Phân biệt những điểm khác nhau căn bản giữa Hague – Visby 1968 và Hamburg 1978

Một phần của tài liệu Tiểu luận - Luật Vận Tải Biển - đề tài - Tìm hiểu các nguồn luật điều chỉnh vận đơn đường biển (Bill of Lading) và giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển (Trang 44 - 48)

PHẦN VII: CÁC ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

II. Phân biệt những điểm khác nhau căn bản giữa Hague – Visby 1968 và Hamburg 1978

Đặc Điểm Hague – Visby 1968 Hamburg 1978 1.

Phạm vi áp dụng của các nguồn luật

Áp dụng cho mọi vận đơn liên quan đến việc chuyên chở hàng hoá giữa các cảng của hai nước khác nhau nếu vận đơn được cấp ở một nước tham gia quy tắc hay hàng chuyên chở từ cảng của hai nước tham gia quy tắc hoặc hợp đồng, vận đơn có dẫn chiếu tới quy tắc và luật quốc gia cho phép áp dụng qui tắc

Áp dụng đối với mọi hợp đồng chuyên chở hàng hoá bằng đường biển giữa hai nước nếu cảng xếp dỡ trong hợp đồng thuộc quốc gia ký công ước hay vận đơn được cấp tại quốc gia ký công ước hoặc hợp đồng, vận đơn có dẫn chiếu tới công chiếu tới công ước hay luật quốc gia cho phép áp dụng công ước.

Qua quy định phạm vi áp dụng của các nguồn luật như trên thì Hamburg Rulls rộng hơn Hague-Visby 1968

2. Đối tượng hàng hoá các nguồn luật điều chỉnh

Quy định hàng hoá trong các nguồn luật này bao gồm tất cả các loại hàng hoá trừ súc vật sống và hàng hoá theo hợp đồng chuyên chở được khai là xếp trên boong và thực tế là chuyên chở trên boong.

Quy định hàng hoá bao gồm tất cả các loại hàng hoá kể cả súc vật sống, hàng đóng trong container, palet hoặc khi hàng được bao gói thì bao gồm cả bao gói và các dụng cụ vận tải nếu không phải do người chuyên chở.

Hamburg coi súc vật sống trong chuyên chở cũng là hàng hoá và kể cả bao bì đóng gói hàng cũng như các dụng cụ dùng để chuyên chở hàng không phải do người chuyên chở cung cấp đều là hàng hoá cho nên khi bị tổn thất sẽ được bồi thường như là hàng hoá .

3. Thời Người chuyên chở phải chịu quy định thời hạn trách nhiệm

hạn trách nhiệm của người chuyên chở theo các nguồn luật

trách nhiệm đối hàng hoá kể từ khi hàng hoá được xếp lên tầu ở cảng đi cho đến khi hàng hoá được dỡ khỏi tầu tại cảng đến. Như vậy tổn thất đối với hàng hoá trước khi xếp hàng lên tàu hoặc sau khi dỡ hàng ra khỏi tàu đều không thuộc trách nhiệm của người chuyên chở.

của người chuyên chở tương đối giống nhau. Cụ thể là người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về hàng hoá kể từ khi nhận hàng để chở cho tới khi giao xong hàng cho người nhận

tại cảng đến.

Như vậy về thời hạn trách nhiệm của người chuyên chở theo Hamburg 1978 có được mở rộng hơn về không gian và thời gian so với Hague- Visby 1968

4. Cơ sở

trách nhiệm của người chuyên chở theo các nguồn luật

Đưa ra ba trách nhiệm và 17 trường hợp nguyên nhân làm căn cứ miễn trách cho người chuyên chở. Và vì liệt kê trách nhiệm và miễn trách như vậy cho nên khi hàng hoá bị tổn thất muốn được người chuyên chở bồi thường thì chủ hàng phải chứng minh tổn thất đến với hàng hoá là do lỗi của người chuyên chở. Trừ hai lỗi là

“tàu không đủ khả năng đi biển” muốn được miễn trách thì người chuyên chở phải chứng minh là mình đã có sự cần mẫn hợp lý và miễn trách thứ 17 người chuyên chở phải chứng minh là mình, đại lý hay người làm công không gây nên tổn thất.

Cơ sở trách nhiệm của người chuyên chở không diễn đạt về trách nhiệm và miễn trách như các nguồn luật trên mà quy định như sau:

- Người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mất mát hoặc chậm giao hàng gây thiệt hại mất mát khi hàng hoá còn trong phạm vi trách nhiệm của người chuyên chở.

Trừ phi người chuyên chở chứng minh được rằng đã áp dụng mọi biên pháp cần thiết hợp lý để tránh sự cố đó nhưng không được.

- Được coi là chậm giao hàng nếu hàng không được giao ở cảng dỡ theo quy định của hợp đồng vận chuyển trong thời gian thoả thuận. Nếu không thoả thuận thì trong thời gian hợp lý một người chuyên chở cần mẫn có thể giao. Hàng hoá coi như bị mất nếu trong vòng 60 ngày kể từ ngày hết hạn giao hàng mà hàng hoá không được giao.

- Người chuyên chở phải chịu trách nhiệm đối với hàng hoá bị

mất mát, hư hại hoặc chậm giao hàng do cháy gây nên thuộc lỗi của người chuyên chở hay nhưng mất mát hư hại đến với hàng hoá do việc dập cháy hoặc hạn chế hậu quả do cháy gây ra.

- Người chuyên chở không chịu trách nhiệm về mất mát hư hại do bản chất của hàng hoá đó gây nên như sút cân, bệnh dịch... (súc vật sống) khi họ đã làm đúng chỉ dẫn.

- Người chuyên chở không chịu trách nhiệm khi hàng hoá bị mất mát thiệt hại do phải tiến hành cứu hộ trên biển.

Cách quy định trách nhiệm của người chuyên chở trong quy tắc Hamburg1978 không liệt kê trách nhiệm và miễn trách mà dựa trên nguyên tắc “Lỗi hoặc sơ suất suy đoán” (Presumed Fault or Neglect). Theo nguyên tắc này, nếu có mất mát hư hỏng hoặc chậm giao hàng thì suy đoán rằng người chuyên chở có lỗi. Người chuyên chở muốn được miễn trách nhiệm thì phải chứng minh rằng mình không có lỗi hoặc đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết hợp lý để ngăn ngừa sự cố xảy ra.

5. Giới hạn trách nhiệm

Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở đã được nâng lên 10.000 Fr vàng cho một đơn vị hàng hoá hay một kiện hàng hay 30 Fr vàng cho một kilogam hàng hóa cả bì tuỳ theo cách tính nào có lợi chủ hàng có quyền lựa chọn (1 Fr vàng =

Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở theo Hamburg đã tăng lên rất nhiều so với Visby – 1968. Cụ thể giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở trong Hamburg 1978 là 835 SDR/1 đơn vị hàng hoá hay một kiện hàng hay 2,75 SDR/1kg hàng hoá cả bì tùy theo cách

của người chuyên chở theo các nguồn luật

65,5 mgr vàng, độ nguyên chất 900/1000) .

Năm 1979, Nghị định thư SDR đã thông qua để sửa đổi quy tắc Hague và Visby về giới hạn bồi thường, đồng SDR đã được đưa vào để tính toán bồi thường với mức 666,67 SDR/1đơn vị hàng hoá hoặc một kiện hàng hay 2 SDR/1kg hàng hoá cả bì tuỳ theo cách tính nào có lợi chủ hàng có quyền lựa chọn .

Visby Rulls có đề cập tới bồi thường hàng hoá vận chuyển bằng container hay Palet. Cụ thể là các kiện, bao, gói hàng... được tính là một đơn vị hàng hoá đòi bồi thường.

Nếu không kê khai thì cả container và hàng hoá trong đó được tính là một đơn vị hàng hoá đòi bồi thường

tính nào có lợi, người khiếu nại được quyền lựa chọn. Với những nước không là thành viên của IMF (International Moneytary Fund) hoặc những nước luật quốc gia cấm sử dụng SDR thì có thể tính giới hạn trách nhiệm bồi thường theo đơn vị tiền tệ (Moneytary Unit – MU) với mức tương ứng là 12.500 MU/1đơn vị hàng hoá hay kiện hàng hay 37,5 MU/1kg hàng hoá cả bì (1MU tương đương 65,5 mgr vàng với độ nguyên chất 900/1000). Đối với chậm giao hàng thì giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở sẽ là khoản tiền tương đương 2,5 lần tiền cước số hàng giao chậm nhưng không vượt quá tổng số tiền cước theo hợp đồng.

Khi hàng chuyên chở bằng container hay Palet... Nếu các kiện hàng, bao, gói hàng... đóng trong container hay Palet có kê khai số lượng trên vận đơn thì mỗi kiện hàng, bao, gói... được tính là một đơn vị hàng hoá đòi bồi thường. Không kê khai thì cả container hoặc palet cùng hàng hoá đóng trong đó tính là một đơn vị hàng hoá đòi bồi thường. Trường hợp vỏ container hay palet hoặc các dụng cụ vận tải khác dùng để chuyên chở hàng hoá nếu không do người chuyên chở cung cấp cũng được tính là một đơn vị hàng hoá đòi bồi thờng .

6.

Thông báo tổn thất quy định trong các nguồn luật

Khi nhận hàng tại cảng đến, nếu hàng hoá bị tổn thất hay nghi ngờ hàng hoá bị tổn thất, các nguồn luật đều quy định người nhận hàng phải thông báo cho người chuyên chở biết. Về thời gian thông báo tổn thất các nguồn luật quy định như sau :

+ Đối với tổn thất không rõ rệt

Quy tắc Hague-Visby 1968 quy định thông báo bằng văn bản trong vòng 3 ngày kể từ ngày giao hàng . Như vậy khi nhận hàng nếu như hàng bị tổn thất hay nghi ngờ có tổn thất người nhận hàng phải thông báo cho người chuyên chở biết trong thời gian quy định tuỳ từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên nếu thông báo tổn thất không được gửi đi như quy định thì cũng không ảnh hưởng hay phương hại tới quyền đi kiện của người nhận hàng.

+ Đối với tổn thất rõ rệt

Phải thông báo ngay trước hoặc trong khi giao hàng. Riêng Hamburg 1978 quy định thông báo không muộn hơn ngày làm việc sau ngày hàng được giao.

+ Đ ối v ới t ổn th ất kh ông r õ r ệt Quy định thông báo trong vòng 15 ngày liên tục kể từ ngày hàng được giao. Chậm giao hàng thông báo trong vòng 60 ngày liên tục kể từ ngày hàng được giao. Hàng bị mất thông báo trong vòng 90 ngày kể từ ngày hàng đáng lẽ phải được giao.

7. Thời hiệu tố tụng quy định trong các nguồn luật

Quy định thời hiệu tố tụng trong vòng 1 năm kể từ ngày giao hàng hoặc từ ngày hàng hoá đáng lẽ phải được giao.

Quy định thời hiệu tố tụng là 2 năm kể từ ngày giao hàng.

Luật hàng hải Việt Nam lại không quy định thời hiệu tố tụng mà chỉ đề cập thời hạn khiếu nại là 1 năm kể từ ngày giao hàng.

Một phần của tài liệu Tiểu luận - Luật Vận Tải Biển - đề tài - Tìm hiểu các nguồn luật điều chỉnh vận đơn đường biển (Bill of Lading) và giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển (Trang 44 - 48)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(63 trang)
w