Một số qui trình chiết tách isoflavon trong Đậu nành

Một phần của tài liệu ĐAMN.Tổng Quan về Đậu nành (Trang 20 - 28)

* Tại Hàn Quốc[15]

Các nhà khoa học đã thực hiện một nghiên cứu so sánh thành phần isoflavon trong phôi, lá mầm,vỏ hạt và hạt Đậu nành. Trong quá trình nghiên

phương pháp tối ưu nhất để phân tách isoflavon từ các mẫu thí nghiệm. Quá trình phân tách được thực hiện như sau:

Chín mẫu Đậu nành sử dụng trong thí nghiệm có kích cỡ hạt đa dạng từ trung bình đến lớn, trọng lượng 25 – 40g /100hạt. Điều kiện gieo trồng và chăm sóc các mẫu tốt, thu hoạch vào vụ mùa 2004 tại Hàn Quốc sau đó được cất giữ, bảo quản trong kho và đem phân tích vào năm 2005. Mẫu được nghiền sơ bộ qua máy nghiền để tách riêng các thành phần : phôi, mầm, vỏ hạt.

Các mẫu được để khô, làm lạnh, sau đó nghiền thành bột mịn. Trộn 2 gram bột mẫu với 10ml axetonitrit (ACN) và 2ml HCl 0,1N. Hỗn hợp được để trong 2h ở nhiệt độ phòng trước khi đem lọc qua giấy lọc Whatman. Sau khi lọc kiệt, dịch cô được để lạnh khô ở - 400c rồi hoà tan lại trong 10ml metanol 80% và lọc qua tia lọc 0,45μm.

Phân tích bằng sắc kí lỏng cao áp dựa theo phương pháp đã được thực hiện bởi Wang và Murphy (1994) và Kim, Jung, Ahn và Chung (2005). Hệ thống sắc kí lỏng cao áp được sử dụng để nghiên cứu gồm : máy sắc kí lỏng cao áp hãng Shimadzu, sử dụng detector photodiot array phân giải cao ( hãng SPD M10A) cùng với lắp cột sắc kí 250mm x 4,6 mm I.D x 5μm; quá trình dò bằng detector UV 254nm.

Bộ tổng hợp dung môi linear HPLC gradient, sử dụng pha động gồm dung môi A ( 0,1 % glacial axetic axit trong nước cất ) và dung môi B ( 0,1%

glacial axetic axit trong ACN ). Bơm 20μl mẫu vào máy sắc kí lỏng cao áp. Quá trình tách các pic tốt nhất khi dung môi B tăng tử 15% đến 35% trong thời gian là 60 phút, giữ ở 35% trong 5 phút, và trở về 15% trong 5 phút với tốc độ dòng 1ml/phút. Tổng thời gian phân tách một mẫu khoảng 85 phút, sau đó chuyển sang mẫu kế tiếp.

Cả dung môi và nước cất sử dụng trong sắc kí lỏng cao áp HPLC phải đạt độ tinh khiết 99,9% và đã hút chân không.

*Tại Brazil [18]

Cũng bằng HPLC, các nhà khoa học Brazil đã xác định được thành phần isoflavon trong 18 mẫu Đậu nành khác nhau. Quá trình phân tách được thực hiện như sau:

Mười tám mẫu cây Đậu nành được gieo trồng tại các thời điểm khác nhau trong vụ mùa 2002/2003 tại Brazil. Sự phân loại mẫu dựa trên số ngày kể từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch. Các mẫu được đem phân tích thành phần isoflavon và độ hoạt động của ò- glucosidase.

Nghiền 30g hạt mỗi mẫu thành bột, lấy khoảng 250mg mẫu chiết trong ống nghiệm với 3ml hệ dung môi dimetyl sunfoxit ( DMSO) : metanol ( 1:4 v/v ) trong 15-17h ở nhiệt độ phòng và sau đó li tâm. Phần nổi trên mặt được lọc qua tia lọc 0,43μm.

Bơm 20μl mẫu vào sắc kí lỏng cao áp hãng Shimadzu ( LC – 10AT VP), sử dụng detector photodiot array phân giải cao ( SPD – M10A VP) và lò ( CTO – 10AS VP) giữ ở nhiệt độ 260c. Sử dụng cột sắc kí CLC – ODS (M) C18 kích cỡ 250mm x 4,6 I.D x 5μm. Pha động gồm dung môi 1 là nước và dung môi 2 là axetonitrit.

Quá trình tách các pic, ban đầu 100% nước và 0% axetonitrit, thay đổi tới 45% nước và 55% axtonitrit trong thời gian 25 phút. Isoflavon được dò ra ở 260nm. Giữ 100% axetonitrit trong 2 phút và quay trở lại điều kiện ban đầu trong khoảng thời gian 8 phút kế tiếp. Tổng thời gian phân tách một mẫu khoảng 40 phút. Tốc độ dòng là 1ml/phút. Thành phần isoflavon được biểu thị mg/100g bột khô.

* Tại Bồ Đào Nha [17]

Quá trình phân tách được thực hiện như sau:

100 mgram của hạt Đậu nành đem tán thành bột ( kích cỡ 250 mesh) hoà

rpm/10phút. Sau đó bơm 50μl mẫu dung dịch nổi trên mặt vào máy sắc kí lỏng cao áp, tốc độ dòng 0.8ml/phút. Pha động H2O/CH3CN được bơm vào cột LichroSorb RP18, nhiệt độ 240c. Quá trình dò được thực hiện bằng detector diot phân giải khoảng bước sóng từ 200nm – 400nm. Xác định cấu trúc của flavonoid dựa vào phân tích phổ UV.

* Tại Australia, một nhóm các nhà khoa học cũng sử dụng HPLC để phân tích sự thay đổi thành phần isoflavon trong các sản phẩm chế biến từ Đậu nành [16 ]

Ngoài phương pháp HPLC để phân tách và xác định thành phần isoflavon trong Đậu nành. Bằng việc kết hợp các phương pháp phân tích khác nhau, các nhà khoa học đã tách và xác định được hầu hết các thành phần hoạt chất chứa trong Đậu nành

Nhóm các nhà khoa học Hàn Quốc và Nhật Bản đã thực hiện qui trình chiết tách saponin từ Đậu nành như sau:

Bột Đậu nành được tách dầu trong bộ chiết Soxhlet với n- hexan. Sau khi tách dầu được chiết xuất với metanol. Thu hồi dung môi, phần còn lại tiếp tục chiết với butanol 80%. Thu hồi butanol bằng phễu tách. Dịch chiết được làm khô trong chân không. Phần bã được hoà tan lại trong nước và làm lạnh khô. Sắc kí lớp mỏng chỉ ra hai vết y hệt nhau. Ngược lại sắc kí lỏng cao áp, sử dụng pha động Choloroform và metanol đã chỉ ra dịch chiết chứa soyasaponin I và soyasaponin II. [18].

Khi phân tích thành phần polyphenol trong hạt Đậu nành, các nhà khoa học Serbia đã định tính được tannin bằng sắc kí lớp mỏng xenlulo, định tính được các flavonoid và proanthoxyanidin sử dụng sắc kí lớp mỏng silicagen.

[11].

Trong một nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học Hoa Kỳ và Tây Ba Nha đã đề cập đến phương pháp chiết các protein từ Đậu nành của nhóm các tác giả De Mejia, Vasconez, De Lumin, Nelson (2004), phương pháp phân tích các amino axit bằng HPLC của nhóm tác giả Martinez – Villaluenga, Gule – Wicz, Frias, Gule Wiczand Vidal – Valverde (2007). [21]

4.Sự khảo sát dân số và những thử nghiệm trong phòng thí nghiệm về hoạt tính của Đậu nành. [5]

Trong hơn 20 năm qua đã có hơn 30 cuộc nghiên cứu về sự liên hệ giữa thực phẩm Đậu nành và bệnh ung thư được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới.

Hầu hết các kết quả cho thấy, những người ăn thực phẩm Đậu nành thường xuyên có tỷ suất về bệnh ung thư thấp hơn những người không ăn hay ít ăn thường xuyên thực phẩm Đậu nành.

Một nghiên cứu ở Singapore so sánh 200 phụ nữ bị bệnh ung thư vú với 420 phụ nữ không bị bệnh ung thư vú cho thấy rằng, những người ăn thực phẩm Đậu nành khoảng 55 gram/ngày ít bị nguy cơ lâm bệnh ung thư tới 50% so với những người không ăn hay ăn ít.

Tại Nhật Bản, những người ăn Đậu nành hoặc Đậu hũ đã giảm nguy cơ ung thư kết tràng 40%

Ở Trung Hoa, thường xuyên uống sữa Đậu nành có độ giảm nguy cơ bệnh ung thư dạ dày đến 50% so với những người không uống.

Ở Hồng Kông, một nghiên cứu trên 200 phụ nữ đã cho thấy rằng những người ăn Đậu hũ và các thực phẩm Đậu nành khác hàng ngày đã giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi đến 50 % so với những người ăn 3 lần một tháng.

Mùa thu năm 1989, Viện Đại Học Alabama cho biết kết quả cuộc thử nghiệm Đậu nành về bệnh ung thư vú. Kết quả cho thấy, nhóm chuột ăn Đậu nành đã giảm 50% ung thư vú so với nhóm chuột không ăn. Kết quả này đã dẫn

đến những cuộc thử nghiệm khác và cung cấp dữ liệu căn bản chứng minh rằng Đậu nành có tác dụng ngăn ngừa bệnh ung thư.

Ngoài ra, các cuộc thí nghiệm khác trên súc vật trong phòng thí nghiệm hay thí nghiệm các tế bào ung thư trong ống kính hay đĩa kính cũng cho những kết quả tương tự.Một trong các thí nghiệm được xem là nổi tiếng là cuộc thí nghiệm năm 1981 bởi các nhà khoa học thuộc American Health Foundation ở New York.

Nghiên cứu bột Đậu nành, protein Đậu nành, và các thực phẩm Đậu nành khác cho thấy rằng chúng có chứa chất chống oxy hoá có tác dụng chiến đấu chống lại tế bào ung thư.

Một nghiên cứu khác của các nhà khoa học Nhật Bản cho biết, các sản phẩm Đậu nành đều có tác dụng ngăn cản không cho lập thành hoá chất nitrit là chất hoá học có thế kiến tạo hay kích thích mầm ung thư. Đặc biệt hơn miso, một loại thức ăn phổ thông dưới dạng lên men của Nhật đã bảo vệ cơ thể khỏi bị hư hại của tia phóng xạ.

Một vài nghiên cứu đầu tiên cho rằng protein Đậu nành có tác dụng giảm lượng cholesteron trong máu đã được thực hiện bởi Drs.S.D. Kowry và R.E.Hodges, M.D thuộc university of Iowa Medical school, vào những năm 1960.

Hơn mười năm sau, vào năm 1977, Dr.C.R.Sirtori, M.D thuộc University of Milan đã nghiên cứu về sự tác dụng của protein Đậu nành với lượng cholesteron trong 1000 bệnh nhân. Kết quả protein Đậu nành đã làm giảm tổng lượng cholesteron từ 8 – 25% và từ 15 – 25% hàm lượng LDL cholesteron. Kết quả này không có liên hệ với chất béo vì chất béo trước và sau thử nghiệm không thay đổi.

Trong suốt 25 năm qua, kể từ khi những cuộc nghiên cứu đầu tiên hoàn thành, nhiều nghiên cứu khác tiếp tục cho những kết quả tương tự. Dr. Kenneth

Carroll thuộc University of Western Ontario, Canada đã đánh giá kết quả của 40 nghiên cứu khác nhau về tác dụng protein của Đậu nành và cho biết 34 nghiên cứu đã cho thấy là cholesteron giảm trung bình 15%.

Một trong những kết quả nghiên cứu mới nhất của University of Kentucky đã được đăng tải trên tạp chí y dược của Anh, số ra 3-8-1995. Bác sĩ James. W. Anderson. M.D., giáo sư y khoa và dinh dưỡng cùng đồng nghiệp của ông đã dùng máy tính phân tích 38 công trình nghiên cứu trong 7 năm thử nghiệm 730 người tình nguyện. Kết quả, cholesteron xấu LDL giảm 13% nhưng không làm giảm cholesteron tốt HPL. Tiêu thụ 47gram protein Đậu nành trên một ngày trong một tháng, giảm 9,3% LDL cholesteron.

Theo Bs. Hương Liên trên tạp chí “Cây thuốc quý - số 25” [5], Đậu nành và những món ăn chế biến từ Đậu nành có khả năng làm hạ cholesteron trong máu những người bị xơ vữa động mạch.

Qua nghiên cứu, người ta thấy khẩu phần ăn có bổ sung Đậu nành ( dưới các món sữa Đậu nành, Đậu phụ, bánh ngọt Đậu nành, bột Đậu…) đã làm thay đổi tốc độ chuyển hoá axit cholic và steroit. Lượng axit cholic và steroit trong phân những người uống sữa Đậu nành đều cao hơn bình thường.

Các nhà nghiên cứu đã theo dõi nhiều bệnh nhân có cholesteron máu cao, trong đó gần một nửa có kèm theo cao huyết áp được điều trị với chế độ ăn có bổ sung Đậu nành hàm lượng cụ thể như sau: Đậu phụ 150g, hạt Đậu nành 80g dùng hằng ngày chế biến thành các món ăn khác nhau như: sữa Đậu nành, chả giò, bánh ngọt… đã làm hạ tỷ lệ cholesteron máu trung bình từ 10-20%. Đồng thời chế độ ăn trên còn làm hạ huyết áp ở gần 80% bệnh nhân có cholesteron máu cao kèm theo cao huyết áp.

Cũng trên tạp chí y dược của Anh, số ra 3-8-1995, giáo sư James.

W.Anderson.M.D đã công bố kết quả nghiên cứu về tác dụng của Đậu nành

bệnh nhân tiểu đường loại II trong 5 năm. Mười hai bệnh nhân được chia thành hai nhóm. Một nhóm với chế độ dinh dưỡng bình thường bằng protein thịt và các sản phẩm có nguồn gốc từ thịt, nhóm còn lại với chế độ dinh dưỡng đặc biệt bằng protein Đậu nành và sữa Đậu nành là chính. Vào ngày cuối của tuần lễ thứ 8, cả hai nhóm được kiểm tra toàn bộ sức khoẻ, sau đó họ được thay đổi chế độ dinh dưỡng ngược lại nhau trong thời kì hai. So sánh các dữ kiện thu thập, kết luận chế độ dinh dưỡng bằng thực phẩm Đậu nành có hiệu lực làm giảm lượng đường trong máu.

Kết quả nghiên cứu trên phù hợp với kết quả do phương pháp trị liệu bệnh tiểu đường loại II ấn định bởi các nhà khoa học thuộc Ủy Ban Y Sĩ Trách Nhiệm Y Khoa Hoa Kì nghiên cứu và khuyến cáo áp dụng từ năm 1982.

Dr.Neil Breslau thuộc viện đại học University Of Texas Health Science Center đã thí nghiệm nhiều loại protein khác nhau để xem sự cân bằng của canxi. Kết quả cho thấy, nhóm ăn protein thịt và phomát đã mất 50% canxi so với nhóm chỉ ăn protein Đậu nành. Ích lợi của protein Đậu nành trong nghiên cứu này cũng tương tự như là những thử nghiệm đã thực hiện nơi động vật, từ đó họ đưa ra khuyến cáo tiêu thụ protein Đậu nành vào thời kì còn trẻ giúp chúng ta ngăn ngừa bệnh xốp xương.

Ngoài khả năng phòng và trị liệu một số bệnh như đã nói trên, các nhà khoa học cũng đã chứng minh được Đậu nành còn có tác dụng trong phòng ngừa và điều trị một số loại bệnh khác như: ung thư nhiếp hộ tuyến, bệnh thận, cao huyết áp và sạn mật.

Do những giá trị tuyệt vời về dinh dưỡng và trị liệu, Đậu nành đã và đang thu hút được sự chú ý của rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Đây là một đề tài hứa hẹn nhiều thành công trong tương lai. Các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu những hoạt tính sinh học của các hoạt chất trong Đậu nành để có kết luận toàn diện nhất.

Một phần của tài liệu ĐAMN.Tổng Quan về Đậu nành (Trang 20 - 28)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(37 trang)
w