CHƯƠNG 2. TÍNH CHẤT TRÒ CHƠI TRONG VĂN XUÔI LÊ ANH HOÀI NHÌN TỪ THỂ LOẠI, KẾT CẤU, NHÂN VẬT
2.3. Tính chất trò chơi qua xây dựng nhân vật
2.3.3. Phân mảnh, lắp ghép, hòa lẫn nhân vật
Phân mảnh là một trong những thủ pháp đặc trưng của văn chương hậu hiện đại. Kiểu nhân vật mảnh vỡ hay phân mảnh nhân vật cũng xuất hiện khá phổ biến trong các tác phẩm văn xuôi hậu hiện đại. Đây là kiểu nhân vật được miêu tả rời rạc với những mảnh vụn về tính cách, đứt đoạn trong khoảng không gian và thời gian.
Nó còn có thể là những nhân vật được xây dựng trong sự đối xứng với những nhân vật khác, có thể trái ngược hoặc có thể tương đồng các mảnh tính cách. Chúng soi chiếu nhau trong cùng một hoàn cảnh để những mảnh tính cách của nhân vật lại có thể bổ sung, tương hỗ nhau.
Kiểu nhân vật bị phân mảnh về tính cách, mỗi mảnh vụn gắn với một chi tiết để người đọc tự lắp nối, làm cho chân dung nhân vật được nhận diện một cách rõ nét và đầy đủ hơn. Nhân vật Kiên trong truyện ngắn Dòng ánh sáng dường như có hai nét tính cách, hai cách sống. Khi không có vợ, anh đắm chìm trong những thuật toán, hứng thú với việc đọc truyện Kiều. Khi gần vợ anh lại là một người khác, mọi hoạt động, sinh hoạt hằng ngày anh đều để vợ mình sắp xếp. Lúc đó, anh như một đứa trẻ để mẹ kỳ cọ ngón chân, lau kỹ từng li từng tí, giơ tay giơ chân để mặc áo.
Kể cả anh ăn gì, uống gì cũng là do vợ quyết định. Anh như một cỗ máy được lập trình sẵn không vui, không buồn, không cảm xúc. Một con người mà chia hai nửa cuộc sống. Hai trạng thái này của Kiên được miêu tả ngổn ngang, lộn xộn, rời rạc.
Cố gắng đan ghép những mảnh vụn ấy, ta cũng chỉ phát hiện một phức thể tâm lí, một tính cách không trọn vẹn. Đôi khi ta không hiểu Kiên đang nghĩ gì và anh ta cũng thế: “Kiên đang dần bị mất và quên điều gì. Trong lúc anh đang nghĩ về điều đó, Nhu nói với anh, vào một buổi tối khi hai người đang ăn: “Anh không còn biết mình đang no hay đói nữa, đúng không” (Lê Anh Hoài, 2022. tr. 101). Mọi thứ xung quanh mà vợ nói với Kiên đều trở thành thông tin dữ liệu mà anh phải nhập vào như một chương trình được chạy sẵn: “Trong đầu anh xuất hiện những dữ liệu, kiểu: Tỏi – Chanh – Hoàn – Nghệ - An - Giá gấp năm”; “Trong đầu anh vẫn chưa tan đi dữ liệu kiểu: Lâm – Lý Sơn – Đoàn Thanh niên – Tỏi… Anh cố chắp ghép chúng lại, hòng mong tìm được ý nghĩa mới” (Lê Anh Hoài, 2022. tr.104, 105).
Đang mê mẩn, lan man trong cuốn sách khó giải thích khi nghe tiếng vợ trách mắng anh như một đứa trẻ bị mắc lỗi: “Kiên lúng túng. Não bộ của anh đang từ trang phục của Thúy Kiều và Thúy Vân bỗng lập tức chuyển sang vấn đề trang phục của chính anh” (Lê Anh Hoài, 2022. tr.114). Khi vợ tắm cho mặc dù như một đứa trẻ ngoan ngoãn ngồi yên cho mẹ kì rửa nhưng trong đầu anh vẫn hiện lên vẩn vơ câu hỏi: “Không hiểu ở thời của Thúy Kiều, đồ lót như thế nào?”. Ngay cả khoảnh khắc cần sự tập trung nhất là lúc làm tình cũng không tập trung được. Thậm chí vợ đặt câu hỏi “anh có yêu em không?” và dù có trả lời nhưng trong đầu anh vẫn xoay quanh thuật toán, đây mới là điều khiến anh mải mê. Tình yêu và trách nhiệm với vợ là điều anh luôn giữ, nhưng trong tâm trí anh, các dòng ánh sáng của thuật toán luôn chiếm ưu thế. Cuộc sống và tâm hồn anh dường như chia thành hai nửa riêng biệt, mỗi nửa tạo nên một khía cạnh đặc trưng của con người Kiên. Điều này mở ra cánh cửa để thấu hiểu về sự phức tạp và đa chiều của con người, đồng thời thể hiện tầm quan trọng của việc tìm hiểu thấu đáo về những gì đang diễn ra trong tâm trí và tâm hồn của mỗi cá nhân.
Các nhân vật với những mảnh tính cách rời rạc còn được đặt trong sự đối xứng vừa trái ngược vừa tương đồng bổ sung những mảnh ghép cho nhau. Các nhân
vật trong Chuyện tình mùa tạp kỹ đều có câu chuyện của riêng mình, chúng lồng ghép vào nhau tạo nên cuộc sống đầy bộn bề phức tạp. Họ tách bạch nhưng lại hòa lẫn, chính những mảnh tính cách này chúng ta cần phải soi chiếu để hiểu hơn về nhân vật. Các nhân vật Trình, Hà hay Hậu đều là những người trí thức trẻ, cuộc sống, công việc, tình yêu, hôn nhân của họ đang trong mớ lộn xộn và cần tìm cách tháo gỡ. Trình hiện lên như một chàng trai luôn lẩn quẩn với quan niệm yêu đương, tình dục, người tình mới, người tình cũ thì Hà lại quyết đoán hơn về vấn đề này, có quan điểm cá nhân rõ ràng về phụ nữ. Tuy vậy, Hà cũng như Trình, anh ta cũng đang trong mối quan hệ lưng lửng với Nhã. Đã đến ở chung với nhau, nhiều lần quan hệ với nhau nhưng khi Nhã đề cập đến chuyện cưới xin Hà lựa chọn im lặng Hà có thực sự yêu Nhã hay không? Hay là chỉ là một người tình không thể quên? Ta thấy được hình ảnh của Trình trong Hà và ngược lại, họ đều là những người “hàng ngày, hàng giờ. Hân hoan, thỏa mãn, đau khổ, thiếu hụt, yêu và ghét và đủ thứ chiếm lấy con người mình (Lê Anh Hoài, 2007, tr.151). Dù là Trình, Hà, Hậu, Đăng, hay Dung, Mai, Trà, L hay Nhã, họ là những mảnh ghép của nhau. Ta thấy hình ảnh của người này trong người kia, cũng thấy hình ảnh của người kia chính là mảnh ghép của người này. Mỗi nhân vật là một mảnh ghép cho sự phức tạp hóa trong tâm hồn con người, tạo ra một hình ảnh phong phú chân thực của thanh niên trí thức trẻ @. Chính vì vậy, ở phần kịch của cuốn tiểu thuyết Lê Anh Hoài chẳng ngần ngại cho dùng chung một cái tên “thi sĩ, đại bợm” cho Hà, Hậu, Trình, “nàng ngây thơ, dâm phụ” cho Trà, Thanh, Dung, L, Quy, Nhã. Phân ra rồi lại tổng hòa.
Hóa ra, Lê Anh Hoài đã tự chơi với các nhân vật của mình rồi sắp đặt chúng để người đọc mở rộng khả năng tưởng tượng và khám phá. Cũng nhờ vậy ta nhận ra rằng không có ai là hoàn hảo, mỗi người đều mang trong mình sự đa mặt và trái ngược.
Tiếp tục với cuộc chơi phân mảnh rồi hòa lẫn, Lê Anh Hoài lại xây dựng một nhân vật đặc biệt thể hiện sự “hòa lẫn” nhân vật trong Chuyện tình mùa tạp kỹ.
Nhân vật mang ký tự “T” xuất hiện xuyên suốt, nhiều lần trong tác phẩm. Tưởng rằng “T” chỉ là một người nhưng khi đọc có thể thấy “T” xuất hiện với nhiều vai trò, nghề nghiệp, trong nhiều mối quan hệ khác nhau. Trong mối quan hệ với Quy,
“T” là một hiệu phó, trên 50 tuổi, có vợ con, là người tình được nhắc đến trong nhật ký của Quy; trong mối quan hệ với Mai, “T” là đồng hương, chồng Mai; trong mối quan hệ với Trình “T” là tình địch; trong mối quan hệ với Dung, “T” là chồng cũ có xu hướng bạo lực; trong mối quan hệ với Hà, “T” xuất hiện ở hai vai trò, một là người thay thế vị trí ở cơ quan; một là tay solist, xét theo ADN là bố thằng Mít. Vậy
“T” có phải là nhiều người khác nhau? Nhưng nếu như vậy ta lại tự đặt ra câu hỏi tại sao tác giả lại không đặt bằng nhiều cái tên mà lại chỉ dùng một ký tự cho nhiều nhân vật? Có lẽ, những nhân vật “T” này chính là phân thân của con người với bản chất sáng – tối, tốt – xấu hay là một dạng biểu hiện con người đa nhân cách? Bởi ở mỗi mối quan hệ ta lại thấy nó mang một số đặc điểm tính cách khác nhau: tham vọng, lười biếng, trì trệ, quan liêu trong công việc; ghen tuông, bạo lực, hòa nhã, ti tiện, ngây thơ trong tình yêu… Ở một phân đoạn khác, nhân vật chị Dung trong mối quan hệ đồng nghiệp với Trình và nhân vật Dung trong truyện ngắn mà Trình nhờ chị Dung sửa lại trùng tên nhau, câu chuyện của họ dường như cũng có sự hòa lẫn.
Nhân vật thực và nhân vật hư cấu lại đan cài vào nhau. Thực mà hư, hư mà thực, từ đó cũng xóa nhòa ranh giới giữa cái cao cả, cái đê hèn, tầm thường của cuộc sống và tình yêu. Dường như Lê Anh Hoài muốn kéo mọi thứ vào thế giới trò chơi, bởi ở đó mới dễ dàng lẫn lộn hư thực, không phân biệt thứ bậc cao cả, thấp hèn, hoàn toàn bình đẳng, tự do. Đây có lẽ là cái mà nhà văn muốn “diễn viên” trong tác phẩm của mình thể hiện. Nhờ cách khắc họa những nhân vật trên mà Lê Anh Hoài đã thể hiện hình ảnh những con người trong xã hội bị mất niềm tin vào “đại tự sự”, chỉ còn là những mảnh trạng thái, mảnh tính cách, và họ là những mảnh ghép rời rạc của hình ảnh con người thời đại.
Không còn một khối tính cách nổi trội như nhân vật trong văn học thời kỳ trước, Lê Anh Hoài đã khắc họa nhân vật trong cuộc chơi đầy ngẫu hứng bằng cách phân mảnh, lắp ghép, hòa lẫn gương mặt, tính cách. Khắc họa những nhân vật này, nhà văn đã giúp ta chạm tới chiều sâu, góc khuất, những bí ẩn của tâm hồn, trạng thái tâm lí cũng như sự phức hợp của bản thể. Đồng thời nó còn khơi mở, kích thích những liên tưởng, suy ngẫm của người đọc về nhân vật và hình tượng con người trong mối quan hệ tương tác, đồng sáng tạo với văn bản, tác giả.
Tiểu kết chương 2
Xuất phát từ ý thức tự do, ngẫu hứng, không theo khuôn khổ, coi trọng mối quan hệ tương tác giữa tác giả – văn bản – bạn đọc, Lê Anh Hoài đã xây dựng thế giới trò chơi văn bản để thỏa sức sáng tạo, thay đổi và phát triển trong cách viết.
Ông mang đến cho người đọc những cách chơi văn bản mới ở việc nới lỏng khung hình và dung hợp thể loại. Phá vỡ quy tắc giới hạn loại thể, cho phép pha trộn với các thể loại, văn bản khác như: báo chí, luận bàn, giai thoại, tiếu lâm, thư từ… đã mở rộng về ranh giới văn học, đem đến sự độc đáo và đa dạng cho tác phẩm. Về kết cấu, trò chơi phân mảnh lắp ghép, truyện lồng truyện đã mang đến một trải nghiệm mới về sự chủ động trong tiếp nhận tác phẩm văn chương, đồng thời các lớp ý nghĩa đằng sau câu chuyện cũng được gợi ra. Tiếp đến, nhờ cách chơi nhân vật với các thủ pháp lạ hóa, mờ hóa, phân mảnh, lắp ghép, Lê Anh Hoài đã kích thích sự tò mò, sáng tạo và suy ngẫm của độc giả, đồng thời tạo nên một thế giới văn chương mới lạ, độc đáo hơn. Mở rộng khả năng tưởng tượng, tăng cường hàm ẩn, vượt những qui tắc, giới hạn đã trở thành động lực sáng tạo cho nhà văn và hành động đọc chủ động, tích cực cho độc giả.
CHƯƠNG 3