Đan xen nhiều sắc thái ngôn ngữ

Một phần của tài liệu Văn xuôi Lê Anh Hoài nhìn từ lí thuyết trò chơi (Trang 96 - 102)

CHƯƠNG 2. TÍNH CHẤT TRÒ CHƠI TRONG VĂN XUÔI LÊ ANH HOÀI NHÌN TỪ THỂ LOẠI, KẾT CẤU, NHÂN VẬT

3.1. Tính chất trò chơi qua ngôn ngữ nghệ thuật

3.1.1. Đan xen nhiều sắc thái ngôn ngữ

Trong chuyển biến tư duy nghệ thuật của văn học Việt Nam đương đại, ngôn ngữ nghệ thuật không phải lúc nào cũng được đẽo gọt kĩ càng, trau chuốt, đầy chất thơ hay đẹp đẽ, sang trọng mà đã gia tăng tính đời thường, khẩu ngữ, gần gũi với đời sống, đặc biệt là sự xuất hiện lớp ngôn từ suồng sã, tự nhiên, thậm chí là trần trụi, thô tục, tuy nhiên cũng không thiếu những hàm ngôn, lối viết nhiều ẩn dụ, liên tưởng... Tất cả được sử dụng kết hợp nhuần nhuyễn, khéo léo theo những dụng ý nghệ thuật riêng, nhất là mục đích chơi ngôn từ của văn chương đương đại. Xã hội với hiện thực đa đoan, đa sự, đầy bất trắc cần có hình thức ngôn ngữ thể hiện phù hợp, hơn nữa trong thời đại dân chủ, tự do, người đọc có nhu cầu tham gia vào trò chơi sáng tạo ngôn ngữ với thị hiếu thẩm mĩ mới, văn chương phải đáp ứng nhu cầu này. Sự đổi mới này đã tạo ra sân chơi cho nhà văn thỏa sức sáng tạo trong mê cung ngôn từ. Hòa chung với tinh thần đổi mới đó, Lê Anh Hoài đã có nhiều tìm tòi thể nghiệm trong cách viết, nhất là lối chơi ngôn ngữ mà trước hết là chú trọng sự đan xen nhiều sắc thái ngôn ngữ.

Khảo sát các tác phẩm văn xuôi của Lê Anh Hoài có thể thấy ông thiên về sử dụng ngôn ngữ mang sắc thái vừa gần gũi vừa hiện đại. Nhà văn đưa vào tác phẩm

nhiều yếu tố ngôn ngữ đời thường với những sáng tạo riêng, tạo cảm giác mới mẻ mặc dù những lớp ngôn từ này có thể bắt gặp trong cuộc sống thường ngày: “à lố, ừ, ra đi, quán cũ ấy” (Lê Anh Hoài, 2010, tr.153); “bớt bớt cái mồm thôi, ông chỉ chết vì cái mồm” (Lê Anh Hoài, 2010, tr.43); “mấy thằng bạn ấy mà. Toàn đực rựa” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.184); “cha này chơi màu hồng lãng mạn ghê”; “Lãng mạn gì? Nhìn ghê chết cha” (Lê Anh Hoài, 2022, tr.34); “Ra trường là hắn được nhận ngay vào một công ty tếch, mếch gì đó của nhà nước và đã có nhà riêng ở thủ đô” (Lê Anh Hoài, 2010, tr.182). Nhà văn đã góp phần đưa ngôn ngữ văn xuôi về với đời thường, gần gũi, có sắc thái dí dỏm, hiện đại, phù hợp với thông điệp về xã hội, con người đương đại.

Bên cạnh những lời nói thông thường như đi thẳng từ cuộc sống vào tác phẩm, tiếng chửi, những lời quát mắng cũng đưa đến màu sắc thông tục rõ rệt.

Tiếng chửi thường là phát ngôn của những nhân vật thô lỗ, cộc cằn nhưng hầu hết chủ thể của phát ngôn chửi trong văn xuôi Lê Anh Hoài đều là tầng lớp trí thức. Họ vốn được xem là tầng lớp nghiêm túc, chuẩn mực trong lời ăn tiếng nói. Gỡ bỏ hình ảnh đó, Lê Anh Hoài để cho người trí thức nói thật, nói thẳng, nhìn nhận cuộc sống một cách chân thật nhất. Nhà văn cố tình cho nhân vật trí thức của mình phát ngôn khi không thể kiềm chế sự phẫn nộ, bởi họ cũng chỉ là những con người bình thường. Cuộc sống hậu hiện đại ngột ngạt, tù túng, hỗn loạn, đầy bất trắc có lẽ vì thế mà họ không ít lần bật lên những câu chửi thề như một cách giải tỏa tâm lí.

Ngôn ngữ tuy có tính chất “bạo” nhưng nhờ đó lại diễn đạt chính xác nhất hiện thực cuộc sống.

Hiện tượng sử dụng ngôn ngữ mang sắc thái thô tục, lệch chuẩn không được phổ biến trong văn học truyền thống. Nó bị gạt khỏi trung tâm, cấm kị vì cho rằng đó là thô thiển. Tuy nhiên, khi lật mở những trang văn xuôi đương đại ta lại thấy sự xuất hiện ào ạt tiếng lóng, khẩu ngữ, tiếng nước ngoài, tiếng chửi... Trong văn xuôi Lê Anh Hoài, lời chửi, mắng rủa tuy không xuất hiện quá dày đặc như tác phẩm của các nhà văn cùng thời khác như Ma net, 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân; Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh; Khải huyền muộn, Cơ hội của chúa Nguyễn Việt Hà… nhưng nó là phần không thể thiếu trong cuộc chơi ngôn từ của

tác giả. Không khó để bắt gặp những câu văn có sử dụng sắc thái ngôn ngữ này.

Nếu để ý, ta sẽ thấy nhà văn sử dụng lời chửi mang tính chất tung hê, phủ định mọi đối tượng, xếp con người ngang hàng với con vật. Chẳng hạn:

“Cái trời mưa chó má này, công trình cứ nát bươn cả ra… Làm ăn năm nay như cứt.” (Lê Anh Hoài, 2010, tr.35).

“Bác chẳng hiểu chó gì hết…” (Lê Anh Hoài, 2010, tr.39).

“Có chó gì mà giữ, có phải mèo đi ngoài đâu” (Lê Anh Hoài, 2010, tr.41).

“Đồ chó, không bao giờ tao quên đâu” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.124).

“Đàn bà là cái chó gì” (Lê Anh Hoài, 2007, tr.6).

“À đây, bố khỉ” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.130).

“Vâng vâng cái con khỉ” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.143).

Sự dè chừng, cấm kị, áp chế đã không còn, thay vào đó là những câu chửi rủa, giải tỏa cảm xúc kìm nén, đưa con người trở về đúng bản chất tự nhiên vốn có của nó. Trò chơi vốn theo đuổi khoái cảm “âm thanh”, là tiếng lòng vô tư, không nhắm vào lợi ích trực tiếp của ngôn ngữ nên Lê Anh Hoài để cho các nhân vật thể hiện ngôn ngữ chửi như một cách bộc phát cảm xúc, không cân nhắc, suy nghĩ nhiều về ý nghĩa của nó. Người đọc cũng không mấy khó chịu trong tiếp nhận khi nhận ra đây là sắc thái ngôn ngữ vốn không thiếu trong cuộc sống thường ngày.

Lê Anh Hoài cũng không ngần ngại để cho nhân vật dùng ngôn ngữ chửi có tính chất mắng nhiếc, chửi thề thô tục: “tiên sư con đĩ, thích thì có kham được không, có phải ai cũng như…” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.186); “mẹ kiếp” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.180); “anh… Anh bố láo! Tôi… anh sẽ biết tay tôi!” (Lê Anh Hoài, 2022, tr.29); “con đĩ, mày có khôn cũng chẳng bao giờ là con người cả” (Lê Anh Hoài, 2014, tr. 108); “điên à, làm gì có đám cưới rap, đám cưới hip- hop” (Lê Anh Hoài, 2014, tr. 112); “biết thế thì cút mẹ mày đi” (Lê Anh Hoài, 2007, tr.39). Đây được xem là ngôn ngữ đầu đường xó chợ, con buôn, giờ đây đã đi vào văn chương một cách vừa tự nhiên vừa mang dụng ý nghệ thuật. Bản thân âm thanh ngôn ngữ, tiếng chửi là một phần tự nhiên, thô tục của thế giới phồn tạp mà tác giả phơi bày một cách chân thật, trần trụi. Nhưng phải chăng nhà văn vẫn còn e ngại khi viết tắt những chữ tục như trong các trường hợp: “đ.m mày chứ, cái thứ đồ văn chương giẻ

rách cũng làm bộ cao ngạo…chứ mày làm ra cái đ. gì mà cũng lên mặt” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.129); “Giờ này! Chơi hay nghỉ đây? Đ.m”; (Lê Anh Hoài, 2014, tr.157). “Gặp thánh thần chẳng lẽ h…d…/ Không dám h… để nỗi buồn muôn thuở”

(Lê Anh Hoài, 2007, tr.93). Đây như một trò chơi tác giả tạo ra cho bạn đọc. Độc giả muốn phát nghĩa như thế nào cũng được nhưng chắc chắn rằng khi phát nghĩa cho từ ngữ ta cũng cần đặt chúng trong ngữ cảnh của tác phẩm. Tất nhiên, những lời chửi như thế này không dễ dàng được chấp nhận đối với người đọc truyền thống.

Những chất liệu trên dù xuất hiện “vượt ngưỡng” trong các tác phẩm nghệ thuật nhưng nó xuất phát từ lời ăn tiếng nói hằng ngày. Mặc dù, chất liệu này bị giới hạn bởi truyền thống, đạo đức, thiết chế xã hội nhưng nó lại là một cách để tạo ra hiệu ứng nghệ thuật thể hiện sự tự do trong trò chơi sáng tạo của tác giả. Dù rằng thô tục,

“phi chính thống” nhưng đây là kiểu ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong xã hội, trong dân gian. Chính vì thế, người đọc cần có tâm thế chơi, phải hòa mình vào trò chơi của tác giả. Ở đây không cổ súy cho lời nói thô tục, cũng không phê phán hay chủ trương mô tả, phản ánh đời sống xã hội, cả tác giả, nhân vật, độc giả đều tham gia vào trò chơi văn bản như một sân chơi “carnival”. Nơi này không phân biệt giai cấp, tôn giáo, chính trị, địa vị xã hội, quy định, áp chế… con người được phép sử dụng ngôn ngữ một cách tự do, kể cả ngôn ngữ thô tục, lệch chuẩn, vượt ngưỡng trong nhóm, trong thế giới của mình mà không sợ bị “phạm húy”, bị trừng phạt. Hiểu rõ và tôn trọng luật chơi, trong cuộc chơi riêng của mình với tinh thần cởi mở, phóng khoáng, Lê Anh Hoài tạo dựng một thế giới nhân vật với loạt phát ngôn khơi gợi nhiều suy ngẫm, xúc cảm, thái độ, ấn tượng và cả suy đoán, lập nghĩa của độc giả.

Ngôn ngữ hình thể, thân xác, diễn ngôn tính dục dường như bị né tránh ở văn học giai đoạn trước vì quan niệm văn chương nghiêm túc, tải đạo, coi trọng các đại tự sự lí trí, nam quyền… Tuy nhiên, với sự chuyển động của văn học ngày càng hướng đến phi trung tâm, giải thiêng, lớp ngôn ngữ này dần được chấp nhận. Trong văn xuôi Việt Nam đương đại, đặc biệt nổi bật là các cây bút nữ như Y Ban, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư, Thuận… đã mạnh dạn sử dụng ngôn ngữ hình thể như một cách thể hiện khát vọng tình yêu, chống lại những quan niệm cũ về người

phụ nữ. Các nhà văn nam như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương cũng sử dụng nó để viết về tính dục, thiên tính nữ… Nhà văn Lê Anh Hoài lại khai thác ngôn ngữ xác thịt để thể hiện bản nguyên của con người, ông dùng nhiều từ ngữ miêu tả chân thật, gọi thẳng tên các bộ phận cơ thể của con người: “ngực bắt đầu nhú lên”; “cổ”; “nách”; “đám lông chân”; “mồm nào cũng to”; “ngực”; “khối xương thịt”; “thêm ít gân máu”; “một đống nội tạng”; “tử cung”; “âm đạo”; “âm hộ”; “sinh đôi”; “dương vật”; “sức mạnh của lũ ống”; “màng trinh”; “thụ thai”;

“háng”; “bầu vú nhựa”; “bụng chân”; “hông”; “đùi”; “cái buồi”; “ngực căng lên”; “hạ bộ”… Bỏ qua những cấm kị trước đó, nhà văn không hề che giấu mà nói ra một cách tự nhiên đặc điểm thân xác con người, đặc biệt là các bộ phận nhạy cảm. Những từ ngữ mang yếu tố xác thịt trong văn xuôi của Lê Anh Hoài hầu hết đều đề cập, mô tả phần dưới cơ thể, liên quan đến vấn đề tính dục. Nhà văn lấy từ ngữ chỉ cơ thể con người để khơi gợi nhiều ý nghĩa. Tuy nó là nơi thường được xem là thô tục, dơ bẩn, xấu xí, đáng xấu hổ khi nói đến nhưng lại là nơi sự sống được tái sinh, nơi sự sống bắt đầu. Đó như một sự sắp đặt mang tính triết lí cao của tự nhiên, mọi vật đều có ý nghĩa và qui luật của nó. Chính vì thế đây là một kiểu tái sinh ý nghĩa cho ngôn ngữ. Không đố tục giảng thanh như Hồ Xuân Hương, Lê Anh Hoài thoải mái sử dụng hàng hoạt từ ngữ thể hiện sự tiếp xúc thân thể như: “ân ái”;

“nồng nàn”; “thủ dâm”; “chăn gối”; “mây mưa”; “làm tình”; “giao hợp”; “giao hoan”, “cọ”... Chẳng hạn trong các câu văn: “Chúng tôi còn nhiều lần ân ái tuyệt vời” (Lê Anh Hoài, 2022, tr.8); “Tôi đã có một cuộc làm tình đầy khoái lạc, trên cả mỹ mãn” (Lê Anh Hoài, 2010, tr.160); “Như nụ hôn đắm say, nó sẽ dẫn đến việc cái của mày cương lên, cọ vào những vị trí tương ứng trên cơ thể nàng” (Lê Anh Hoài, 2007, tr.133), những từ ngữ này trực tiếp gọi tên hoạt động tính dục của con người, được sử dụng để miêu tả một cách trần trụi, táo bạo những hành động mang tính bản năng của các nhân vật trong tác phẩm.

Sử dụng nhiều từ ngữ chỉ các bộ phận cơ thể, hoạt động tính dục của con người, nhà văn đã mạnh yếu tố thân xác trong thế cân bằng với linh hồn con người.

Nó là cái chứa đựng tinh thần mà ta không thể không quan tâm. Tất nhiên, ông không bày ra một cách quá trần trụi mà thông qua trò chơi sắp đặt của mình, từ ngữ

ấy lại được tuôn ra một cách tự nhiên. Qua đó, đời sống tâm sinh lý của nhân vật được thể hiện, nó không phải là nhu cầu cá nhân mà là nhu cầu của tạo hóa. Mang tinh thần kháng cự chính thống, nhà văn đã thông qua cách chơi ngôn ngữ như thế để dựng lên một sân chơi không nhàm chán và mang giá trị riêng của nó, góp phần giải thiêng sức mạnh tinh thần, lí trí, giải “trung tâm đàn ông”, tạo sân chơi cho hình thể, xác thân, bản năng được lên tiếng. Đồng thời, việc đánh giá vị trí của ngôn ngữ thân xác, tính dục trong đời sống không phụ thuộc vào bất kì một quan điểm cá nhân mang tính chính trị nào.

Bên cạnh các sắc thái ngôn ngữ nổi trội trên, đôi khi xen kẽ trong lời văn của Lê Anh Hoài là những từ ngữ được xem là ngôn ngữ của tuổi teen vừa tạo tiếng cười, vừa tạo cảm giác gần gũi, thoải mái: “Hok đâm hok chém đời hok nể/ Hok xiền hok bạc gái hok theo” (Lê Anh Hoài, 2022, tr.27). Nhà văn còn kết hợp, đan xen tiếng nước ngoài và tiếng Việt hoặc sử dụng cách nói chệch âm tiếng nước ngoài trong các tác phẩm như: “Em – xin – hun”; “mát- tơ”; “xì tin”; “ôkê”; “bìa cút – sê phủ pờ - lát – tích”; “li- bi- ô”; “cóp py”; “Va- len -không – tin”; “Kim – sâu – răng”… Đưa cách nói này vào ngôn ngữ các nhân vật vừa tạo sự hài hước vừa thể hiện tính pha tạp ngôn ngữ của cuộc sống xã hội thời đại công nghệ và giao lưu văn hóa toàn cầu. Đây cũng là cách chế lời, cách nói chệch, lắp ghép, mang sắc thái ngôn ngữ “mạng”, ngôn ngữ của giới trẻ. Tính chất trò chơi của sắc thái ngôn ngữ này thể hiện ở chỗ nó mang lại cảm giác vui tươi, tự do như một xu hướng giễu nhại, đùa chơi hiện nay. Đằng sau lớp ngôn ngữ này còn ẩn chứa trò diễn “ngôn ngữ toàn cầu hóa” của nhà văn. Có thể thấy, sắc thái ngôn ngữ trong văn xuôi Lê Anh Hoài vừa gần gũi, vừa đầy chất sống, cập nhật, mang không khí, hơi thở của đời sống xã hội đương đại.

Xây dựng, sáng tạo ra cuộc chơi văn bản, Lê Anh Hoài đã không ngần ngại thử thách bản thân trong cách sử dụng ngôn ngữ nhiều màu sắc. Bước vào cuộc chơi tức là chấp nhận luật chơi, người đọc cần chủ động tuân thủ theo tính chất phá vỡ nhiều quy chuẩn trước đó của ngôn ngữ nghệ thuật. Với cách đan xen nhiều sắc thái ngôn ngữ, nhà văn đã cho thấy tài năng của mình trong việc lựa chọn ngôn ngữ tạo dựng một trò chơi văn bản đầy sáng tạo. Việc phá vỡ quy chuẩn mở ra một thế

giới văn học đa dạng và phong phú, nơi ngôn ngữ trở thành một công cụ để kết nối tác giả và độc giả trong cuộc phiêu lưu khám phá tác phẩm văn chương.

Một phần của tài liệu Văn xuôi Lê Anh Hoài nhìn từ lí thuyết trò chơi (Trang 96 - 102)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(150 trang)