CHƯƠNG 2. TÍNH CHẤT TRÒ CHƠI TRONG VĂN XUÔI LÊ ANH HOÀI NHÌN TỪ THỂ LOẠI, KẾT CẤU, NHÂN VẬT
3.1. Tính chất trò chơi qua ngôn ngữ nghệ thuật
3.1.2. Sáng tạo, biến tấu về quy cách, hình thức ngôn ngữ
Đầu tiên, sự sáng tạo trong quy cách, hình thức ngôn ngữ của Lê Anh Hoài được thể hiện ở việc ông mở rộng biên độ của câu hoặc tỉnh lược câu. Ông sử dụng khá phổ biến những câu văn dài triền miên không dứt, không chấm phẩy với lối viết tràn lan, ý này chồng ý kia: “Chúng, những kẻ chạy đua theo phong trào, đến với anh theo truyền thông; hay những kẻ biết nghề - tuyệt, hoặc rất nguy hiểm; hay những kẻ lọc lõi thương trường – anh sẽ phải đối phó với chúng qua những bữa nhậu vô bổ hoặc những chuyến viếng thăm nhà nghề; hay những kẻ giỏi về luận lý, diễn giải – chúng có thể rất tâm huyết như đi vào gan ruột anh, hay sẵn sàng nói những điều anh không hề ngờ tới khi anh sáng tác, như đúng rồi” (Lê Anh Hoài, 2022, tr.20). Câu văn không hề có dấu chấm tạo cảm giác việc liệt kê của nhân vật luôn mở rộng, không có giới hạn. Nhằm thể hiện một dòng suy nghĩ chảy tràn, phân tán rời rạc trong tư duy và cảm xúc của nhân vật, nhà văn dùng lời bài hát gồm nhiều vế gom thành một câu không chấm phẩy: “Người tình của tôi xa cách tự lâu rồi tưởng không bao giờ gặp nữa nhưng bỗng một hôm trên đường ra phố thị tôi gặp người yêu ngày nào đôi mắt ưu tư chợt buồn nàng nhìn tôi rồi quay mặt bước đi như không hề quen biết” (Lê Anh Hoài, 2007, tr.122). Câu văn như một câu chuyện dài khiến độc giả phải dừng lại đọc, ngẫm và hiểu. Đôi khi họ hiểu và ấn tượng về nó bởi lời bài hát quen thuộc vang lên hơn là lời văn của tác giả. Đó cũng là cách lồng ghép ngôn ngữ trong các văn bản. Như vậy nhà văn đã tạo ra trò chơi tư duy ngầm, yêu cầu người đọc theo dõi ý tưởng và thông điệp trong câu, liên kết, xử lý các thông tin và tạo ra một cấu trúc ý nghĩa hợp lí.
Hết sử dụng câu văn chảy tràn, nhà văn tiếp tục đưa ra những câu văn ngắn, gọn với những “liên hệ tạt ngang”, liệt kê một cách ngẫu hứng, tỉnh bơ như: “Vui.
Vài ba chén. Sướng”; “Uống chung, uống riêng. Cạch cạch cạch”; “Giới thiệu, làm quen, hân hoan, cụng ly”; “Mây. Gió. Trăng. Hoa. Tuyết. Núi. Sơn” (Lê Anh Hoài, 2010, tr.157). Các câu trên như có sự dao động, chuyển đổi ngẫu nhiên giữa các hành động và hình ảnh, mang đến cảm giác của sự tự do, ngẫu hứng và không
có một sự ràng buộc về một trạng thái tinh thần hoặc tâm trạng đặc biệt của những người trí thức trong câu chuyện. Hình thức câu ngắn, tạt ngang phù hợp với việc mô tả cuộc sống con người hậu hiện đại với nhiều lo toan, tốc độ xử lý và tiếp nhận thông tin gấp gáp, khẩn trương. Các câu văn ngắn, gọn, đôi lúc triệt tiêu cả chủ ngữ và vị ngữ, không những truyền đạt ý nghĩa hành động nhanh chóng mà còn gây ra sự chú ý, tạo cảm giác đột phá đầy bất ngờ và tươi mới cho việc sử dụng ngôn ngữ.
Đi liền với hình thức câu ngắn là yếu tố ngắt dòng, đây là lối sắp đặt ngôn từ thường thấy trong văn xuôi Lê Anh Hoài. Chẳng hạn, trong tác phẩm Nối vòng tay lớn có đoạn viết về cuộc gặp gỡ “ăn nhậu” mang tinh thần “tứ hải giai huynh đệ”
với các câu văn ngắn kết hợp ngắt dòng:
“Tính tiền.
Nhiêu”
“Ú ớ, Sự cố gắng trở lại bình thường làm anh càng đau đớn. Anh gục xuống” (Lê Anh Hoài, 2010, tr.156). Các câu ngắn, trình bày theo lối ngắt dòng gợi cảm giác cách giao tiếp của các nhân vật trở nên nhịp nhàng và nhanh nhạy hơn.
Không theo chuẩn hóa mà thay đổi cấu trúc, độ dài của dòng và câu là một biểu hiện của việc sắp đặt ngôn ngữ, tạo độ linh hoạt của ngôn từ.
Trò chơi sắp đặt ngôn từ được thể hiện rõ nhất trong truyện ngắn Trong mơ tôi đến. Tác phẩm viết về giấc mơ đi lạc vào một tòa nhà có nhiều cửa, nhiều phòng, nhiều cầu thang của “tôi”. Cả tác phẩm chỉ vỏn vẹn mười lăm câu, cứ hết mỗi câu lại cách dòng. Hầu hết các câu bị rút bỏ thành phần chủ ngữ:
“Tòa nhà nhiều cầu thang, những bậc thang cũ kỹ, khấp khểnh, có những chỗ hụt từng khoảng.
Có những cầu thang lơ lửng giữa trời.
Có thang dây
Có những cầu thang đột ngột xuất hiện, dẫn lên cao, bỏ qua nhiều tầng…”
(Lê Anh Hoài, 2022, tr. 153). Đây cũng là một trong những truyện ngắn rất ngắn nổi bật của Lê Anh Hoài. Tác giả cố ý sắp xếp liệt kê ra tất cả hình dáng của cầu thang, căn phòng đặt theo từng ý riêng lẻ. Hầu hết các câu đều lược bỏ đi chủ ngữ được sắp xếp một cách ngẫu nhiên nhưng một mê cung. Mỗi phòng đều hiện lại ở
một trạng thái khác nhau để ẩn ý cuộc sống muôn hình vạn trạng mà đời sống tâm lí con người cũng vô cùng phức tạp. Con người bị ẩn khuất, lạc lối trong mê cung đó, họ đi tìm nhưng chẳng biết tìm gì để cuối cùng khi giật mình tỉnh giấc những khát khao, tham vọng, quá khứ, ám ảnh chỉ còn là vô nghĩa. Cách sắp xếp như là ngẫu nhiên nhưng vừa có thể gây nhiễu loạn trong giấc mơ lại có ý đồ tăng sự tương tác giữa người chơi và văn bản trong sân chơi nhà văn đã xây dựng.
Bên cạnh hình thức câu văn dài, ngắn, lối ngắt dòng, liệt kê, sử dụng các câu hỏi liên tục cũng là cách thức chơi ngôn từ của Lê Anh Hoài. Nhà văn có thói quen sử dụng các câu hỏi liên tục. Các câu hỏi được đặt ra vừa để bộc lộ tâm trạng nhân vật, vừa để cho người đọc tự lựa chọn tâm trạng, viết lại tâm trạng cho nhân vật, vừa để lựa chọn sự việc, hành động phù hợp. Chẳng hạn, ở tác phẩm Bóng ma trong mê cung, đoạn viết về tâm trạng của Man trước tình cảm của Miên hàng loạt câu hỏi được đặt ra là: “Man buồn nghĩ thầm: Thần tượng ư, nhưng thần tượng nào? Che Guevara? Nguyễn Văn Trỗi? Chị Út Tịch? Jonh Lennon? Pink Floyd? Đức Phật?
Đức Chúa? Đức Mohamet? Mẫu Thượng ngàn? Lao Ái … hay Kim- sâu răng?”
(Lê Anh Hoài, 2014, tr.188); Man càng muốn hiểu Miên lại càng trở nên không hiểu. Anh ngày càng chìm sâu vào mê cung tình ái, tỏ ra hoài nghi về thông tin Miên đã kể: “Một là cha của Miên- người mà có lần nàng đã kể, ông ta bỏ hai mẹ còn nàng khi nàng mới 7 tuổi, đi vào một tỉnh miền Trung chẳng rõ vì gì? Vì tiền?
Vì gái? Vì lí tưởng? Vì đe dọa? Mẹ nàng cũng không biết. Sau này ông ta mất tích.”
(Lê Anh Hoài, 2014, tr. 192). Loạt câu hỏi được đưa ra nhằm gợi ra suy nghĩ và tư tưởng nhân vật một cách gián tiếp, từ đó có một sự kết nối tâm lý giữa nhân vật Man và người đọc. Tiếp đến, nó làm cho độc giả tò mò, muốn khám phá ra nguyên nhân hành động nhân vật. Người đọc có thể tự đặt ra câu hỏi “Liệu bố Miên bỏ đi là vì tiền, vì gái, hay vì lí tưởng?”; “Nếu như đi vì lí tưởng thì bố Miên có đáng trách?”; “Tâm trạng của bố Miên lúc đó như thế nào khi đứng giữa lựa chọn ở lại và rời đi. Càng nghĩ Man càng không rõ về mình, về tính xác thực của câu chuyện cho nên thoạt đầu anh cảm thấy kinh dị rồi sau đó lại cảm thấy hài. Chính điều này có thể làm ám ảnh người đọc, từ đó, khuyến khích họ tìm hiểu câu trả lời, tiếp tục
khám phá câu chuyện, đánh giá nhân vật. Còn cuối cùng có được câu trả lời hay không ta cũng không biết trước được.
Trong truyện ngắn Bay, Lê Anh Hoài cũng sử dụng hàng loạt câu hỏi nhằm viết về tâm trạng của bà Tâm “một câu hỏi luôn ám ảnh bà: Cô gái trẻ kia liệu có được biết về trạng thái thăng hoa bay vút lên của chồng bà? Lúc đó cô ta sẽ làm gì?
Cô ta có nhanh chóng dùng thân xác trẻ trung của mình đè ông xuống? Không hiểu sao điều này khiến bà cảm thấy bị xúc phạm và mất mác cực độ”. (Lê Anh Hoài, 2022, tr.50). Đặt ra câu hỏi nhưng không hé lộ “đáp án”, lúc này, người đọc tự tìm ra câu trả lời thay cho nhân vật. Qua đó, ta nhận thấy tâm trạng băn khoăn, lo lắng, ghen tuông của bà Tâm đối với căn bệnh “bay” của người chồng. Trong truyện ngắn Bầy mắt, tác giả để cho nhân vật V đặt ra hàng loạt câu hỏi thể hiện những mối nghi ngờ của cô với Đ cùng nỗi sợ hãi trước ánh mắt dò xét của cô chủ nhà: “Hoặc giả cô Đ đã quan sát gần hơn mà V không hề phát hiện ra? Vì bỗng thấy nghi ngờ khi nhớ đến những dải băng keo màu đen dán kín các khe cửa? Liệu đó có phải là đồ thật? Hay đằng sau vẻ đen sì dày dặn … là những thấu kính trong suốt của cô?”
(Lê Anh Hoài, 2014, tr.25). Nhân vật V đã nghi ngờ tình cảm của mình cũng nghi ngờ tình cảm của H. Cô không biết thực sự mình có yêu H hay chỉ là nỗi ám ảnh vì sự dò xét khiến cô trở nên như vậy: “Kỳ thực lúc đó V bị rơi vào một sự ngạc nhiên chiếm trọn tâm trí cô: Tuần trước ư? Nồng nàn? Với người đàn ông này? Khi mình nồng nàn, mình như thế nào? (Lê Anh Hoài, 2014, tr.16). Câu hỏi được sử dụng liên tục trong một đoạn văn tạo nên một mạch suy nghĩ của nhân vật: lo lắng, nghi ngờ, tò mò, tưởng tượng… Nó là một cách cung cấp thông tin để độc giả có thể phân tích, hiểu rõ hơn, đồng cảm về suy nghĩ và hành động tiếp theo của nhân vật.
Bản thân các câu hỏi không chỉ đặt ra cho nhân vật, nên việc chúng xuất hiện hàng loạt sẽ tăng tương tác và tác động đến quá trình tham gia tìm hiểu tác phẩm của độc giả. Độc giả hoàn toàn có thể tự ngẫm nghĩ về chủ đề, sự kiện, nhân vật hoặc tình huống được đề cập trong truyện để lựa chọn câu trả lời cho phù hợp.
Đối thoại là một phương diện thể hiện ngôn ngữ nhân vật, là yếu tố tạo mối quan hệ giao tiếp của các nhân vật trong tác phẩm văn chương. Theo Từ điển văn học (bộ mới), đối thoại là sự tác động qua lại (thường là hai phía) có sự luân chuyển
giữa người nói và người nghe. Đồng thời mỗi phát ngôn đều được kích thích bởi phát ngôn có trước và sự phản xạ lại phát ngôn ấy. Cho nên, trong cuộc đối thoại nếu có người không nghe, có vẻ nghe, nghe nhưng không phản hồi khiến cho cuộc đối thoại đi vào kết thúc. Mặc khác, quá trình đối thoại của các nhân vật ngoài sự đón nhận từ chính họ thì đối với người đọc thông qua cuộc thoại này có thể thấu hiểu, thông cảm, đón nhận. Trong các tác phẩm của mình, Lê Anh Hoài xây dựng các cuộc đối thoại mà ta chẳng biết lời của ai, đang đối thoại với ai. Truyện ngắn Cuộc đời khốn nạn của một bản thảo có đoạn lời thoại của lão nhà văn nhưng chẳng biết là ông ta đang nói với ai: “Viết báo không viết lại đi viết văn, mà cái gì? Bộ râu à? Sao đang tự nhiên lại râu với ria! Chắc vì tò mò cộng với thương hại, ông ta đọc tôi đúng 16 phút…” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.130). Lời ông phó biên tập cũng không biết đang nói với ai: “truyện đọc cũng được, kiểu mới, ừ, đang bảo ưu tiên mới và trẻ. Ừ cũng được.” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.133). Khi đọc, ta có thể hiểu lão nhà văn hay ông phó biên tập đang đối thoại với “chủ nhân” của bản thảo. Việc người phát ngôn tự nói, tự trả lời, tự đánh giá, nhận xét lại khiến mất cân đối về quyền lợi trong cuộc giao tiếp. Đồng thời, ta cảm thấy “chủ nhân” của bản thảo bị thiếu đi sự thấu hiểu, đồng cảm ở hai nhân vật phát ngôn trên. Ở truyện ngắn Nỗi sợ, có sự trao đổi qua lại giữa các nhân vật nhưng ta lại không nhận diện được người phát ngôn.
Trong đoạn kể về sự kiện buổi triển lãm tranh, nhà văn đã chêm vào một cuộc đối thoại không đầu không cuối, không rõ các vai giao tiếp: “Nhà tổ chức sẽ giữ lại tranh trong nửa năm. “Nửa năm?”- Tôi hỏi. “Ừ thế thằng Khắm nó cười hềnh hệch và bảo phía các anh chị muốn giữ đến lúc nào cũng được! Em tức quá”, “Họa sĩ gì mà ngu thế”…“Không thấy bàn gì. Chỉ thấy nói nếu bán được thì chia đôi”, “Sao mày không hỏi luôn?” (Lê Anh Hoài, 2022, tr.21). Đoạn đối thoại trên rất mơ hồ, ngẫu hứng, không rõ chủ thể phát ngôn, khiến người đọc khó hình dung về nhân vật.
Trong truyện ngắn Dòng ánh sáng, hàng loạt cuộc đối thoại giữa nhân vật Kiên và vợ là những cuộc nói chuyện không công bằng về lượt lời giao tiếp. Hầu hết lượt lời thuộc về Nhu, chỉ mình cô ta nói. Ta nhận ra rằng cả cô vợ và Kiên đều cô đơn trong chính những cuộc giao tiếp này, họ đối thoại mà như độc thoại từ phía
người vợ: “…mà tỏi nhá, tỏi này em phải nhờ anh Lâm bên công ty khảo sát thiết kế. Anh Lâm ngày trước công tác bên Đoàn thanh niên ấy, anh nhớ không? Anh Lâm đi công tác Quảng Ngãi, em mới hỏi có đi ra đảo Lý Sơn không. Anh Lâm bảo có, em nhờ ngay…” (Lê Anh Hoài, 2022, tr. 104); hoặc: “Bảo cởi là cởi ngay đây à. Khổ quá, cửa còn chưa khép… Cả cái áo nữa. À mà thôi. Đây, anh quấn tạm cái khăn này vào, rồi ngồi lên ghế” (Lê Anh Hoài, 2022, tr.115). Trong khi đó, Kiên đáp lại chỉ bằng hành động gật đầu, cười, răm rắp làm theo hoặc những câu thoại ngắn: “Ừm. Ngon. Ngon mà” (Lê Anh Hoài, 2022, tr. 105). Đôi khi ta phải thông qua lời thoại của người vợ mới đoán được hành động của Kiên, xác định anh thực sự có tham gia trong cuộc giao tiếp: “Ừm ừm mãi, thôi anh uống đi, rồi làm gì thì làm” (Lê Anh Hoài, 2022, tr.106). Qua đây, hình ảnh của một người đàn ông giỏi toán nhưng đời sống tinh thần, tình yêu, tình cảm gia đình lại có vấn đề. Anh dường như chỉ là một khối robot không có tiếng nói, thiếu cảm xúc. Xây dựng những đối thoại thiếu luân phiên lượt lời, phải chăng Lê Anh Hoài muốn người đọc cảm nhận được tình trạng cô đơn, thiếu thấu hiểu, giao cảm của con người trong xã hội đương đại.
Một hình thức đối thoại đặc biệt xuất hiện trong truyện ngắn Bộ râu là “giả đối thoại”, “độc thoại trong đối thoại”. Nhà văn cho nhân vật của mình một sự ảo tưởng rằng có một nhân vật khác đang trò chuyện với mình. Nhưng hóa ra nhân vật tự quy định người đối diện mình là phóng viên và nhận lời phỏng vấn: “Này, cậu là phóng viên chụp ảnh… Cậu đã nhận lời ngồi lại chuyện phiếm với tôi thì cứ dông dài một tí nhé” (Lê Anh Hoài, 2010, tr.52). Như vậy, tác phẩm chỉ có một người duy nhất đang nói và chính người này đang kiến tạo câu chuyện. Hắn say sưa kể câu chuyện về nghề nghiệp của bản thân, quá trình làm nghề, sự thành công gắn với bộ râu của hắn. Nhân vật này còn thường xuyên dẫn dắt, thao túng tâm lí người đối diện bằng cách chêm vào những lời thoại: “Nhưng thôi, tôi sẽ nói ngay vào chuyện chính”; “Trở lại chuyện chính nhé anh bạn trẻ…”; “Tôi sẽ không đi sâu thêm vào các chi tiết, cậu nhỉ” (Lê Anh Hoài, 2010, tr.53, 56, 62). Như vậy, người nói duy nhất trong tác phẩm, tự hình dung có người đối thoại, tự dẫn dắt câu chuyện, để câu chuyện được tiếp diễn và người đọc có thể tiếp tục theo dõi câu chuyện nhưng cuối
cùng hắn lại kể các sự kiện không liên quan với nhau. Hắn khiến ta vân vân không biết đâu là câu chuyện chính, đâu là câu chuyện phụ, đâu là chủ đề mà hắn muốn nói: “Tôi có vẻ lạc đề rồi nhỉ, thật ra cũng chưa lạc đâu, nhưng thôi cũng chẳng cần nói nhiều về chuyện này…” (Lê Anh Hoài, 2010, tr.53). Tất cả khiến cho người tham gia theo dõi cuộc đối thoại cảm thấy chưng hửng, bối rối. Xuyên suốt tác phẩm, cả nhân dạng và ngôn ngữ của nhân vật phóng viên bị triệt tiêu hoàn toàn.
Tác giả đánh lừa người đọc rằng hai nhân vật này vẫn có sự tương tác: “Tôi bận rối rít. Cậu bảo nhiều lần thấy tôi ở quán nhạc sĩ chơi cả buổi! Không đấy là làm việc”; “Chính vì thế, nếu tôi cạo râu đi thì cái gì sẽ xảy ra? Ô, cậu ngạc nhiên. Và hơn thế. Cậu hoảng hốt. Buồn cười thật, cậu đừng giận nhé, để tôi cười một chút”
(Lê Anh Hoài, 2010, tr.53, 54); “Tôi nói đến đâu rồi nhỉ? À, như vậy lúc đó tôi đang phải làm… Việc này rất mệt. Cậu nói vậy là vì cậu chưa hiểu”; “Cậu hỏi vì sao tôi để râu? Chà, một câu hỏi rất phóng viên” (Lê Anh Hoài, 2010, tr.55, 56)…
Điều này tạo ra sự giả định rằng có cuộc giao tiếp tồn tại. Nhưng thực chất chỉ là giả đối thoại, cuộc đối thoại được dựng lên để cho nhân vật người nghệ sĩ tự trình bày câu chuyện, suy nghĩ, tâm tư, tình cảm, cảm xúc của mình mà không nhất thiết có sự hưởng ứng, tham gia từ phía khác. Hay nói cách khác, anh ta đang mượn hình thức đối thoại để độc thoại, độc thoại trong đối thoại. Cũng có thể, nhân vật đang cô đơn, bế tắc muốn tìm kiếm một người để giải tỏa những tâm tư, tình cảm về chuyện nghề. Hoặc nhân vật phóng viên này chỉ là nhân vật “mẫu”, tức là mỗi người đọc chính là người phóng viên mà tác giả tự lên “luật”, quy định cảm xúc ở mỗi chi tiết câu chuyện. Như vậy, Lê Anh Hoài đã để nhân vật người nghệ sĩ tạo trò chơi cho mình khi dựng lên một cuộc đối thoại giả định để tự bộc lộ câu chuyện của mình;
đến lượt mình tác phẩm Bộ râu với câu chuyện trên là một cuộc chơi của chính tác giả cùng độc giả. Bản chất trò chơi là không tĩnh, không cố định, do vậy, ý nghĩa của câu chuyện độc thoại trong đối thoại, trò chơi trong cuộc chơi này luôn được khơi mở, trượt theo người tiếp nhận.
Với tiểu thuyết Chuyện tình mùa tạp kỹ, ngôn ngữ đối thoại cũng được thể hiện theo cách đặc biệt. Ở thể loại kịch vì không có lời trần thuật của tác giả, nhân vật được thể hiện phần lớn thông qua đối thoại, tuy nhiên các đoạn đối thoại trong