Tăng chất giọng vô âm sắc

Một phần của tài liệu Văn xuôi Lê Anh Hoài nhìn từ lí thuyết trò chơi (Trang 122 - 126)

CHƯƠNG 2. TÍNH CHẤT TRÒ CHƠI TRONG VĂN XUÔI LÊ ANH HOÀI NHÌN TỪ THỂ LOẠI, KẾT CẤU, NHÂN VẬT

3.2. Tính chất trò chơi qua giọng điệu trần thuật

3.2.2. Tăng chất giọng vô âm sắc

Giọng điệu vô âm sắc có lẽ là đặc trưng rất riêng của văn xuôi đương đại Việt Nam. Đây là giọng điệu thể hiện thái độ lạnh lùng, dửng dưng khi người kể hoàn toàn đứng bên ngoài không can dự vào câu chuyện. Nó tẩy trắng thái độ, tình cảm của người kể, nhà văn để mặc cho các nhân vật, sự kiện, hiện tượng tự nói lên ý nghĩa của chúng. Do đó, người đọc phải tự mình đoán được thái độ, tình cảm, chính kiến của người trần thuật. Nếu giọng điệu trào tiếu thể hiện xu hướng vui nhộn hài hước của trò chơi thì giọng điệu vô âm sắc sẽ tạo dựng nên cuộc chơi tư duy đoán tìm.

Ta dễ dàng lời tìm thấy những lời văn trần thuật trong văn xuôi Lê Anh Hoài như một bản tin, tờ báo mang tính chất thông báo, đưa lại thông tin, sự kiện với cái nhìn khách quan, lạnh lùng. Nếu các chi tiết ban đầu trong truyện ngắn Công ty Khai thác và Phát triển ngôn ngữ có pha giọng điệu cười cợt thì đến chi tiết cái chết của Mr. T, người kể chuyện lại lạnh lùng, không cảm xúc: “…Mr. T đã qua đời! Và không phải ông vừa trút hơi thở cuối cùng mà đã từ trần cách đây hai năm. Đây là một vụ gian lận hy hữu nhằm trục lợi. Trên màn hình, cảnh sát quốc gia dẫn Viện

trưởng K đi ra từ một cuộc họp ở Viện trí Tuệ. Cô N bị khóa bằng còng số tám …”

(Lê Anh Hoài, 2014, tr.75); hoặc: “Mr. T bị giết bằng cách thít cổ. Viện trưởng K và cô N vẫn một mực từ chối quyền giết người” (Lê Anh Hoài, 2014, tr. 75). Thoạt đầu, ta có thể lầm tưởng rằng đây là câu cảm thán biểu bộc lộ cảm xúc ngạc nhiên, bất ngờ. Nhưng rõ ràng, các câu văn trên hầu như chỉ mang tính chất thông báo như bản tin về cái chết của một người cho đại chúng. Cái chết mà được thuật lại một cách tỉnh bơ, nhẹ nhàng, coi như không. Con người trong xã hội đương đại được Lê Anh Hoài dựng lên trong tác phẩm chỉ quan tâm đến lợi ích, hời hợt với mạng sống.

Việc tạo ra nhiều khoảng trắng trong giọng điệu còn làm độc giả cảm thấy bối rối. Trong truyện ngắn Bầy mắt, những lần nhân vật V mơ đều gây cho ta sự bối rối về đan cài rối rắm lời thoại hoặc sự kiện mà không có sự phân tách. Người kể chuyện đã lược bỏ hết thái độ của cô trong giấc mơ, chỉ đơn thuần là kể lại sự kiện:

“Trên đó, V đang khỏa thân nằm ngủ trong một tư thế tuyệt đẹp, đầy gợi cảm không chút vật dục. Chỉ một lần, vẫn đang bay lượn, V nhìn thấy H xuất hiện ở bên dưới.

Điểm nhìn thay đổi tức thì, giờ của V bên dưới” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.40). Hoặc:

“Đêm hôm đó, V mơ cô đi một trại ở một khu rừng heo hút. Xung quanh cô, các nhà thơ từ già đến trẻ khóc như ri vì chẳng có gì ăn… Cuối cùng khuôn mặt H bỗng hiện ra tít trên trời cao, anh thò hai ngón tay vĩ đại nhấc bổng V lên.” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.40). Nhà văn thể hiện giấc mơ của nhân vật V với giọng điệu khách quan, không bộc lộ cảm xúc với các câu tường thuật thông tin, sự kiện hiện ra trong giấc mơ, còn giấc mơ đó như thế nào, bộc lộ điều gì, có ý nghĩa gì, tác giả để cho độc giả tự nhận xét, phân tích. Thông thường, mơ là trạng thái giúp bộc lộ thế giới nội tâm của nhân vật qua các sự kiện, hành động trong mơ. Đây là lúc người ta giải tỏa những ẩn ức trong tâm lí. Giấc mơ của V chỉ bỏ ngỏ, để trắng về thái độ của cô nàng. Vì thế, độc giả tự giải mã cảm xúc mới có thể đào sâu vào đời sống tinh thần, nỗi sợ hãi của V. Nhân vật V tiếp tục mơ có một nhà văn quyến rũ em gái cô: “Cô tuyệt vọng van xin em đừng dại dột, cùng với sự phẫn uất điên dại, nhưng con bé chỉ ngước đôi mắt trong veo lên trời lúc đó trong xanh vô định, thản nhiên: “Tình yêu mà, chị không hiểu tình yêu là gì sao?” V lấy hết sức bình sinh chồm lên túm cổ gã nhà văn, nhưng gã uốn người nhanh như rắn. Rồi biến mất”. Ở đây, nhà văn sử

dụng câu dài, xen kẽ từ, ngữ tạo sự kích thích cho câu chuyện như: “phẫn uất”,

“điên dại”, “chồm lên”, “túm cổ” tưởng rằng sẽ có tình huống căng thẳng nhưng tác giả hầu hết bỏ ngỏ. Người kể cố giữ thái độ “miễn bình luận” đối với tất cả sự kiện để cho độc giả tự phán xét.

Để thể hiện thái độ khách quan, đứng ngoài sự việc, giọng điệu vô âm sắc còn được thể hiện qua cách nhà văn giảm lược các thành phần câu, câu chỉ đưa đến thông tin nồng cốt. Trong Giai thoại khi kể đoạn người đi xem tranh, người kể không đặt nặng vào cảm xúc: “Khó mà phân biệt được thực khách bình thường đến ăn ở quán với những người khách mời đến xem triển lãm của gã. Điểm chung, họ đều đang quây kín tác phẩm. Đôi tình nhân len lách mãi mới đến gần được để xem.

Đó là một mâm cỗ thoáng trông rất truyền thống với các món luộc, xào, ninh, giò chả, rau… Dĩ nhiên không thể thiếu đặc sản của quán là lòng lợn tiết canh” (Lê Anh Hoài, 2022, tr.33). Các câu văn không nhanh, không chậm, phô ra được hành động mà che giấu cảm xúc của nhân vật, không mô tả cảm xúc thường thấy của những người đi xem tranh như phấn khích, ngạc nhiên, suy tư… Tất cả các sự kiện tình huống đều được mô tả một cách bình thường, trung lập, sắc thái biểu cảm bị hạn chế tối đa gần như là “tẩy trắng”. Giọng lạnh lùng, khách quan nhưng để lại cảm xúc buồn, xót xa cho độc giả sau khi đọc và suy ngẫm. Người kể chuyện dường như giữ một thái độ khách quan, không can thiệp vào câu chuyện mục đích để người đọc tự mình cảm nhận bản chất của sự việc.

Tác giả dùng giọng vô âm sắc như một cách thức để đánh lừa độc giả. Đôi khi giọng điệu của người kể dửng dưng, lạnh lùng, nhưng người đọc có thể phân tích, tìm thấy thái độ, tình cảm ẩn giấu đằng sau đó; hoặc tưởng chừng người kể đang bộc lộ cảm xúc nhưng độc giả chỉ tìm thấy các thông tin, sự kiện còn thái độ, tình cảm, chính kiến của người trần thuật vẫn không đoán định được. Trong tác phẩm Độ loang của từ, có đoạn nhân vật như đang bộc lộ cảm xúc nhưng cuối cùng cũng chỉ là câu hỏi không ai trả lời. Tâm trạng nhân vật bác sĩ bị nhà văn chơi bỏ trống: “Nhìn ra cửa sổ, những ánh đèn xe nhoang nhoáng lóe rồi tắt… Nhưng lúc này tôi cảm nhận được thứ âm thanh được khuếch đại bằng sự cách âm… Tôi cảm thấy rã rời. Bỗng nhiên tôi nhớ đến nụ cười của thầy. Tối nhớ đến sự lặng im của

H. Có vẻ anh ta đang âm thầm đóng góp cho một thế giới sạch sẽ về âm thanh.

Nhưng trong lúc rất ít âm thanh phát ra từ H, liệu thế giới bên trong của anh ta có tĩnh lặng như vẻ bề ngoài?” (Lê Anh Hoài, 2022, tr. 132). Nhà văn dẫn ra các sự kiện tình tiết để nhân vật chuẩn bị bộc lộ cảm xúc, kết nối với độc giả nhưng cuối cùng lại kết thúc bằng câu hỏi không hồi đáp. Câu văn làm hoang mang, ẩn giấu lại tâm trạng nhân vật để người đọc tự đoán định điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Trong Chuyện tình mùa đông hay Anh không thể xa em, ngay cả chính người trong cuộc là nhân vật cũng không hiểu thái độ của chính mình mà tác giả cũng chẳng giải đáp:

“Sao lúc đó thái độ của anh lại thờ ơ? Sau cuộc gặp với trưởng phòng Ái Ái, vài lần Ái Ái hỏi Bồ Bồ một cách riết róng. Tại sao khi nói chuyện chồng con của Ái Ái mà Bồ Bồ lại thờ ơ?” (Lê Anh Hoài, 2022, tr. 132). Người đọc tự tìm câu trả lời lấy vậy! Tác giả không áp đặt những suy nghĩ chủ quan của mình lên bạn đọc mà để bạn đọc tự phán xét và tìm câu trả lời thích đáng, phù hợp.

Sử dụng giọng điệu vô âm sắc, người kể chuyện xưng “tôi” kể câu chuyện của tác phẩm với thái độ thờ ơ, lạnh lùng, che giấu cảm xúc của bản thân và chỉ đơn thuần kể lại sự kiện, sự việc. Đoạn kết thúc và mở đầu tác phẩm đều được thể hiện với giọng đều đều, vô cảm, không bộc lộ cảm xúc. Giọng điệu vô âm sắc đã làm cho ý nghĩa văn bản giờ đây phụ thuộc vào sự tiếp nhận của bạn đọc. Trong truyện ngắn Cái bớt xấu xí, giọng văn mở đầu giới thiệu khuyết điểm của nhân vật N cứ đều đều: “Nó một cái bớt trên lưng, trên đường vĩ tuyết được tạo thành bởi vòng đo số 2 và đường kinh tuyến cách sống lưng chừng 1 cm phía phải.” (Lê Anh Hoài, 2022, tr.7). Đến khi kết thúc tác phẩm, người chồng nghe lời tâm sự, trăn trối của vợ cũng không có cảm xúc, khi người vợ chết, sự việc cũng được thuật lại bằng trạng thái không vui, không buồn, chỉ đơn giản là: “Mấy hôm sau, N qua đời” (Lê Anh Hoài, 2022, tr.11). Ở tác phẩm Trinh nữ ma-nơ-canh, đoạn mở đầu được kể với giọng tường thuật khách quan: “Trời mưa, ngã năm nhòe nhoẹt những bóng xe cộ vù vù lướt. Qua màn mưa, ít để ý đám ma-nơ-canh trần truồng đang tán ngẫu trong một cửa nhà hàng bán ma-nơ-canh” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.107). Câu văn chỉ đơn giản thuật lại, giới thiệu bối cảnh, không gian truyện. Đến khi kết thúc tác phẩm, tác giả vẫn giữ một giọng khách quan, trung tính, không có nhận xét, phân

tích hay bộc lộ cảm xúc với các chi tiết, sự việc: “Giọng nó vang rền giữa thế giới người nhựa. Cùng lúc, trong thế giới con người, một tiếng sấm vang động… khối ấy, nhác trông một thân hình đàn bà đang ôm siết lấy một thân hình đàn ông không đầu, không chân tay nhưng lại có cái ấy. To phá tỷ lệ” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.125).

Tác giả chỉ đơn thuần theo lối kể lược thuật, mô tả lại không gian sự kiện, không đi sâu vào mô tả suy nghĩ của nhân vật. Suốt chiều dài câu chuyện, cả thế giới người nhựa và thế giới con người dường như đều vô cảm với đồng loại. Chúng chỉ chìm đắm trong ham muốn và dục vọng mà quên đi mọi thứ tồn tại xung quanh.

Có thể thấy, mặc dù giọng điệu vô âm sắc trong văn xuôi Lê Anh Hoài không nổi trội, phổ biến như giọng trào tiếu nhưng nó là một yếu tố tạo nên cuộc chơi ngôn từ của ông. Những nội dung được chuyển tải với giọng điệu vô âm sắc luôn kích thích, thôi thúc độc giả liên tưởng, suy ngẫm, phân tích, tự nhận xét, tự đánh giá để tìm ra thái độ, tình cảm, những ý nghĩa, thông điệp còn ẩn giấu của tác phẩm. Sắc thái giọng điệu này cũng góp phần tạo nên sự mới mẻ, đặc sắc cho văn xuôi của Lê Anh Hoài

Một phần của tài liệu Văn xuôi Lê Anh Hoài nhìn từ lí thuyết trò chơi (Trang 122 - 126)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(150 trang)