CHƯƠNG 2. TÍNH CHẤT TRÒ CHƠI TRONG VĂN XUÔI LÊ ANH HOÀI NHÌN TỪ THỂ LOẠI, KẾT CẤU, NHÂN VẬT
3.3. Tính chất trò chơi qua một số thủ pháp nghệ thuật
3.3.1. Tính chất trò chơi qua thủ pháp nhại
Ngoài các phương diện nghệ thuật nổi bật như thể loại, kết cấu, ngôn ngữ, nhân vật, Lê Anh Hoài còn sử dụng một số thủ pháp nhằm tăng hiệu quả của tính chất trò chơi trong tác phẩm. Có thể kể đến như: thủ pháp nhại, gây nhiễu, hình thức trình diễn văn bản và mặt nạ giả trang…
Thủ pháp nhại có thể xem là một hình thức đặc biệt của thế giới chơi, trò chơi, tuy nhiên, không phải lúc nào cũng dễ áp dụng. Bởi lẽ, người chơi cần có một vốn kiến thức nhất định để nhận biết được văn bản gốc, câu gốc, ý nghĩa gốc mà kiến tạo nên sắc thái ý nghĩa mới. Chính vì thế, nó mang tính đa chiều và đòi hỏi cao trong sáng tạo, tổ chức và tham gia chơi. Ngoài ra, hình thức này còn mang lại chất hài hước nhất định, tạo tiếng cười thông minh, sắc sảo trong nhận thức về hiện thực. Thủ pháp nhại được sử dụng khá phổ biến trong văn học đương đại Việt Nam, nhất là ở lĩnh vực văn xuôi. Hòa cùng nhiều cây bút văn xuôi khác, Lê Anh Hoài
cũng tìm đến thủ pháp này như một cách sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt là được chơi nghệ thuật nhằm khai phá nhiều giá trị văn chương.
Đối với Lê Anh Hoài, đối tượng nhại trước tiên có lẽ là sự đổ vỡ về giá trị của nghề cầm bút, nghề sáng tạo nghệ thuật. Một trong những cây bút viết về đề tài người trí thức khá thành công là nhà văn Nam Cao với loạt tác phẩm như Trăng Sáng, Đời thừa, Sống mòn, Những truyện không muốn viết, Nước mắt… Với bút pháp hiện thực và cái nhìn phê phán xã hội, Nam Cao tập trung thể hiện mâu thuẫn giữa cái đời thường và sáng tạo nghệ thuật. Họ rơi vào bi kịch cơm – áo – gạo – tiền giằng níu những ước mơ, lý tưởng say mê nghệ thuật. Với Lê Anh Hoài, ông cũng tập trung vào hình tượng người nghệ sĩ với những khát khao cống hiến cho nghệ thuật nhưng thể hiện với một góc nhìn khác, đặc biệt là với thủ pháp giễu nhại.
Người nghệ sĩ của Lê Anh Hoài tuy đã có cuộc sống đủ đầy, không còn lo nhiều về miếng ăn, cái mặc nhưng xã hội “hậu hiện đại” lại khiến họ bước vào cảnh bí bách về tinh thần trên con đường thực hiện lí tưởng sáng tạo. Những nhà văn chật vật trong việc tìm cách viết bài, đăng bài để đến được với công chúng, tìm cho mình một “chỗ đứng” trong thị trường văn chương. Trên con đường đi ấy, chàng nhà văn trẻ trong Cuộc đời khốn nạn của một bản thảo không ít lần gặp những trò lố bịch, nhố nhăng của đám người được xem là có chức có quyền. Đối với vị tổng biên tập
“…ẩn ý bên trong một truyện ngắn hay một bài thơ có thể giết chúng ta! Chúng ta – tôi và ông – có thể chết vì một lần ẩn dụ suy diễn. Rồi mất chức! Rồi tù mọt gông!”
(Lê Anh Hoài, 2014, tr.141). Lê Anh Hoài còn lặp đi lặp lại “rồi mất chức! rồi tù mọt gông!” như một sự nhấn mạnh cái đáng cười của lối suy diễn nghệ thuật. Trên tinh thần giễu nhại, nhà văn đã đề cập đến một cơ chế biên tập, xét duyệt vẫn còn cứng nhắc trong thời đại đã rất tự do, dân chủ, cởi mở. Lí tưởng của họ không chỉ một lần nữa mắc kẹt trong nỗi cơm – áo – gạo – tiền mà còn là không tìm mục đích của việc sáng tạo nghệ thuật trong xã hội. Nhân vật “tôi” trong Nỗi sợ dần bị mất phương hướng trong lúc tìm mục đích, định hướng sáng tác. Sáng tác giờ đây lại gắn liền thương trường, chạy theo cái gọi là nghệ thuật “nịnh mắt”: “Tất cả những oang oang hoa mỹ, lươn lẹo, bịa tạc ấy, sau này, vào lúc tình hình kinh tế xuống dốc, nó lại được chính các nhà buôn tranh sử dụng… bởi khi thị trường tranh đang
lên, không hề thấy các phát ngôn, nhận định khuynh hướng, phê bình vị lai gì hết”
(Lê Anh Hoài, 2022, tr.21). Trong thời đại kinh tế phát triển, bùng nổ công nghệ thông tin, cả người nghệ sĩ lẫn khán giả đều dần quên trau dồi cảm xúc cho bản thân. Cảm xúc của họ trở nên cằn cỗi, khô khốc, bộc lộ trạng thái theo kiểu hội đoàn. Một thế hệ trơ lì cảm xúc. Tiếp tục mạch giễu nhại, truyện ngắn Bộ râu đề cập đến một khía cạnh khác về giới văn nghệ sĩ: hành trình sáng tạo, sự nghiệp, thành công, thất bại… Vị nghệ sĩ kể lại hành trình thành công của mình gắn với bộ râu với đúc kết hài hước: để râu - công việc thuận lợi, cạo râu - công việc trắc trở.
Chính vì thế mà anh ta chăm chút cho bộ râu mình nhiều hơn: “Từ đó cho đến nay, tôi không dám cạo râu nữa. Niềm tự tin vào bản thân của tôi cũng sụp đổ kể từ hôm đó. Và, cậu biết không, tôi còn bắt đầu chăm sóc bộ râu, tôi chải nó, và tỉa nó mỗi ngày” (Lê Anh Hoài, 2010, tr. 63). Sự lên xuống trong sự nghiệp nghệ thuật của con người đi liền với việc cạo râu. Có thể nhân vật đã rơi vào nhiều trạng huống mất niềm tin để rồi ngẫu nhiên tin vào bộ râu. Nhà văn nhại lời nhân vật để gợi những suy nghĩ về thành bại của người nghệ sĩ.
Ngoài đối tượng người trí thức, người nghệ sĩ và những vấn đề về văn chương, nghệ thuật, Lê Anh Hoài còn nhại các vấn đề xã hội, tổ chức xã hội, tình yêu, đạo đức… Tác phẩm Chuyện tình mùa đông hay Anh không thể xa em kể về mối quan hệ tình yêu một cách đùa nghịch, qua đó tác giả giễu nhại nhiều vấn đề về văn hóa, đạo đức xã hội, gia đình, tình yêu... đặc biệt, đó còn là hình thức giễu nhại gián tiếp thông qua tác phẩm văn học. Đoạn đám tang của bố Ái Ái là sự nhại lại
“đám tang gương mẫu” trong tiểu thuyết Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng. Nhại từ hình ảnh, chi tiết của đám tang, nhất là hành động của người nhà và đám đông dự lễ.
Kiểu cách ăn mặc và hành động của Ái Ái gần giống cô Tuyết trong Số Đỏ chỉ có điều, Ái Ái lúc này không mang vẻ buồn lãng mạn mà thôi: “Ái Ái không mặc quần áo sẫm màu mà mặc bộ váy áo màu nâu sữa sáng (thực ra rất khó tả màu này…
Mảnh băng đen dán trên ngực áo duyên dáng rung rinh theo bước đi” (Lê Anh Hoài, 2014, tr. 161). Giống như Tuyết, mặt Ái Ái trong đám tang bố mình không thấy trạng thái nên có của người trong lúc “tang gia” mà chỉ thấy sự phô ra cái vẻ
“con gái” của mình. Nhại nhân vật Tuyết trong tác phẩm Số đỏ, tác giả cho thấy
hình ảnh những cô gái như Ái Ái cũng không hiếm trong xã hội hiện nay, ông phê phán sự phô trương cái tôi, hồn nhiên đến vô tâm của họ. Đám tang cũng có đủ hạng người như Số đỏ, từ các cụ cựu chiến binh: “Các cụ cựu chiến binh bạn chiến đấu của người đã khuất với quân phục chật ních đeo đầy huân chương” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.161); đến bạn bè của người nhà: “Bạn thơ của Ái Ái cũng đông có hai loại: một, ăn mặt, son phấn rất chuyên nghiệp; hai, để mặt mộc, mặc đồ lộ cổ không giống ai… còn có những chàng thi sĩ… bạn cơ quan của Ái Ái… trưởng phòng…” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.162). Nhà văn nhại cảnh nhố nhăng của người đi viếng và đi đưa tang. Thay vì chỉ đơn thuần đưa ra việc họ cười tình, liếc mắt nhau, chim nhau, bình phẩm nhau như trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng thì Lê Anh Hoài đưa ra các câu chuyện cụ thể hơn. Bao gồm năm câu chuyện được ông đánh số, mỗi câu chuyện càng làm tăng tính kệch cỡm về đạo đức trong xã hội “mất tình”. Đó là những lời thảo luận, bàn tán chuyện của người khác như: chàng và nàng hẹn hò yêu đương, vợ chồng nhà kia mâu thuẫn vì chênh lệch bằng cấp, chuyện tình cảm sau li hôn, chuyện li hôn của Q, chuyện vợ con của lão nhà thơ. Không mang không khí linh đình như “đám tang gương mẫu” nhưng vẫn mang sự thờ ơ, vô cảm của con người trước nỗi đau mất đi người thân, người bạn: “Tiếng nhạc rề rề trầm buồn, tiếng nói của người chủ lễ chuyên nghiệp não nề. Mọi người xếp hàng đi qua linh cửu” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.162). Không đến mức người chết phải bật nắp quan tài cười sung sướng nhưng “mặt người chết héo quắt nhưng son phấn khiến nó tươi lên, cái tươi của người nhựa” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.162), vẫn thấy được giọng điệu giễu nhại trong đám tang, giễu nhại sự phô trương hình thức, sự chuyên nghiệp đến công thức, “giả giả” mà thiếu cái chân thật, ấm áp của tình người. Ngay chính tác giả cũng nhận ra rằng: “Cuộc sống hiện nay, người ta ít nghĩ đến cái chết dù có nhiều lên vẫn đón nhận và vẫn giả giả, cả đám tang dường như đang tồn tại trong một phóng sự truyền hình” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.162). Nếu trong Số đỏ Vũ Trọng Phụng khai thác cái xã hội thượng lưu, văn hóa rởm thì Lê Anh Hoài tập trung châm biếm, đả kích mạnh vào tầng lớp trí thức. Có thể nói, thông qua mô phỏng, nhại tiểu thuyết Số đỏ, Lê Anh Hoài giễu nhại nhiều vấn đề về văn hóa, đạo đức xã hội, gia đình... Phải chăng nhà văn muốn đưa đến độc giả thông điệp: đâu chỉ có ở
thời Vũ Trọng Phụng, thời nay cũng tồn tại quá nhiều vấn đề đảo lộn, nực cười về văn hóa, xã hội, các giá trị đạo đức, tình người…
Không chỉ thể hiện rõ tư tưởng, thái độ đối với các vấn đề văn chương, nghệ thuật, xã hội trên tinh thần giễu nhại, hình thức, cách viết của Lê Anh Hoài cũng thể hiện rõ nghệ thuật nhại. Một trong những biểu hiện rõ thủ pháp nhại trong văn xuôi Lê Anh Hoài nằm ở cách đặt tiêu đề. Trong một số tác phẩm, chính nhà văn đã thừa nhận việc lấy cảm hứng từ tên phim truyền hình hoặc tên của tác phẩm văn học khác đặt tên cho tác phẩm của mình. Chẳng hạn truyện ngắn Cuộc đời khốn nạn của một bản thảo ở cuối tác phẩm ông đã chú thích rằng: “Tôi phải nghĩ rất lâu trước cái tên truyện này… Dù nó có hơi gợi lên âm hưởng cái tên tiểu thuyết Những người khốn khổ (hay Những kẻ khốn nạn) của Victor Hugo, thậm chí nó còn khiến liên tưởng đến tên tờ báo Nguyễn Ái Quốc đã làm ở Paris (Người cùng khổ). Trước đó, tôi đã viết ra cái tên Những truân chuyên của một bản thảo (âm hưởng Đời cô Lựu); Tự sự của một bản thảo (âm hưởng Ký sự về một cái chết đã được báo trước – G. G. Marquez)” (Lê Anh Hoài, 2014, tr.144). Mỗi tác phẩm mà Lê Anh Hoài liệt kê trên mang một màu sắc riêng: lãng mạn, lòng vị tha, yêu nước, bi kịch… Ta không biết lời chú thích mang hướng giãi bày này có bao nhiêu “sự thật”, tuy nhiên nó cho thấy tinh thần tự giễu về việc đặt tên cho tác phẩm của mình, tưởng chừng chỉ là “học lỏm” nhan đề tác phẩm của người khác nhưng đó lại là sự cố ý. Việc chú thích của tác giả cũng khơi gợi những cách đọc tác phẩm xuất phát từ nhan đề của nó, ngầm đối sánh tác phẩm “nhỏ bé” của mình với những tác phẩm “kinh điển” đã nêu, để thấy cái “khốn nạn” mà nhà văn đặt ra thật khác với những vấn đề xã hội lớn lao mà các cây bút nổi tiếng đã chuyển tải. Công khai sự thật, tự giễu để ngầm đối sánh cũng là khơi gợi việc đi tìm và khẳng định nét riêng cho tác phẩm của mình, đó là cách thức giễu nhại của nhà văn.
Nhan đề truyện ngắn Chuyện tình mùa đông hay Anh không thể xa em cũng được đặt theo phong cách Hàn Quốc. Tưởng là lãng mạn như phim nhưng chỉ thấy cái tình yêu đàn ông đàn bà khuôn mẫu trước kia bị phá vỡ. Mối quan hệ của Bồ Bồ, Ái Ái chẳng phải là chuyện tình đẹp như “Kim- sâu – răng” trong “Hai anh em nhà tỷ phú và cô thư ký” hay như nhân vật nữ bị ung thư, vượt lên khó khăn rồi yêu
chủ tư bản trong phim Chuyện tình mùa thu. Nhắc tới các bộ phim Hàn Quốc ta thường nghĩ ngay đến sự cao đẹp trong tình yêu. Tác phẩm của Lê Anh Hoài lại đưa sự cao đẹp đó xuống vị trí thứ yếu và gần như tiêu biến, cho thấy sự sụp đổ hoàn toàn quan niệm về tình yêu truyền thống “chết trong lòng một ít”. Ở đây, nó chỉ còn là tình yêu gắn liền với tình dục như: “Yêu với chả đương, một tình yêu mà không làm tình thì tình yêu đó là tình yêu tôn giáo, tình yêu giai cấp, tình yêu quê hương đất nước mà thôi. Thế nên mày cứ điên điên khùng khùng” (Lê Anh Hoài, 2010, tr.110). Mượn phát ngôn của nhân vật, nhà văn như tung hê, phủ quyết thứ “tình yêu tôn giáo”, “tình yêu giai cấp”, chế giễu những kẻ “điên điên khùng khùng”
cũng như quan niệm tình yêu thanh cao trong sáng một thời… Chẳng được thể hiện lớp lang, trau chuốt, cao siêu mà bằng cách nhại nhan đề và tình yêu lãng mạn trong phim Hàn Quốc, Lê Anh Hoài hoàn toàn phá vỡ tính lãng mạn mà nghiêm túc vốn có của chuyện tình yêu, định vị lại nhân vật trí thức cũng như cách nhìn về vấn đề tình dục và tình yêu.
Ngoài ra, ở tiểu thuyết Chuyện tình mùa tạp kỹ, Lê Anh Hoài nhại cách mở đầu, cốt truyện của những câu chuyện cổ tích dân gian. Cách mở đầu câu chuyện tiếu lâm mà Hà kể cho Trình mang vóc dáng của truyện cổ tích: “Ở một căn nhà nhỏ ven rừng, có hai vợ chồng trẻ nọ” (Lê Anh Hoài, 2007, tr.6). Cách mở đầu trong truyện cổ tích thông thường sẽ không nói rõ không gian, thời gian, nhân vật như: “Ngày xửa, ngày xưa, ở một người làng nọ, có một cô gái/ chàng trai”. Cách mở đầu như thế tạo ra một thế giới xa xôi, mờ ảo, mang tính chất phiếm chỉ. Tiếp nữa, có thể thấy nội dung câu chuyện mà Hà kể có kết cấu gần giống truyện cổ tích khi nhân vật gặp thế lực cản trở. Đôi vợ chồng đó bị cha mẹ ngăn cấm, cô vợ bị hiếp. Cứ tưởng sẽ có kết đẹp như mơ của nhân vật cổ tích sau những khó khăn, ngược lại câu chuyện của Hà lại có kết quả lại bẽ bàng: “Chàng: tôi tởm cái mặt cô.
Nàng khóc rưng rức. Chàng bỏ đi, không cầm theo cả cái áo may ô rách. Nàng:
Anh, sao anh nỡ bỏ em. Chàng: Sao lúc ấy, cô vẫn cứ rướn lên” (Lê Anh Hoài, 2007, tr.6). Mở đầu với hình thức thức tương tự truyện cổ tích, nhưng không đưa đến một cái kết có hậu. Điều này tạo bất ngờ cho độc giả và bộc lộ tinh thần giễu nhại của tác giả. Lấy chuyện ngày xửa ngày xưa để nói chuyện ngày nay; việc nhấn
mạnh tình dục lấn át cả tình yêu, niềm tin về tình yêu bị đổ vỡ hoàn toàn làm cho câu chuyện chưa kịp ngấm cảm xúc buồn đã làm bật lên tiếng cười phê phán. Nội dung câu chuyện cổ tích Ba cô con gái cũng được Lê Anh Hoài phỏng nhại trong tiểu thuyết. Cốt truyện vẫn là cha mẹ nuôi ba cô con gái đẹp, nết na rồi cả ba đi lấy chồng, nhưng câu chuyện của Lê Anh Hoài khác một điều là không phải thử lòng hiếu thảo. Ở đây, cha mẹ lại trông mong tin tức của ba cô con gái về chuyện vợ chồng. Trước khi cưới họ còn phải dặn: “Hãy viết thư về cho bố mẹ, nhưng đừng làm chồng con tò mò. Hãy viết một chữ mật mã nào đó và gửi về cho bố mẹ tả về kinh nghiệm của con” (Lê Anh Hoài, 2007, tr.30). Cười cợt, giễu nhại, đùa nghịch có lẽ là cái nổi bật ở câu chuyện này. Cả màn đối đáp theo lối ca dao của chàng thanh niên với cụ hàng nước cũng tạo giọng điệu hài hước, giễu nhại. Bà cụ:
“…Trâu ta ăn cỏ đồng ta, rét thế này về ôm vợ có sướng hơn không”; Hà đáp lại:
“Trâu ta ăn cỏ đồng ta, đồng ta hết cỏ ăn ra đồng ngoài”. (Lê Anh Hoài, 2010, tr.28). Buồn cười là không còn đôi trai gái tuổi xuân thì đối đáp, tán tỉnh mà là cuộc đối đáp ngẫu nhiên của một bà cụ và chàng trai trẻ.
Nhìn chung, nhại là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo, không hề rập khuôn hay bắt chước một cách máy móc. Nó giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa của tác phẩm văn chương khi tiếp nhận, mô phỏng, phát triển các vấn đề trong đời sống xã hội, nghệ thuật. Thủ pháp nhại được sử dụng trong văn xuôi Lê anh Hoài đã đem lại cảm giác mới rồi cũ, quen mà lạ cho người đọc trong tiếp nhận tác phẩm văn chương của ông. Nó phù hợp với tư duy trò chơi trong sáng tác của nhà văn và cảm nhận tác phẩm của độc giả bởi kích thích sự sáng tạo, mang đến nhiều bất ngờ, tạo tiếng cười, sự hứng khởi phỏng đoán, kiếm tìm các giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm văn chương. Nỗ lực sáng tạo của Lê Anh Hoài một lần nữa được khẳng định trong việc sử dụng thủ pháp này, vừa là một cách thức để nhà văn khám phá đời sống qua một con đường mới, vừa bộc lộ rõ xu hướng trò chơi trong thế giới văn chương của ông.