bài 27 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lợc kết
2. Hình thái Chiến trờng trên các mặt trận Đông –Xuân (1953- 1954)
-Néi dung:
Để cứu v n tình thế, đế quốc Pháp, Mỹ đ đề ra “kế hoạch Na va” nhằmã ã chuyển bại thành thắng. Điểm mấy chốt của kế hoạch này là tăng quân số và tập trung quân xây dựng lực lợng cơ động chiến lợc mạnh, nhằm giành lại quyền chủ động. Để đập tan “Kế hoạch Na va” ngay từ bớc đầu ta đ chủ trã -
ơng đánh vào những nơi sơ hở của địch, buộc chúng phải phân tán lực lợng, tranh thủ tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch…. Do vậy, sau đồng bằng Bắc Bộ, ta đ buộc địch phải phân tán ra các hã ớng.
Giữa tháng 11/1953, bộ đội chủ lực của ta tiến lên Tây Bắc nhằm giải phóng Lai Châu, uy hiếp Điện Biên Phủ. Na va buộc phải tăng quân cho
Điện Biên Phủ, biến nơi đây thành nơi tập trung quân thứ 2 của địch.
Cuối năm 1953, liên quân Việt – Lào tiến đánh địch ở trung Lào, giải phóng đợc 4 vạn km2 đất đai. Địch hốt hoảng phải điều quân từ đồng bằng Bắc bộ đến cứu nguy và biến Sê-nô thành nơi tập trung quân thứ 3 của địch.
Quân ta thừa thắng đánh xuống hạ Lào, rồi cùng quân giải phóng Campuchia đánh thông cả miền Đông và Đông bắc Campuchia.
Đầu năm 1954, ta tấn công địch ở Tây Nguyên, giải phóng Kon tum và cả vùng Bắc Tây Nguyên, buộc địch phải ngừng cuộc tấn công liên khu V để
điều quân lên tây nguyên, biến Plâyku thành nơi tập trung binh lực thứ 4 của địch.
Tiếp đó, liên quân Lào – Việt tấn công thợng Lào, uy hép Luông pha băng, Nava buộc phải dùng cầu hàng không đa quân từ đồng bằng Bắc Bộ lên, biến Luông Pha Băng và Mờng Sài thành nơi tập trung quân thứ 5 của
địch.
Phối hợp với bộ đội chính quy trên các chiến trờng, ở vùng sau lng
địch, chiến tranh du kích phát triển mạnh, góp phần phân tán lực lợng địch”.
Đến đây, giáo viên có thể hỏi học sinh: “Nhìn trên bản đồ, em h y nhậnã xét kết quả các cuộc tấn công của ta và hình thái chiến trờng Đông Dơng?”
Sau khi học sinh trao đổi, giáo viên chốt lại:
- Các cuộc tấn công của ta đ buôc địch từ một nơi tập trung quân phảiã phân tán thành 5 nơi, kế hoạch Nava bớc đầu bị phá sản.
- Vùng giải phóng của ta ngày càng mở rộng, vùng chiếm đóng của
địch càng bị thu hẹp.
-Phơng pháp sử dụng:
Trớc hết, GV yêu cầu HS quan sát lợc đồ và tổ chức cho HS trả lời các câu hái:
Trình bày cuộc tiến công của ta trong Đông xuân 1953-1954 Nhận xét về thắng lơi của ta trong Đông Xuân 1953-1954
Sau khi HS trả lời, Gv nhận xét, bổ sung và kết luận nh nội dung trên 3. Lợc đồ các đợt tấn công của quân ta vào Điện Biên Phủ -Nôị dung:
Điện Biên Phủ là một cánh đồng rộng lớn, nằm dọc theo sông Nậm Rốm, ở giữa vùng rừng núi Tây Bắc, dài chừng 18km, rộng từ 6 – 8 km, giữa là Châu Lị Mờng Thanh. Đế quốc Pháp, Mỹ coi Điện Biên Phủ là một địa bàn chiến lợc hết sức quan trọng. Địch xây dựng ở đây 8 cụm cứ điểm, chia làm 3 khu phòng thủ: trung tâm, Bắc và Nam với 49 cứ điểm, 2 sân bay.
Phân khu trung tâm Mờng Thanh tập trung 2/3 lực lợng địch, có cơ
quan chỉ huy, trận địa pháo, sân bay, hậu cần và hệ thống cứ điểm trên cao.
Phân khu Bắc gồm các cứ điểm độc lập, Bản Kéo, và cụm cứ điểm Him Lam.
Phân khu Nam là một cụm cứ điểm có trận địa pháo và sân bay Hồng Cóm.
Mỗi cụm cứ điểm là một hệ thống hoả lực nhiều tầng, các đờng hào chi chít lối những cứ điểm lại với nhau. Toàn bộ cơ quan chỉ huy, nơi đặt súng
đạn, chỗ ngủ đều nằm chìm dới mặt đất. Mỗi cứ điểm đều đợc bao bọc bằng nhiều tuyến chiến hào, những ụ súng chi chít, đất đắp dày trên 3m và một rừng dây thép gai xung quanh dày từ 20-50m, có b i mìn dày đặc, có lã ới dây
điện sát mặt đất. Lực lợng của địch ở đây lên tới 16.200 tên, gồm đủ các binh chủng: Bộ binh, pháo binh, công binh, thiết giáp, không quân”.
Đây là một tập đoàn cứ điểm mạnh, vì lực lợng quân địch đông, trang bị vũ khí hiện đại, công sự và cách bố phòng rất kiên cố. Vì vậy, địch coi “con nhím khổng lồ Điện Biên Phủ” là “một pháo đài bất khả xâm phạm.
Đối với đợt tấn công thứ nhất, giáo viên lợc thuật trên bản đồ: “ngày 13/3, quân ta tấn công Him Lam. Sau một đợt pháo bắn yểm hộ, bộ binh ta tiến lên chiếm các cứ điểm. Đại đội bộc phá của anh Phan Đình Giót đợc lệnh tiến lên trớc. Địch bắn ráo riết, tuy bị thơng vong nhiều, nhng các chiến sĩ bộc phá vẫn tiến và phá đợc 4 hàng rào, một mảng lô cốt 1. Anh Giót đ bị thã -
ơng xong lô cốt 3 vẫn phụt lửa nh ma, ngăn bức tiến của đồng đội. Anh quyết
định bò lên dới nàn ma đạn, đến tận chân tờng lô cốt 3, rồi nhổm lên áp chặt lng vào lỗ châu mai. Hoả lực của địch tắt hẳn, xung kích của ta ào ạt xông lên. Nửa giờ sau lá cò chiến thắng của ta phất cao trên cứ điểm Him Lam.
Giải phóng xong Him Lam, ta tiến đánh Độc Lập, Bản Kéo (ở đây cần sử dụng chân dung Phan Đình Giót để lợc thuật). Sau 5 ngày chiến đấu, ta đã
diệt 2 nghìn địch, hạ 12 máy bay, uy hiếp trực tiếp sân bay Mờng Thanh.
Tên Pirốt chỉ huy pháo binh địch ở Điện Biên Phủ phải dùng lựu đạn tự tử”.
Đợt 2 từ (30/3 đến 24/4), ta tấn công vào khu đông Mờng Thanh. Giáo viên dựa vào sách giáo khoa kết hợp với bản đồ để trình bày.
Đợt 3 (từ 1/5 đến 7/5) ta chiếm các cao điểm còn lại ở phía Đông và tấn công trung tâm Mờng Thanh – Hồng Cúm. Giáo viên dựa vao bản đồ để tờng
thuật: “Tối 1/5, quân ta xung phong bất ngờ tiêu diệt địch, chiếm toàn bộ đồi C1 và một số cao điểm khác, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch ở phía Tây. Chiều 6/5 ta đào đờng ngầm vào tận đỉnh đồi A1, tiếng nổ của khối bộc phá 1nghìn kg đ phá tan điểm cao cuối cùng nguy hiểm này, đồng thời mởã
đầu hiệu lệnh tổng công kích của quân ta. 17 giờ 30 ngày 7/5, quân ta đánh thẳng vào trung tâm Mờng Thanh. Nh một cơn nốc, các chiến sĩ của đại đội Tạ Quốc Luật vợt qua cầu Mờng Thanh, theo vết xe tăng địch mà tiến sâu vào khu trung tâm. một tên sĩ quan nguỵ bị bắt, đ chỉ cho các anh hầm Đờã cát xtơri. Đó là cái núi những bao tải đất chồng chất lên nhau. Khi các anh tiến đến gần, 4 chiếc xe tăng đỗ quanh hầm nhả đạn để bảo vệ chỉ huy. Vinh và Nhỏ đ bò sát tới gần ném lựu đạn vào xe, một chiếc bốc cháy, một chiếcã
đứt xích, còn lại 2 chiếc khác bỏ chạy, để lại hầm chỉ huy không ngời bảo vệ.
Đại đội trởng Tạ Quốc Luật cùng với Vinh, Nhỏ và một số chiến sĩ khác xông vào cửa hầm và ném lựu đạn. Trong đám khói mịt mù, một tên lính Pháp giơ
tay hàng. Họ giáp mặt tớng Đờ cát xtơri quần áo sạch sẽ,đeo một cặp huân chơng trên ngực, mặt tái nhợt. Bộ tham mu của tập đoàn cứ điểm đứng quanh phía sau. Chiến sĩ Vinh xông tới chĩa mũi lê sáng quắc vào ngực y và quát “giơ tay lên!”. Theo lệnh Đại đội trởng Tạ Quốc Luật, Đờ cátxtơri cùng với bộ tham mu của y lủi thủi chui ra khỏi hầm, cúi đầu đi giữa những lòng súng của các chiến sĩ Vinh, Nhỏ… Về Sở chỉ huy của ta, Đờ cátxtơri và toàn bộ bộ chỉ huy bị bắt sống. Lá cờ quyết chiến, quyết thắng của ta tung bay trên nóc hầm Đờ cátxtơri. Đêm hôm đó, ta tiêu diệt nốt Hồng Cúm. Chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn toàn thắng lợi”.
Kết thúc phần diễn bíên, giáo viên có thể đọc một đoạn thơ của Tố Hữu trong bài “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”, hoặc bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Quan ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ”:
… “Hơn 50 ngày ta đánh đồn, ta chiếm một đồn lại một đồn.
Quân giặc chống cự tuy rất hăng, Quân ta anh dũng ít ai bằng.
Na Va, Cô Nhi đều méo mặt,
Quân giặc tan hoang, ta vây chặt Giăc kéo từng loạt ra hàng ta, Quân ta vui hát khải hoàn ca .“ ” Mời ba quan năm đầu hàng nốt, Tên tớng chỉ hu y cũng bị nhốt.
Một vạn sáu ngàn tên giặc tây,
Đều là tù binh hoặc bỏ thây…”
-Hớng dẫn sử dụng:
GV cho HS quan sát lợc đồ nêu các câu hỏi:
H y cho biết vị trí của Điên Biên Phủ?ã
Trình bày trên lợc đồ diễn biến chiến dịch Điên Biên Phủ.
ý nghĩa của chiến dịch Điên Biên Phủ?
Sau khi HS trả lời, GV nhận xét và kết luận nh trên.
4. Hình. Bộ đội ta kéo pháo vào Điện Biên Phủ -Néi dung
Trong ảnh là cảnh bộ đội của đại đoàn 351 đang kéo pháo vào Điện Biên Phủ. Đờng Tuần Giáo đi Điện Biên Phủ dài 80km. Đoạn đờng này hẹp lại nhiều cua, có đến hơn 100 cầu lớn, nhỏ nhng đều bị hỏng, muốn xe ôtô và pháo lên đợc Điện Biên Phủ thì phải gấp rút mở lại đờng. Ta đ điều 2 trungã
đoàn bộ binh từ lực lợng bao vây ra cùng trung đoàn công binh 151 tập trung làm suốt ngày đêm. Sau 11 ngày, đờng Tuần Giáo đi Điện Biên Phủ đ đã ợc khai thông. Tuy vậy, đờng vẫn còn rất xấu.
Đầu tháng 1/1954, đại đoàn 351 pháo binh tiến vào tuyến đờng Tuần Giáo - Điện Biên Phủ. Đến km 69, vì đờng làm gấp, nhiều chỗ không thể cho xe pháp qua đợc, nên phải dùng sức ngời kéo với đoạn đờng dài 15km. Việc dùng sức ngời để kéo khối sắt thép nặng hàng tấn vợt qua núi cao, vực thẳm là một việc làm vô cùng khó khăn nhng cũng thật là vĩ đại và kỳ công. Ta dự
định trong 3 đêm sẽ đa pháo vào đến bản Nghịu, nhng trong thực tế đ kéoã tới 7 đêm mà pháo vẫn cha đến đợc vị trí tập kết. Trớc tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch đ quy định: Đại đoàn 351 pháo binh đã a lực lợng vào khu vực Nà Tim, Nà Hi để giảm khoảng 3 ngày đờng kéo pháo.
Trong ảnh, chúng ta thấy các chiến sĩ pháo binh đang gò lng kéo khẩu pháo lên đèo, cả ngời và pháo đều phải nguỵ trang bằng lá cây. Đờng rừng thì hẹp, bề ngang chỉ vừa đủ bề ngang của khẩu pháo. Các chiến sĩ đ buộcã dây ch o vào khẩu pháo và đứng thành 2 hàng, ngã ời nọ đứng sát vào ngời kia. Quan sát kỹ bức ảnh, ta còn thấy ở đuôi khẩu pháo còn có chiến sĩ
đẩypháo và pháo kéo dến đâu thì phải có ngời chèn pháo đến đấy, đề phòng pháo trợt xuống dốc. Ngoài ra, có một chiến sĩ đứng ngoài 2 hàng hô: 1,2,3 hò rô ta…! cứ thế, cứ thế với lòng yêu nớc, quyết tâm tiêu diệt giặc, các chiến sĩ pháo binh của quân đội ta đ kéo đã ợc các khẩu pháo vào trận địa, sẵn sàng nã
những đòn sấm sét xuống đầu quân thù.
-Hớng dẫn sử dụng
GV cho HS quan sát bức tranh và tổ chức HS trả lời các câu hỏi sau:
H y cho biết công cuộc chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ diễn raã nh thế nào?
ý nghĩa của việc chuẩn bị đó?
Sau khi HS trả lời GV kết luận nh nội dung trên
5.Hình. Lá cờ chiến thắng bay trên nóc hầm tớng Đờ Ca-xtơ-ri -Néi dung
Đây là hình ảnh các chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam đứng trên nóc hầm của tớng Đờ Ca-xtơ-ri, một chiến sĩ tay cầm cờ đỏ sao vàng, đang phất đi phất lại, lá cờ tung bay trớc gió; còn 2 chiến sĩ kia đang cầm chắc tay súng, lắp hầm đợc làm bằng thép uốn cong, xếp liền khít với nhau thành hình mái vòm; xung quanh hầm, đất cát ngổn ngang, thỉnh thoảng nhô lên những chiếc cặp, có lẽ là vết tích của hàng rào dây thép gai.
Chấp hành mệnh lệnh của bộ chỉ huy chiến dịch, tranh thủ thời cơ
tổng công kích vào tập đoàn cứ điểm, từ hớng Đông, Trung đoàn 209 tiến thẳng vào Mờng Thanh. ở phía Tây, trung đoàn 36 tiến vào cứ điểm cuối cùng che trở cho sở chỉ huy của giặc. Trung đoàn 88 cũng mở đờng qua sân bay để tiến vào xào huyệt cuối cùng của chúng. Thế của ta nh nớc vỡ bờ, bộ
đội ta đánh đến đâu, địch phải kéo cờ trắng đầu hàng tới đó. Nhiều toán địch lũ lợt kéo nhau ra nộp vũ khí. 17 giờ 15 phút, một cánh quân của đại đoàn
312 tiến tới sát nắp hầm chỉ huy địch. Trung đội trởng Chu Bá Thệ phát hiện trên lắp hầm của Đờ Ca-xtơ-ri có một lá cờ trắng đang phất. Đại đội tr- ởng Tạ Quốc Lập lập tức cùng 2 chiến sĩ Vinh và Nhỏ tiến vào sở chỉ huy
địch. 17 giờ 30 phút thiếu tớng Đờ Ca-xtơ-ri cùng toàn bộ Bộ tham mu bị bắt sống. Chính lúc ấy, lá cờ quyết chiến quyết thắng của quân đội ta tung bay trên lắp hầm sở chỉ huy địch
-Hớng dẫn sử dụng
Cho HS quan sát bức tranh tổ chức cho HS tìm hiểu nội dung nh trình bày ở trên.
6. Tô vĩnh diện(1924-1953)
Anh sinh năm 1924 tại x Nông Trã ờng, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá, trong một gia đình nông dân nghèo, phải đi ở kiếm ăn. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, anh tham gia dân quân ở địa phơng, năm 1949 xung phong vào bộ đội.
Để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Tô Vĩnh Diện đợc điều về làm tiểu đội trởng một đơn vị cao xạ pháo. Trên đờng đơn vị hành quân hơn 1000km tới vị trí tập kết để tham gia chiến dịch, anh luôn luôn gơng mẫu làm mọi việc nặng nhọc, động viên giúp đỡ đồng đội đa pháo tới đích an toàn.
Có lệnh kéo pháo ra, anh lại đi sát từng ngời, động viên giải thích rõ nhiệm vụ, giúp anh em quyết tâm khắc phục khó khăn.
Đêm tối, đờng dốc, dây kéo pháo đứt, pháo lao nhanh xuống dốc. Trớc cảnh hiểm nghèo đó, anh hô anh em: “thà hi sinh, quyết bảo vệ pháo”, và buông tay lái xông lên trớc, lấy thân mình lao vào chèn bánh xe pháo. Pháo bị vớng nghiêng tựa vào bờ, nhờ đó đơn vị giữ đợc pháo không rơi xuống vực.
Anh đợc quốc hội, chính phủ truy tặng Huân chơng chiến công hạng nhất, huân chơng quân công hạng hai và danh hiệu anh hùng lực lợng vũ tranh nh©n d©n.
7. Phan đình giót (1920-1954)
Anh sinh năm 1920, quê huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà tĩnh.
Nhà rất nghèo, bố mất sớm, anh phải đi ở, làm thuê từ năm 13 tuổi.
Cách mạng tháng Tám thành công, anh tham gia tự vệ chiến đấu, đến năm 1950 xung phong vào bộ đội chủ lực.
Trong chiến đấu, anh luôn luôn nêu cao tinh thần quả cảm, kiên quyết vợt mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.
Mùa đông năm 1953, đơn vị anh tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.
Chiều ngày 13-3-1954, có lệnh nổ súng tiêu diệt vị trí Him Lam, sau nhiều loạt pháo bắn dọn đờng, các chiến sĩ ta xông lên liên tiếp đánh bộc phá. Địch tập trung hoả lực, bắn nh trút đạn xuống trận địa làm cho đồng đội bị thơng vong nhiều. Mặc dù bị thơng ở đùi, Phan Đình Giót vẫn ôm bộc phá lao lên
đánh tiếp. Lợi dụng thời cơ địch đang hoang mang, anh vọt lên bám chắc lô
cốt, ném pháo, bắn kiềm chế cho đơn vị tiến vào. Bị thơng vào vai, máu chảy
đầm đìa, anh cố gắng nhích dần ngời đến lô cốt số ba, rồi dùng hết sức còn lại lao cả thân mình vào bịt kín lỗ châu mai địch. Hoả điểm của địch bị dập tắt, toàn đơn vị ào ạt xông lên nh vũ b o, tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam.ã
Anh đợc Quốc hội và Chính phủ trao tặng Huân chơng Quân công hạng hai và danh hiệu Anh hùng lực lợng vũ trang nhân dân .
8. Hầm đờ cát
Chứng tích của một sức mạnh đợc đánh bại lớp lớp, tầng tầng trên lòng chảo
Điện Biên. Có những cứ điểm còn nguyên vẹn những bãi mìn, những lớp rào kẽm gai, những lô cốt, hoả điểm bắn thẳng, bắn chéo, bắn lớt sờn, hầm ngầm, điểm tựa, sở chỉ huy Có những cứ điểm bị đập nát từng mảng, những đống vỏ đạn dày có ngọn, bông… băng, vỏ đồ hộp, vải dù, tăng bạt xen lẫn với những tranh ảnh khoả thân và những cuốn sách tình ớt át, những cuốn nói về ngời lính Lê Dơng, kinh thánh, lịch bỏ túi của tớng Na-va dạy lính cách sống ở Việt Nam. Một chiếc máy bay hen-cát cắm đầu xuống một
đoạn hào giao thông trục, thân nát vụn. Những chiếc xe tăng đứt xích bị lật nghiêng bên cạnh những khẩu súng máy nát vụn .…
Chúng tôi vào hầm Đờ-cát. Trên lắp hầm là những bao cát. Xung quanh hầm là những thùng phuy đổ đầy đất, xếp bao cát. dới lớp bao cát dày trên 2m là những tấm tôn thép uốn cong rồi đến những tấm vỉ sắt lót sân bay. Dới cùng là những tấm gỗ thân dày. Hầm có 4 gian dài khoảng 9m, rộng 4m, cao 2,5m. Mỗi ngăn có tờng ngăn cách