KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.3 Công tác quản lý công nợ tại CN
3.3.2 Chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý công nợ đối với khách hàng và nhà
3.3.2.1 Phân tích một số chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý công nợ phải thu đối với khách hàng tại CN
Bảng 3.18 Chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý nợ phải thu với khách hàng
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
1. DT thuần 1000đ 95.400.828 132.066.183 185.650.475
2. Nợ phải thu khách hàng đầu năm 1000đ 19.081.172 21.224.493 33.979.431 3. Nợ phải thu khách hàng cuối năm 1000đ 21.224.493 33.979.431 38.587.853
4. Số dư bình quân 1000đ 20.152.832 27.601.962 36.283.642
5. Số vòng luân chuyển khoản phải
thu Vòng 4,73 4,78 5,12
6.Thời gian quay vòng các khoản
phải thu Ngày 76,05 75,24 70,36
7.Tổng nguồn vốn 1000đ 52.840.361 77.230.017 103.849.545
8. Tỷ lệ nợ phải thu/ tổng nguồn vốn % 40,17 44 37,16
9. Số nợ khó đòi 1000đ 1.384.206 2.132.042 2.859.717
10. Số nợ khó đòi/ Nợ phải thu
khách hàng % 6,52 6,27 7,41
(Nguồn phòng tài chính kế toán) Qua bảng tổng hợp tình hình công nợ phải thu đối với khách hàng ta thấy công nợ đối với khách hàng tại CN chủ yếu là nợ phải thu. Vì vậy, quản lý nợ phải thu khách hàng là trọng tâm của công tác quản lý công nợ này. Thực trạng công tác quản lý công nợ phải thu khách hàng ở CN có thể được đánh giá qua một vài chỉ tiêu liên quan đến khả năng phát sinh và thu hồi các khoản nợ phải thu.
Qua bảng ta thấy số tiền khách hàng nợ liên tục tăng qua các năm: số tiền khách hàng nợ bình quân tăng qua 3 năm, nguyên nhân chủ yếu khiến cho khoản phải thu của khách hàng tăng lên là do khách hàng của CN gần đây tăng lên, thêm vào đó là CN đang mở rộng địa bàn tiêu thụ rộng khắp các vùng miền trung và miền Bắc, bên cạnh đó sản phẩm của CN có tính cạnh tranh lớn, thường chiếm thị phần lớn trên thị trường dược phẩm. Cùng với nợ phải trả, DT thuần cũng liên tục tăng lên. Cả hai yếu tố này tác động làm số vòng quay các khoản phải thu tăng dần từ 4,73 vòng năm 2007, tăng lên 4,78 vòng năm 2008, năm 2009 là 5,12 vòng, điều đó thể hiện công tác quản lý nợ phải thu của CN đang dần được cải thiện, số vòng quay các khoản phải thu của CN quay vòng tăng dần nhưng tăng chậm cụ thể: năm 2007 mất 76,05 ngày; năm 2008 mất 75,24 ngày;
năm 2009 mất 70,36 ngày mới thu hồi được nợ hay số nợ phải thu mới quay được 1 vòng. Với thời gian chiếm dụng vốn như vậy là điều không tốt cho CN nhất là trong thời điểm hiện nay nền kinh tế đang trong giai đoạn lạm phát. Số vòng quay khoản phải thu nhỏ là điều không tốt vì DN bị chiếm dụng vốn thời gian dài.
Bên cạnh đó tỷ lệ vốn thực chất không tham gia vào quá trình SảN XUấTKD của CN đang ở mức khá cao. Năm 2007 tổng giá trị các khoản phải thu chiếm 40,17% tổng nguồn vốn, năm 2008 là 44%, năm 2009 chiếm 37,17%.
Qua đây ta thấy hiệu quả sử dụng vốn của CN kém hiệu quả, lượng vốn của CN hàng năm bị chiếm dụng là khá lớn. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường như hiện nay, việc chiếm dụng vốn giữa các DN là xảy ra thường xuyên. Tỷ lệ này chiếm khá lớn trong cơ cấu tổng nguồn vốn của CN, do vậy CN cần phải cố gắng hơn nữa để cải thiện tình hình này, đặc biệt là phải tìm cách thu hồi các khoản nợ để các khoản phải thu này giảm dần trong các năm sau.
Tỷ lệ nợ phải thu khách hàng quá hạn trong tổng nợ phải thu khách hàng qua 3 năm chiếm tỷ lệ tương đối cao trong cơ cấu nợ phải thu, thực trạng công tác thu nợ của CN được thực hiện tương đối tốt, tuy nhiên trong năm qua có xu
hướng tăng lên nhưng mức tăng chậm cụ thể: năm 2007 số nợ quá hạn chiếm 6,52% tổng số nợ phải thu, năm 2008 là 6,27%, năm 2009 là 7,41%. Tỷ lệ nợ quá hạn dẫn đến khó đòi của CN chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số nợ phải thu, do trong thời gian qua trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đòi nợ CN làm chưa cứng rắn mới chỉ dừng lại ở gọi điện thoại thúc dục, nhắc nhở, và có xử phạt hành chính bằng cách tính tiền lãi tiền vay quá hạn chưa được áp dụng triệt để nên chưa mang lại hiệu quả cao trong việc thu hồi khoản nợ này. Vì vậy, CN cần xem xét tính hiệu quả trong công tác đôn đốc thu hồi nợ của mình trong thời gian tới để giảm thiểu số nợ quá hạn chuyển sang nợ khó đòi, tránh gặp rủi ro không đòi được nợ.
3.3.2.2 Chỉ tiêu phân tích tình hình thanh toán các khoản phải trả Bảng 3.19 Chỉ tiêu phân tích tình hình thanh toán nợ phải trả nhà cung cấp
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
DT thuần 1000đ 95.400.828 132.066.183 185.650.475
1. Tổng nợ phải trả đầu kỳ 1000đ 10.495.304 13.379.179 22.018.278 2. Tổng nợ phải trả cuối kỳ 1000đ 13.379.179 22.018.278 26.408.939 3. Số dư bình quân các khoản phải trả 1000đ 11.937.241 17.698.728 24.213.608
5. Số vòng luân chuyển các khoản phải trả Vòng 7,99 7,46 7,67
6. Thời gian quay vòng các khoản phải trả Ngày 45,05 48,25 46,95
7.Tổng nguồn vốn 1000đ 52.840.361 77.230.017 103.849.545
8. Tỷ lệ nợ trên tổng nguồn vốn % 25,32 28,51 25,43
(Nguồn phòng tài chính kế toán) Trong những năm qua tại CN không phát sinh các khoản nợ phải trả quá hạn đó là một biểu hiện tốt của công tác thanh toán nợ phải trả nói chung và nợ phải trả nhà cung cấp nói riêng.
Qua 3 năm số dư bình quân các khoản phải trả có xu hướng tăng lên, đồng thời DT thuần cũng tăng lên qua các năm làm cho số vòng luân chuyển các khoản phải trả giảm dần. Thời gian quay vòng các khoản phải trả năm 2007 là 45,05 ngày, năm 2008 là 48,25 ngày, năm 2009 là 46,95 ngày. Số vòng luân chuyển có xu hướng giảm dần trong hai năm gần đây và số ngày của một vòng luân chuyển khoản phải trả thường lớn hơn 45 ngày. Điều này chứng tỏ CN đã nỗ lực trong việc thanh toán các khoản phải trả, so với công tác thu nợ vòng quay các khoản phải thu ngắn hơn vòng quay các khoản phải trả tức là CN thu hồi nợ chậm hơn so với việc trả nợ. Nhìn chung thời gian chiếm dụng vốn của CN thường nằm trong hạn nợ do hai bên thỏa thuận, CN luôn duy trì mức độ quay vòng các khoản phải trả hợp lý. Vì vậy trong những năm qua CN được đánh giá là bạn hàng uy tín của nhiều đối tác và thường được hưởng các chính sách chiết khấu của đối tác và dần đảm bảo uy tín cho CN.
Bên cạnh việc phân tích số vòng luân chuyển và thời gian quay vòng các khoản phải trả, việc phân tích tỷ lệ giữa tổng giá trị các khoản phải trả với tổng nguồn vốn nhằm biết được các khoản phải trả chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn được huy động. Từ đó biết được mức độ chiếm dụng vốn của DN cao hay thấp. Qua bảng thấy rằng năm 2007 tỷ lệ nợ chiếm 25,32%, năm 2008 là 28,51%, năm 2009 là 25,43%. tổng nguồn vốn. Ta thấy tỷ lệ nợ qua 3 năm chiếm khoảng hơn 25%, thực chất CN có hơn 75% nguồn vốn chủ sở hữu còn hơn 25% là vốn chiếm dụng. Tỷ lệ này cho thấy mức chiếm dụng vốn của CN không cao, qua đó ta thấy khả năng tự chủ về tài chính của CN khá cao đồng thời phản ánh khả năng thanh toán nợ phải trả của CN cao. Cho nên CN thường chủ động trong việc thanh toán các khoản nợ của mình với đối tác.