Hình Nhân dân góp gạo chống đói

Một phần của tài liệu Sử dụng tranh ảnh vào dạy lịch sử (Trang 141 - 152)

Bài 23 Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và sự thành lập nớc Việt

3. Hình Nhân dân góp gạo chống đói

Sau thắng lợi của cách mạng thnág Tám, chính quyền non tre vừa ra

đời đ phải đôi mặt với nhiều khó khăn thách thức trong đó giặc đói vẫn đeã doạ hành hành. Trớc tình hình đó, Hồ Chí Minh đ kêu gọi toàn dân, nhã ờng cơm, xẻ áo để diệt giặc đói.Ngời chính là tấm gơng để mọi ngời noi theo. Đồng bào cả nớc đ phát huy mọi sáng kiến để cứu đói nhã lập “hủ gạo cứu đói”,

“ngày đồng tâm” ...Trong hình thể hiện chân thực, sinh động hình ảnh nhân dân Nam bộ hởng ứng lời kêu gọi chống giặc đói năm 1945 của chính phủ.

-Hớng dẫn sử dụng:

GV cho HS quan sát bức tranh và tổ chức cho HS trả lời các câu hỏi sau:

H y cho biết cuộc vận động tiết kiệm, kệu gọi đồng bào nhừng cơm sẻã

áo diễn ra nh thế nào?

ý nghĩa của cuộc vận động đó?

Sau khi HS trả lời câu hỏi GV nhận xét và chốt ý nh nội dung trên.

4. Chống “Giặc dốt”

Ngày 3/9/1945, sau phiên họp đầu tiên của hội đồng chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “nạn dốt là một phơng pháp độc ác của thựcdân dùng để cai trị chúng ta.

Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch chống giặc dốt”. Tiếp đó, ngày 8/9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành sắc lệnh 17/SL, quyết

định thành lập nha bình dân học vụ. Sắc lệnh 19/SL quy định các địa phơng phải mở các lớp học bình dân học vụ chậm nhất trong thời gian 6 tháng và sắc lệnh 29/SL thi hành cỡng bức việc học chữ quốc ngữ. Toàn dân đã sôi nổi hởng ứng các sắc lệnh đó của chủ tịch Hồ Chí Minh. Khắp nơi, từ thành phố đến nông thôn, nhiều lớp bình dân học vũ đã đợc mở, lôi cuốn từ em nhỏ đến các cụ già. Khẩu hiệu “đi học là kháng chiến”, “mỗi lớp học lạm tổ tuyên truyền kháng chiến” xuất hiện khắp các đờng phố, xóm làng.

Sau hơn 1 năm thực hiện chiến dịch chốn giặc dốt, cả nớc đã có 2,5 triệu ngời thoát nạn mù chữ. Hệ giáo dục phổ thông và Đại học cũng đợc xây dựng và từng bớc phát triển theo 3 nguyên tắc: dân tộc, dân chủ và khoa học. Tiếng Việt đợc dùng trong các văn bản chính thức của nhà nớc và trong việc học tập, giảng dạy ở các trờng.

Thắng lợi của cuộc đấu tranh chống giặc dốt ngoài ý nghĩa lớn về văn hoá còn là một thắng lợi lớn về chính trị; tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý nhà nớc và phát huy quyền làm chủ của mình trong xây dựng và bào vệ tổ quốc.

(Theo: Hậu phơng chiến tranh nhân dân Việt Nam 1954-1975, NXB Quân đội nhân dân, H.1997)

5.Cả nớc cứu đói

Sản xuất lơng thực để cứu đói và nuôi dỡng quân đội và công việc bức thiết mà chính quyền cách mạng phải quan tâm, lãnh đạo nhân dân thực hiện. Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của hội đồng chính phủ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động một phong trào “tăng gia sản xuất để chống nạn đói”, thực hiện “tấc đất, tấc vàng”.

Ngời kêu gọi đồng bào cả nớc nhờng cơm sẻ áo cho nhau, lập “Hũ gạo tíêt kiệm”. 10 ngày một lần, tất cả đồng bào nhịn ăn một bữa, gạo tiết kiệm đợc sẽ góp lại phát cho ngời nghèo. Chính chủ tịch Hồ Chí Minh nêu gơng thực hiện đầu tiên.

Lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh đợc nhân dân cả nớc hởng ứng. Mọi ngời nô lức tăng gia sản xuất, chống đói nh chống giặc ngoại xâm. Tính đến cuối năm 1945, nhân dân ta đã bỏ ra 4 triệu ngày công, đào đắp 2,72 triệu m3 đất bổ trợ cho đê điều,

đẩy lùi nạn lụt, diện tích trồng lúa đợc mở rộng gấp rỡi, diện tích trồng khoai lang tăng gấp 3, số khoai lang thu hoạch tăng gấp 4 lần so với năm 1943.

Nhờ sự nỗ lực vợt bậc của toàn dân, giá gạo ở Bắc bộ hạ từ 700 đồng xuống 200

đồng một tạ. Cach mạng đã chiến thắng nạn đói ngay từ những ngày đầu chế độ mới.

Kết quả đó không những chỉ bồi dỡng sức dân mà còn góp phần quyết định vào việc xây dựng và bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng. Thắng lợi trên mặt trận chống giặc đói vì vậy có ý nghĩa chính trị to lớn, làm nổi bật tính u việt của chính quyền cách mạng. Nhân dân càng thêm tin tởng và gắn bó với chế độ mới.

(Theo: Hậu phơng chiến tranh nhân dân Việt Nam 1954-1975, NXB Quân đội nhân dân, H.1997) 6.“Quỹ độc lập” và “tuần lễ vàng”

Trớc tình hình nguy ngập về tài chính, chính phủ đã kiên quyết cắt giảm các khoản chi tiêu cha thật cần thiết và kêu gọi sự đóng góp của toàn dân.

Việc tổ chức lạc quyên trong nhân dân đợc tích cực thực hiện. Ngày 4/9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 34/SL xây dựng “quỹ độc lập” và ngày 17/9 tổ chức “tuần lễ vàng” động viên mọi ngời dân yêu nớc tự đóng góp, ủng hộ việc xây dựng và bảo vệ nền độc lập của đất nớc, để “dùng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng”. “quỹ độc lập” và “tuần lễ vàng”đợc nhân dân cả nớc nhiệt liệt hởng ứng. Nhiều gia đình mang hết vàng bạc ra góp; nhiều mẹ , nhiều chị đem cả t trang quý và vật kỷ niệm thân thiết ủng hộ vào các quỹ trên. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, các tầng lớp nhân dân đã đóng góp đợc hơn 20 triệu đồng và 370kg vàng. Số vàng và tiền đóng góp trên tuy không lớn so với nhu cầu chi tiêu của một nhà nớc, nhng đã giải quýêt đợc những khó khăn gay gắt trớc mắt, nhất là việc xây dựng, nuôi dỡng và trang bị cho các đơn vị vệ quốc quân đang đợc xây dựng phát triển.

Các đoàn thể cứu quốc thờng xuyên tổ chức các cuộc lạc quyên ủng hộ bộ đội.

Chỉ trong “ngày len, vải, sợi” do hội phụ nữ cứu quốc Hà Nội tổ chức đã quyên đợc 5842m vải, 149kg len, hàng nghìn quần áo, chăn màn, giày dép…

Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, chính nhờ biết dựa vào dân mà đảng, chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bớc đa đất nớc vợt qua khó khăn trớc mắt, lãnh đạo nhân dân cả nớc vừa kháng chiến ở miền Nam, vừa ra sức chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc.

(Theo: Hậu phơng chiến tranh nhân dân Việt Nam 1954-1975, NXB Quân đội nhân dân, H.1997)

Bài 25

những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1950)

1. ảnh Lực lợng vũ trang Thủ đô anh dũng chiến đấu, ảnh thể hiện các chiến sĩ ta đang chiếm lĩnh điểm cao các nóc nhà để chiến đấu với

địch. Bộ đội ta dùng thang leo lên mái nhà. Vũ khí tác chiến của các chiến sĩ là súng trờng, lựu đạn, dao găm… Trang phục của các anh là áo trấn thủ,

đầu đội mũ đan bằng tre có bịt vải ni lông… Điều đó nói lên trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến, trang bị của bộ đội ta còn rất thô sơ, thiếu thốn. Nhng với tinh thần ‘không có gì quý hơn độc lập, tự do”.các anh đ kiênã cờng dũng cảm chiến đấu, giam chân địch 2 tháng trong thành phố, đạp tan

âm mu cả địch nhằm đánh úp cơ quan đầu n o của ta tại Hà Nội, tạo điềuã kiện cho quân dân ta chuyển vào kháng chiến lâu dài….

Từ đầu tháng 12/1946, thực dân Pháp liên tục gây xung đột với công an và tự vệ của ta, đặc biệt nghiêm trọng là vụ thảm sát tại Yên Ninh, Hàng Bún, Hà Nội ngày 17/12/1946. Trớc hành động láo xợc đó, ngày 19/12/1946, Hồ Chủ tịch đ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến “… Chúng ta thà hyã sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nớc, nhất định không chịu làm nô

lệ”.

Đáp lại lời kêu gọi, các chiến sĩ tự vệ Hà Nội đ thề quyết tử cho Tổã quốc quyết sinh. Lực lợng tự vệ chiến đấu và Vệ quốc đoàn trong Liên khu 1 Hà Nội đợc biên chế thành hai trung đoàn. Trung đoàn 48 làm nhiệm vụ

đánh địch ở các của ô và Trung đoàn 52 (Trung đoàn Thủ đô) làm nhiệm vụ kìm giữ chân địch ở nội thành. Suốt hơn 20 ngày, cuộc chiến đấu không cân sức giữa ta và địch diễn ra ác liệt tại các cửa ô, thực dân Pháp đ chiếm đã ợc các cửa ngõ, chúng tập trung định tiêu diệt lực lợng ta ở Liên khu I (nội thành).

Ngày 7/2/1947, từ 4 mặt, quân Pháp mở rộng cuộc công kích vào Liên khu I, trên khắp các phố Bờ Sông, Cầu Gỗ, Hàng Nón, Hàng Thiếc, Hàng L- ợc, Hàng Đờng, Hàng Chiếu, Chợ Đồng Xuân, đ diễn ra những trận giaoã chiến quyết liệt. Những cánh quân địch hàng trăm tên ngày đêm bắn phá, máy bay địch dội bom từng d y phố, đại bác địch bắn sập từng căn nhà, súngã phun lửa thiêu từng căn gác. Xe tăng húc đổ nhà, xông vào giữa phố. Cả Hà Nội 36 phố phờng nhà xiêu, mái xụp. Các chiến sĩ cản tử của trung đoàn Thủ

đô đ chiến đấu giành giữ từng căn nhà, từng mảnh tã ờng, từng góc phố. Địch ngoài hè, ta từ trong nhà đánh ra, địch vào tầng dới, ta từ tầng trên đánh xống; xe tămg địch xông vào giữa chợ, ta bám từng quầy hàng, có những đội viên cảm tử nh Trần Đan một mình dùng lựu đạn đánh lui nhiều đợt xung phong của địch, mặc dù bị cụt tay vẫn giữ vững trận địa ở phố Hàng Thiếc;

chiến sĩ Minh bị đạn khói làm mờ cả 2 mắt vẫn bắn cản địch ở phố Hàng Nón; chiến sĩ Bật dũng cảm dùng trung liên đợi địch đến gần bắn xuyên táo diệt hàng chục tên địch trên phố Hàng Khoai. Có những ngời thợ dũng cảm

chiến đấu đến hết đạn, lựuđạn, đ dùng dao thái thịt quần nhau với giặc hếtã phản thịt này đến bàn thịt khác, đâm chết hàng chục tên địch giữa chợ Đồng Xuân. Có những thiếu niên liên lạc nh em Lai, nửa đêm neo ống máng nớc nhà truyền tin, tiếp đạn, dẫn đờng cho bộ đội cơ động kịp thời giải vây. Quân ta sau 7 ngày đêm chiến đấu đ diệt hơn 200 tên địch tại mặt trận Liê khu 1ã Hà Nội, đa tổng số tiên địch bị tiêu diệt lên hơn 2000 tên.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giam chân địch, đêm ngày 17/2/1947, Trung đoàn Thủ đô đợc lệnh rút khỏi Hà Nội. Đoàn quân lặng lẽ bí mật di theo ven bờ sông Hồng mà giặc Pháp hoàn toàn không biết. Chúng tin vào vòng vay dày đặc bốn bề tởng chừng con chim cũng khó bay qua. ở giữa sông trên b i Phúc Xá, tiểu đội tự vệ do đồng chí Nguyễn Văn Nại chỉ huy đ dẫnã ã

đờng cho trung đoàn vợt qua mọi hiểm nghèo để ra đi an toàn, 20 chiếc thuyền của đồng bào và chị em du kích đ đã a bộ đội qua sông. Sau khi làm tròn nhiệm vụ đón và bảo vệ bộ phận rút ra sau cùng, tiểu đội đồng chí Nại bố trí ở b i dâu theo dõi địch. Đến sáng, địch phát hiện đã ợc, chúng đủôi theo, tiểu đội của đồng chí Nại đ chiến đấu dũng cảm và kìm chân địch lại đểã quân ta rút lui an toàn. cả tiểu đội đ hy sinh anh dũng góp phần vào chiếnã thắng oanh liệt của Liên khu I và cuộc rút quân thần kỳ của Trung đoàn thủ

đô”.

2.Lợc đồ chiến thắng Việt Bắc thu -đông 1947 -Néi dung:

Thu đông 1947, với âm mu dùng quân sự nhanh chóng thanh toán Chính phủ kháng chiến, thực dân Pháp quyết định dùng lực lợng lớn thuỷ, lục, không quân, với 12000 tên, mở cuộc tấn công quy mô lớn lên Việt Bắc.

Kế hoạch tấn công của Pháp triển khai theo các hớng.

- Ngày 7 và 8 tháng 19/1947, Binh đoàn bộ đờng không do Sôvanhắc chỉ huy nhảy dù xuống Bắc Kạn, Chợ Mới, Chợ Đồn.

- Binh đoàn bộ binh thuộc địa từ Lạng Sơn theo đờng số 4 lên Cao Bằng, Bắc Kạn nhằm tạo thành gọng kìm bao vây việt Bắc ở mặt phía Đông và Bắc.

Binh đoàn bộ binh hỗ hợp và lính thuỷ lính bộ do Comnguynam chỉ huy từ Hà Nội ngợc sông Hồng và sông Lô tạo thành gọng kìm lớn thứ 2 lên Tuyên Quang, Chiêm Hoá, bao vây Việt Bắc ở phía Tây.

- Các tiểu đoàn nhảy dù dự bị chiến địch do Phôsay Phơrăngxoa chỉ huy ở sân bay sẵn sàng đổ bộ tiếp xuống những nơi phát hiện thấy cơ quan

đầu n o kháng chiến.ã

Đây là cuộc tiến công chiến lợc của Pháp, phạm vi chiến dịch rộng 12 tỉnh, các cánh quân hình thành những mũi thọc sâu vào hậu phơng của ta.

Với những gọng kìm dài từ 300 – 400km, đánh thẳng vào trung tâm căn cứ

địa Việt Bắc, nhằm phá tan cơ quan đầu n o, tiêu diệt chủ lực và khủng bốã nhân dân, lập chính phủ bù nhìn.

Thực hiện chỉ thị của trung ơng đảng (15/10/1947) “Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp” bộ chỉ huy hạ quyết tâm: “đánh mạnh ở mặt trận sông Lô và đờng số 4, phải phá vận tải tiếp tế của địch, phục kích các đờng rừng đánh đờng sông. Tại những căn cứ của địch luôn quấy rối. Đối vỡi những vị trí thì bao vây tiêu diệt các khu khác đánh mạnh để phối hợp với Việt Bắc?

Tại Bắc Kạn, quân địch vừa nhảy dù xuống, lập tức bị các lực lợng của ta bao vây, bắn tỉa, khiến các cánh quân bị lạc không liên hệ đợc với nhau. ở

đây, trung đoàn vệ quốc Cao Bằn đ bắn rơi tại chỗ máy bay chỉ huy, tiêuã diệt toàn bộ cơ quan tham mu chiến dịch của địch. Bản kế hoạch tấn công của Pháp rơi vào tay ta.

Trên đờng số 3, quân ta đ phục kích, tập kích địch trên 20 trận lớn,ã nhỏ ở chợ Mới, chợ Đồn, chợ Chu, Phủ Thông,… cắt đứt đờng tiếp tế của

địch, buộc chúng phải rút lui khỏi chợ Đồn, chợ R vào cuối tháng 11/1947.ã ở mặt trận đờng số 4, các đơn vị bộ binh của ta đ phục kích, tiêu diệtã hàng trăm tên địch tại Đông Khê, Thất Khê, Lũng Nhai, Tràng Xá. Đặc biệt là trận phuc kích tiêu diệt gọn cả đoàn gồm 27 xe cơ giới và hơn 1 đại đội

địch tại đèo Bông Lau, thu toàn bộ vũ khí. Đờng số 4 trở thành con đờng máu của địch. Ta cắt đờng tiếp tế, không cho địch gặp đợc binh đoàn bộ binh hỗn

hợp và lính thuỷ đánh bộ của Comnguynan, cô lập chúng. Cuối cung 2 gọng kìm Đông và Tây của địch không khép kín mà bị bẻ gẫy.

Trên mặt trận sông Lô, quân ta đ liên tục trặn đánh địch hàng chụcã trận. Ta bắn chìm từng đoàn tàu chiến giặc tại Quan Bộ, Đoan Hùng, Khe Lau. Sông Lô đầy xác và tàu giặc.

Phối hợp với Việt Bắc, ở các chiến trờng khác trên toàn quốc, quân dân ta đ hoạt động mạnh, kiềm chế địch, không cho chúng tập trung binh lựcã nhiều vào chiến trờng chính.

Kết quả là ta đ tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch: hơn 6 nghìnã tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, 16 máy bay bị hạ, 11 tàu chiến, ca nô bị bắn chìm, hàng trăm xe bị phá, thu nhiều vũ khí và quân dụng… Đại bộ phận quân Pháp phải rút khỏi Việt Bắc; cơ quan đầu n o kháng chiến đã ợc bảo vệ an toàn, căn cứ địa Việt Bắc đợc giữ vững, bộ đội ta không những không bị tiêu diệt mà còn trởng thành về cách đánh.

-Hớng dẫn sử dụng

Trớc hết GV cho HS quan sát lớc đồ và tổ chức cho HS trả lời các câu hái sau:

Trình bày trên lợc đồ âm mu kế hoạch tấn công lên Việt Bắc của Pháp Dựa vào lợc đồ trình bày diễn biến chiến dịch Việt Bắc.

ý nghĩa của chiến thắng Việt Bắc?

Sau khi HS trả lời câu hỏi GV nhận xét, bổ sung và chốt ý nh nội dung

đ trình bày.ã

2. Trêng chinh (1907-1988)

Ông chính tên là Đặng Xuân Khu, sinh ngày mùng 9-2-1907 tại làng Hành Thiện, huyện Xuân Trơng (nay là x Nhân Hồng, huyện Xuân Trã ờng), tỉnh Nam Định.

Khi còn là học sinh tại Nam Định, năm 1025 ông đ tham gia cuộc vậnã

động đòi đế quốc Pháp “Ân xá” nhà yêu nớc Phan Bội Châu và năm 1026 là một trong những ngời l nh đạo cuộc b i khoá để truy điệu nhà yêu nã ã ớc Phan

Châu Trinh. Sau đó, bị thực dân Pháp đuổi học, ông lên Hà Nội học Trờng Cao đẳng Thơng mại.

Năm 1927, ông gia nhập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, một tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản Đông Dơng, tham gia cuộc vận động thành lập Đảng cộng sản Đông Dơng ở Bắc Kì, năm 1930, đợc chỉ định vào Ban tuyên truyền cổ động Trung ơng của Đảng, nhng bị đế quốc bắt và bị kết án tù, đày đi Sơn La.

Cuối năm 1936, do phong trào đấu tranh của nhân dân ta và thắng lợi của Mặt trận nhân dân Pháp, ông đợc trả lại tự do, tiếp tục hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp ở Hà Nội, là Uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kì và đại biểu của

Đảng cộng sản Đông Dơng trong Uỷ ban Mặt trận dân chủ Bắc Kì. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939), ông chuyển vào hoạt động bí mật.

Năm 1940, ông là chủ bút báo Giải phóng, cơ quan của Xứ uỷ Bắc Kì.

Tại Hội nghị lần thứ 7 của Trung ơng Đảng cộng sản Đông Dơng, ông đợc cử vào Ban chấp hành Trung ơng Đảng.

Năm 1941, tại Hội nghị lần thứ tám của Trung ơng Đảng, ông đợc bầu làm Tổng Bí th Ban Chấp hành Trung ơng, Trởng Ban Tuyên huấn kiêm chủ bút báo Cờ giải phóng Tạp chí cộng sản, Trởng Ban Công vận Trung -

ơng. Đế quốc Pháp truy lùng điên cuồng không kết quả, năm 1943 giao cho toà án binh kết án ông tử hình vắng mặt.

Đêm mùng 9-3-1945, ông chủ trì Hội nghị Thờng vụ Trung ơng mở rộng, ra chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và chủ trơng Tổng khởi nghĩa.

Tháng 8-1945, ông đợc Hội nghị toàn quốc của Đảng cử phụ trách Uỷ Ban khởi nghĩa toàn quốc.

Năm 1951, tại Đại hội lần thứ II của Đảng, ông đợc bầu vào Ban Chấp hành Trung ơng, giữ chức Tỏng Bí th đến tháng 10-1956.

Năm 1958, ông làm Phó Thủ tớng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Uỷ Ban khoa học Nhà nớc.

Tại Đại hội lần thứ III (1960) và lần thứ IV (1976) của Đảng, ông đợc bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ơng và Uỷ viên Bộ Chính trị phụ trách

Một phần của tài liệu Sử dụng tranh ảnh vào dạy lịch sử (Trang 141 - 152)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(212 trang)
w