-Néi dung:
Vào thời gian 1944, theo phân tích của Hồ Chí Minh: “Bây giờ thời kỳ cách mạng hoà bình phát triển đ qua, nhã ng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa cha
tới. Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì
không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhng phát động vũ trang khởi nghĩa ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay chính trị còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể
đẩy mạnh phong trào tiến lên”.
Theo tinh thần đó, Hồ Chí Minh giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp tổ chức và l nh đạo quân đội giải phóng và đặt tên là đội Việt Nam tuyênã truyền giải phóng quân. Vào ngày 22/12/1944, tại một khu từng nằm giữa 2 tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hng Đạo ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Trong ảnh, ngời đứng trớc hàng quân đội mũ “Phớt”, vai khoác túi, là
đồng chí Võ Nguyên Giáp, ngời đợc Nguyễn ái Quốc cử ra thành lập đội.
Toàn đội gồm 34 đội viên, có 31 nam, 3 nữ, đứng theo hàng ngang. ở hàng
đầu là lá cờ đỏ sao vàng giơng cao trớc hàng quân. Các chiến sĩ mặc trang phục theo từng cá nhân khác nhau, thể hiện trang bị của quân đội cách mạng đầu tiên còn rất thô sơ (quần áo, vũ khí, nhiều ngời còn đi chân đất).
Song nó cũng thể hiện đó là đạo quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Đội đợc biên chế thành 3 tiểu đội. Đồng chí Hoàng Sâm làm đội trởng, đồng chí Xích Thắng làm chính trị viên. Những đội viên của đội ngày ấy sau này trở thành những tớng lĩnh cao cấp của quân đội nhân dân Việt Nam nh Văn Tiến Dũng, Song Hào, Hoàng Văn Thái, Vơng Thừa Vũ… đội có một chi bộ đảng.
Dới lá cờ đỏ sao vàng 5 cánh, toàn đội đ long trọng tuyên đọc “mã ời lời thề danh dự”, thể hiện lòng trung thành vô hạn với tổ quốc, với đảng; thể hiện tinh thần hi sinh đến giọt máu cuối cùng vì sự nghiệp cách mạng; kiên quyết tiêu diệt quân thù cớp nớc; hết lòng hết dạ phục vụ nhân dân; tinh thần đoàn kết và ý thức tổ chức kỷ luật của quân đội cách mạng. Đó cũng chính là nội dung 10 lời thề của quân đội nhân dân Việt Nam sau này.
Trong lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhng tiền đồ của nó rất vẻ vang.
Nó là khởi của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ nam trí bắc, khắp nớc Việt Nam”.
Để khẳng định đây là quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, giáo viên có thể trích câu của đại tớng Võ Nguyên Giáp: “thực là một đội quân kỳ lạ, không ngời nào không mang một mối hận thù với đế quốc. Hoặc nhà cửa bị đốt, của cải bị tịch thu, hoặc cha, anh, chị, em bị bắt, bị bắn, còn chính mình cha trải qua lao tù thì cũng là những kẻ đang bị truy n , đầu bị treo thã ởng hàng vạn đồng, hàng trăm đấu muối”.
Với nguồn gốc xuất thân nh vậy, lại chấp hành chỉ thị “phải đánh thắng trận đầu”, sau 2 ngày thành lập, đội quân đ mã u trí, táo bạo tiêu diệt gọn 2 đồn Phay Khắt, Nà Ngần, đ làm nức lòng nhân dân cả nã ớc.
-Hớng dẫn sử dụng:
Trớc hết giáo viên hớng dẫn học sinh quan sát bức ảnh và yêu cầu các em nêu lên những nhận xét cũng nh những hiểu biết của mình về đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.
Tiếp đó giáo viên miêu tả, phân tích bổ sung những ý chính (nh đ ã trình bày). Đồng thời kết hợp với đọc (hoặc hớng dẫn học sinh đọc) chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, để nhận thấy chủ tr-
ơng này là đúng đắn, bởi vì cách mạng phải dùng bạo lực cách mạng chống lại kẻ thù, giành thắng lợi, do đó phải có lực lợng vũ trang hùng mạnh. Cho nên “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho nó có những đội quân đàn em khác.
GV tổ chức cho HS trả lời câu hỏi: ý nghĩa và vai trò của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đối với công cuộc chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền?
Sau khi HS trả lời GV nhận xét và chốt ý.
2. Lợc đồ khu giải phóng Việt Bắc, Trong đó bao gồm toàn bộ 6 tỉnh phía Đông Băc Bộ là Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên (vùng có chấm trên bản đồ).
-Néi dung:
Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, cao trào kháng nhật cứu nớc phát triển rộng khắp. Ban thờng vụ trung ơng đảng triệu tập hội nghị quân sự Bắc Kỳ lần thứ nhất họp tại Hiệp Hoà, Băc Giang. Đồng chí Trờng Chinh – Tổng bí th của đảng chủ trì hội nghị, đ quyết định:ã
+ Xây dựng 7 chiến khu trong cả nớc, đó là:
ở miền Bắc: chiến khu Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Trần Hng Đạo.
ở miền Trung: chiến khu Trng Trắc, Phan Đình Phùng.
Miền Nam: chiến khu Nguyễn Tri Phơng.
+ Thành lập uỷ ban quân sự cách mạng Bắc kỳ gồm các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh, có nhiệm vụ chỉ huy các chiến khu ở miền Bắc.
Ngày 16/4/1945, tổng bộ việt minh ra chỉ thị tổ chức uỷ ban dân tộc giải phóng các cấp. Đầu tháng 5/1945, l nh tụ Nguyễn ái Quốc từ Cao Bằngã về Tuyên Quang. Tại đây, Ngời đ chọn Tân Trào (Châu Sơn Dã ơng) làm căn cứ để l nh đạo cách mạng trong cả nã ớc và chuẩn bị cho đại hội quốc dân. Trớc sự phát triển của vùng giải phóng miền núi phía Bắc bao gồm hầu hết các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một bộ phận của các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Bắc Giang, Vĩnh Yên… cần thành lập khu căn cứ địa cách mạng rộng lớn lấy tên là khu giải phóng.
Ngày 4/6/1945, khu giải phóng Cao, Bắc, Lạng, Thái, Hà, Tuyên đợc thành lập (dùng bản đồ). Khu giải phóng do một ban chỉ huy lâm thời l nhã
đạo. Trong khu giải phóng, các Uỷ ban nhân dân cách mạng do nhân dân cử ra, thi hành 10 chính sách lớn của Việt Minh, nh đ tịch thu ruộng đất củaã
đế quốc (đồn điền của tên điền chủ ngời Pháp Táctaranh ở Hiệp Hoà - Bắc Giang), chia công điền, công thổ cho dân nghèo; xây dựng lực lợng vũ trang, chính trị; thực hiện phong trào đời sống mới, cải thiện một phần đời sống của nhân dân… Khu giải phóng chính là hình ảnh thu nhỏ của nớc Việt Nam mới, nh lời thơ sau:
“Ai lên xứ Lạng cùng anh,
Thăm khu giải phóng, thăm thành Bắc Giang Suối trong in mặt trời tròn
Xem cô giái Thổ trèo non đii tuần”
-Hớng dẫn sử dụng:
Giáo viên hớng dẫn học sinh quan sát bản đồ, giới thiệu khái quát lợc
đồ.
GV nêu câu hỏi: Dựa vào lợc đồ trình bày sự phát triển của phong trào cách mạng và sự hình thành khu giải phóng Việt Bắc trong những năm 1944-1945 trớc khi tổng khởi nghĩa nổ ra?
Sau khi HS trả lời câu hỏi, GV kết luận nh nội dung trên.
3. Hoàng văn thái (1915-1986)
Ông sinh ra trong một gia đình nông dân yêu nớc tại x Tây An, huyệnã Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, năm 18 tuổi thoát li khỏi gia đình ra làm công nhân mỏ than Hồng Gai, rồi mỏ thiếc Cao Bằng.
Sớm tiếp thu ảnh hởng phong trào cách mạng do Đảng cộng sản Đông Dơng l nh đạo. Năm 1936, ông về quê Tiền Hải hoạt động trong phong tràoã Mặt trận Bình dân, tổ chức các hội tơng tế, ái hữu, tham gia chỉ đạo đấu tranh chồng thuế, chống bắt phu, bắt lính, tuyên truyền tổ chức xây dựng cơ
sở cách mạng trong quần chúng.
Tháng 5-1936, đợc kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dơng, ông đã
cùng nhiều đồng chí khác xây dựng một số chi bộ Đảng trong huyện nhà.
Tháng 9-1940, ông bị địch bắt, nhng chỉ sau một thnáng đ ra tù, rồiã về hoạt động bí mật ở vùng căn cứ Lạng Giang, Hiệp Hoà (Bắc Giang).
Tháng 3-1941, ông là chỉ huy trởng đội Cứu quốc quân Bắc Sơn.
Tháng 9 năm đó, đợc cử đi học quân sự ở nớc ngoài. Về nớc tham gia đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (12-1944), phụ trách công tác tham mu, tháng 4-1945 phụ trách Trờng Quân chính kháng Nhật. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, ông đợc phân công đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội (Tổng Tham mu trởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Uỷ viên Quân uỷ hội, Uỷ viên Ban Quân sự Trung ơng, Chủ nhiệm Tổng cục quân huấn, T lệnh Kiêm chính Uỷ quân khu V, Bí th Khu uỷ Khu V, T lệnh Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, Phó Bí th Trung -
ơng cục kiêm Phó Bí th Quân uỷ miền…).
Với các cơng vị trên, ông đ cùng nhiều đồng chí khác chỉ huy các chiếnã dịch lớn (Biên giới, Đờng 18, Hà Nam Ninh, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên
Phủ, Mậu Thân năm 1968, Chenla I, Chenla II, Nguyễn Huệ) và cùng Quân uỷ Trung ơng, Bộ Tổng T lệnh tham gia chỉ đạo các chiến dịch trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Sau khi đất nớc đợc hoàn toàn giải phóng, ông giữ chức Tứ trởng Bộ Quốc phòng, Uỷ viên Thờng vụ Đảng uỷ quân sự Trung ơng, chỉ đạo công tác cán bộ, tổng kết nghiên cứu khoa học quân sự và tham gia chỉ đạo công tác
đào tạo và bồi dỡng.
Ông đợc phong quân hàm Đại tớng, đợc bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam khoá III,IV,V và là Đại biểu Quốc hội khoá VII.
Ông đợc nhà nớc tặng nhiều huân chơng cao quý.
Bài 23