta tưởng tượng như thế nào về con đường mà người lính đã trải qua?

+ HS: Thiên nhiên hoang vu, hùng vĩ, khắc nghiệt và hiểm trở, ngăn cản bước chân con người.

+ GV: Em có cảm nhận như về hình ảnh không gian và người lính trong câu thơ thứ hai?

+ GV: Những từ ngữ nào trong hai câu thơ đầu đặc tả con đường hành quân của những chiến sĩ Tây Tiến? Qua đó, em hình dung được những gì về con đường hành quân của họ.

+ GV: Giảng thêm:

- Dốc lên khúc khủy vì đường đi là núi đèo hiểm trở, gập ghềnh – vừa lên cao đã lại đổ xuống, cứ thế gấp khúc nối tiếp nhau.

- Thăm thẳm: không chỉ đo chiều cao mà còn gợi ấn tượng về độ sâu, cảm giác như hút tầm mắt người, không biết đâu là giới

+ Hai chữ “chơi vơi”: vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗi nhớ  nỗi nhớ da diết, thường trực, ám ảnh; mênh mông, bao trùm cả không gian, thời gian

- Câu 3 - 4: Hình ảnh đoàn quân trong đêm trên địa bàn gian lao, vất vả:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi, Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

+ Vừa tả thực: Sương mù vùng cao như che lấp, nuốt chửng đoàn quân mỏi mệt: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”

+ Vừa sử dụng bút pháp lãng mạn:

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

 gợi không gian huyền ảo: cảnh vật về khuya phủ đầy hơi sương lạnh giá

 Câu thơ với nhiều thanh bằng: Tạo cảm xúc lâng lâng trong lòng người chiến sĩ khi bắt gặp cảnh hoa nở giữa rừng  Hé mở vẻ đẹp hào hoa, lạc quan, yêu đời của người lính - Bốn câu tiếp theo: Đặc tả hình thế sông núi hiểm trở nhưng không kém phần thơ mộng của miền Tây trên đường hành quân:

“ Dốc lên khúc khuỷ dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xza khơi”

+ Hai câu đầu:

o Những từ ngữ giàu giá trị gợi hình khúc khuỷ, thăm thẳm, heo hút, cồn mây, súng ngửi trời + kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3

 diễn tả thật đắc địa sự hiểm trở, trùng điệp, độ cao ngất của núi đèo miền Tây

HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ NỘI DUNG CẦN ĐẠT hạn cuối cùng.

+ GV: Hai chữ ngửi trời đã miêu tả một không gian như thế nào? Không chỉ vậy, nó còn giúp ta cảm nhận được gì về các chàng trai Tây Tiến?

+ GV khẳng định: Vượt qua cái khúc khủy, thăm thẳm ấy, đoàn quân tưởng chừng như ở giữa đỉnh của mây nổi thành cồn heo hút, một mình vượt lên vô vàn những dốc đèo khác.

+ GV: Câu thơ có sử dụng hình thức nghệ thuật gì? Miêu tả cảnh tượng hành quân như thế nào?

+ GV: Hệ thống thanh điệu của câu thơ thứ tư như thế nào so với ba câu thơ trên?

Nhưng thanh điệu này giúp cho ta hình dung điều gì?

+ GV: Chuyển ý.

+ GV: Hai câu thơ đầu có sử dụng cách nói gì? Em hiểu thế nào về hai câu thơ đó?

+ HS: Trả lời.

+ GV: Nhận xét, đưa ra kết luận

o Hai chữ ngửi trời :

@ vừa đặc tả độ cao chót vót của núi (Người lính trèo lên ngọn núi cao dường như đang đi trong mây nổi thành cồn “heo hút”, mũi súng như chạm đến đỉnh trời)

@ vừa thể hiện tính chất tinh nghịch, khí phách ngang tàng, coi thường hiểm nguy của người lính Tây Tiến.

+ Câu thơ thứ ba với phép đối, như bẻ đôi:

“Ngàn thước lên cao - ngàn thước xuống

 diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm  hình dung sự khó nhọc trên chặng đường hành quân leo dốc gian khổ + Câu thơ thứ tư đối lập với ba câu trên:

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

 toàn thanh bằng, âm ơi kết thúc dòng thơ:

câu thơ nhẹ như nhịp thở thư giãn của người lính

Hình dung: Người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ra xa, thấy một không gian mịt mùng sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi  tận hưởng cảm giác bình yên, lãng mạn của núi rừng

- Sáu câu tiếp theo: Người lính còn phải vuợt qua cảnh núi rừng hoang sơ, hùng vĩ :

Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói, Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.

+ Hai câu đầu: tiếp tục miêu tả hình ảnh người lính.

o Cách nói giảm nói tránh về cái chết:

không bước nữa, bỏ quên đời

HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ NỘI DUNG CẦN ĐẠT

+ GV: Cái hoang vu, dữ dội của thiên nhiên được đẩy cao cực độ trong những từ ngữ nào trong hai câu thơ:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

+ GV: Hai chữ Mường Hịch không chỉ còn là một địa điểm cụ thể, nơi đặt chỉ huy sở của đoàn quân Tây Tiến, mà còn trở nên đầy ám ảnh. Địa danh nào thì cảnh vật ấy.

Chỉ cần đọc hai tiếng Mường Hịch là đã thấy lởn vởn dấu chân cọp dữ vừa bước qua. Tiếng gầm của rừng núi và tiếng gầm của chúa sơn lâm cùng một lúc như muốn chứng tỏ oai linh dữ dội tuyệt đối của mình.

+ GV chuyển ý.

+ GV: Hai câu thơ giúp cho ta hình dung về một cảnh tượng như thế nào? Trước khung cảnh ấy, theo em, tâm trạng của các chiến sĩ Tây Tiến cảm thấy như thế nào?

+ GV: Liên hệ :

“Nhà lá đơn sơ nhưng tấm lòng rộng mở.

Nồi cơm nấu dở bát nước chè xanh.

Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau”.

(Bao giờ trở lại – Hoàng Trung Thông) - Thao tác 2: Tìm hiểu Những kỉ niệm về tình quân dân trong đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng

o Có hai cách hiểu:

 Trên chặng đường hành quân gian khổ, người lính quá mỏi mệt nên kiệt sức, ngủ thiếp đi trong chốc lát

 Người lính hi sinh một cách nhẹ nhàng, thanh thản như vừa hoàn thành xong nhiệm vụ với Tổ quốc

+ Cái hoang vu, hiểm trở tiếp tục được khai thác theo chiều thời gian:

o Âm thanh: tiếng “thác gầm thét” trong mỗi buổi chiều, hình ảnh: “cọp trêu người”

đêm đêm

o Tên những miền đất lạ: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch

 gợi không gian hoang vu, rừng thiêng nước độc, đầy bí hiểm

- Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói, Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.

+ Cảnh tượng thật đầm ấm: Sau chặng đường hành vất vả, người lính quây quần bên nồi cơm bốc khói

+ Bát xôi nghi ngút khói và hương lúa nếp ngày mùa được trao từ tay em : làm ấm lòng người chiến sĩ, xua tan vẻ mệt mói

+ Kết hợp từ khá lạ, quan hệ từ bị lược bớt:

mùa em”  làm giọng thơ ngọt ngào, êm dịu, ấm áp, chuẩn bị tâm thế cho người đọc cảm nhận đoạn tiếp theo.

2. Đoạn 2: Những kỉ niệm về tình quân dân trong đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng.

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ NỘI DUNG CẦN ĐẠT + GV: Bốn câu thơ đã miêu tả một khung

cảnh không gian như thế nào?

+ HS: Không khí hội hè rộn ràng vui vẻ + GV phân tích: Là hội hè nên đêm liên hoan thật nhiều ánh sáng: ánh sáng bừng tỏa của ngọn đuốc hoa, ánh sáng từ xiêm áo lộng lẫy của các vũ công. Hòa lẫn là tiếng khèn rộn ràng, tình tứ.

+ GV: Nhân vật trung tâm trong đêm liên hoan văn nghệ này là ai? Họ xuất hiện như thế nào?

+ GV: Hai chữ “Kìa em” diễn tả cảm giác gì của các chiến sĩ Tây Tiến? Họ đã hòa nhập ra sao vào thế giới phương xa xứ lạ nơi đây?

+ GV giảng thêm:

- Trong cái nhìn hào hoa lãng mạn của người lính Tây Tiến, ánh đuốc chiếu sáng buổi liên hoan văn nghệ nơi doanh trại trở thành ngọn đuốc hoa tân hôn ngọt ngào.

Còn người đẹp bước ra với xiêm y rực rõ như từ bước ra từ huyền ảo.

- Người lính Tây Tiến nhập cuộc, hòa mình say sưa theo âm điệu dìu dặt, đưa hồn về những chân trời mới, xây hồn thơ với bao mộng ước ngọt ngào: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.

+ GV: Chốt lại ý chính đoạn thơ.

+ GV: Bức tranh Châu Mộc chiều sương được miêu tả như thế nào?

+ GV: Hình ảnh con người hiện lên như thế nào trên dòng sông ấy?

- Không gian: ánh sáng lung linh của lửa đuốc, âm thanh réo rắt của tiếng đàn, cảnh vật và con người như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực  huyền ảo, rực rở, tưng bừng, sôi nổi

- Nhân vật trung tâm: em với áo xiêm lộng lẫy (xiêm áo tự bao giờ), vừa e thẹn vừa tính tứ (e ấp), vừa duyên dáng trong điệu vũ xứ lạ (man điệu)

 làm say đắm lòng người chiến sĩ xa nhà - Hai chữ “kìa em”: cái nhìn vừa ngạc nhiên vừa mê say, ngây ngất của các chàng trai Tây Tiến

=> Vẻ đẹp lung linh, hoang dại, trữ tình đến mê hoặc

b. Cảnh sông nước miền Tây:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy, Có thấy hồn lau nẻo bến bờ.

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

- Không gian: Dòng sông trong một buổi chiều giăng mắc một màu sương; sông nước, bến bờ lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử  mênh mông, nhoè mờ, ảo mông

- Con người:

+ dáng người trên độc mộc: dáng hình mềm mại, uyển chuyển của những cô gái Thái trên những chiếc thuyền độc mộc

HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ NỘI DUNG CẦN ĐẠT

+ GV: Bức tranh thiên nhiên ở đây có những nét gì khác với bức tranh cảnh thiên nhiên miêu tả cảnh đèo dốc?

+ HS: Trả lời cá nhân.

+ GV: Chốt lại vấn đề:

Đọc đoạn thơ này, ta như lạc vào thế giới của cái đẹp, thế giới của cõi mơ, của âm nhạc. Bốn câu thơ đầu ngân nga như tiếng hát, như nhạc điệu cất lên từ tâm hồn ngây ngất, mê say của những người lính Tây Tiến. Hơn ở đâu hết, trong đoạn thơ này, chất thơ và chất nhạc hoà quyện với nhau đến mức khó tách biệt. Với ý nghĩa đó, Xuân Diệu có lí khi cho rằng đọc bài thơ Tây Tiến, ta có cảm tưởng như ngậm nhạc trong miệng.

- Thao tác 3: Tìm hiểu chân dung người lính Tây Tiến

+ GV yêu cầu học sinh đọc đoạn thơ thứ ba.

+ GV: Đâu là những chi tiết khắc hoạ ngoại hình của những người lính Tây Tiến? Đó là một ngoại hình như thế nào? Do đâu như vậy?

+ GV liên hệ: Nhiều bài thơ chống Pháp cũng nói tới hiện thực này:

“Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ”

(Cá nước - Tố Hữu)

“Anh với tôi biết từng cơn ơn lạnh Sốt rung người vần tráng ướt mồ hôi”

(Đồng chí – Chính Hữu)

Nhưng cái hiện thực nghiệt ngã này đã được khúc xạ qua cái nhìn lãng mạn của Quang Dũng.

+ Vẻ đẹp của con người hoà hợp với vẻ đẹp của thiên nhiên: những bông hoa rừng cũng

“đong đưa”, làm duyên trên dòng nước lũ.

 Những nét vẻ mềm mại, duyên dáng khác hẳn với những nét khoẻ khoắc, gân guốc khi đặc tả cảnh dốc đèo.

=> Ngôn ngữ tạo hình, giàu tính nhạc, chất thơ và chất nhạc hoà quyện: thể hiện vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của thiên nhiên và con người.

Một phần của tài liệu Giáo án ngữ văn lớp 12 full (Trang 110 - 115)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(392 trang)
w