1.2. Khái quát về tiểu thuyết Ma Văn Kháng
1.2.1. Hoàn cảnh xã hội, văn học và sự xuất hiện của Ma Văn Kháng
1.2.2.2. Đề tài về đời sống của người dân thành thị sau 1975
Từ sau 1975, văn xuôi Việt Nam vận động và phát triển trong một hoàn cảnh mới - cuộc sống thời bình. Ý thức tinh thần xã hội đã và đang có nhiều biến đổi theo chiều hướng dân chủ hóa, kéo theo sự dân chủ hóa trong ý thức nghệ thuật dẫn đến hàng loạt thay đổi trong đó có quan niệm về hiện thực. Hơn nữa, cách tiếp cận hiện thực đời sống của văn học trong giai đoạn này cũng đã khác trước. Đấy là những điều kiện có tính nền tảng cho sự mở rộng đề tài trong văn xuôi Việt Nam nói chung. Cùng với những biến đổi chung của văn học nước nhà, Ma Văn Kháng cũng đã có những thay đổi lớn trong sự nghiệp cầm bút của mình. Đó là sự chuyển hướng trong cảm hứng hiện thực, trong bút pháp của nhà văn được đánh dấu bằng tác phẩm Mưa mùa hạ.
Có lẽ khi chứng kiến những tác phẩm viết về miền núi Tây Bắc của Ma Văn Kháng, không ít người đã nghĩ rằng ông chính là “nhà văn dân tộc vùng cao”, nhưng ông thực sự đã làm người đọc bất ngờ trước bước ngoặt này. Vốn là người thành phố, khi trở về với tư cách như một người đi xa trở lại chốn cũ, Ma Văn Kháng có dịp chứng kiến tất cả những biến động dù là nhỏ nhất ở nơi đây. Những cảnh đời mới, những hiện tượng nghịch mắt của cuộc sống trong thời kì mới đã khiến ông cần phải nói, phải viết. Đấy cũng chính là nguồn cảm hứng dồi dào cho một giai đoạn sáng tác mới của ông. Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989)… lần lượt ra đời đã làm cho đời sống văn học vốn đang rất sôi động càng sôi động hơn. Trên phương diện đề tài, giai đoạn này, tiểu thuyết Ma Văn Kháng đã có sự mở rộng đáng chú ý: đề tài quản lý kinh tế xã hội và đề tài thế sự, đạo đức xã hội. Thực sự đây là giai đoạn mà tiểu thuyết của ông có nhiều thành tựu đóng góp cho nền văn học đổi mới.
Sau 1975, đặc biệt là từ giữa những năm 80 trở đi, về phương diện quản lí kinh tế - xã hội trong thời bình ở nước ta có nhiều vấn đề đáng nói. Bên cạnh những thành tựu mà chúng ta đã đạt được trong công cuộc xây dựng đất nước, cũng còn tồn tại nhiều thiếu sót, hạn chế trong
cơ chế tổ chức quản lí điều hành; trong nhận thức về cách mạng XHCN đâu đó vẫn còn ấu trĩ, non nớt. Bởi vậy, hướng về đề tài quản lí kinh tế - xã hội là một hướng tiếp cận mới của văn học giai đoạn này. Thực hiện phương châm “nhìn thẳng vào sự thật” mà Đại hội Đảng lần thứ VI đã vạch ra, văn học đã vào cuộc, đảm nhận sứ mệnh mới: đào sâu vào hiện thực cuộc sống, truy tìm nguyên nhân, cắt nghĩa hiện thực, đồng thời góp phần xây dựng một cơ chế quản lí hiệu quả, dân chủ hơn, vì con người nhiều hơn nữa.
Như một tất yếu, trong mảng đề tài này, vấn đề con người quản lí được đặt ra hàng đầu, vì đây chính là “nhân vật trung tâm của các cuộc vận động chống quan liêu bao cấp, đổi mới cơ chế, cải tiến quản lí” [67, tr. 242]. Trong tiểu thuyết của mình, Ma Văn Kháng đã không né tránh hiện thực cuộc sống đang diễn ra trước mắt. Ngược lại, ông đã mổ xẻ sự thật như một nhu cầu thực sự của người cầm bút. Ông đã không ngần ngại xây dựng một loạt nhân vật quản lí tiêu cực như bí thư thị ủy Lại, bí thư chi bộ Dương, hiệu trưởng Cẩm, tổng cục trưởng Nguyễn Văn Phô… Đó là những con người yếu về năng lực, thấp về trình độ, là hiện thân nguyên nhân của sự hỗn loạn các chuẩn mực giá trị đạo đức, bệnh quan liêu… Điểm qua một số gương mặt tiêu biểu ta sẽ thấy rõ điều đó. Là một bí thư Thị uỷ - “người đại diện cho cả một thời đại”
nhưng ông Lại là người xuất thân là một “đồ tể”. Cái thấp kém về trình độ của ông Bí thư thể hiện ngay trong lời phát biểu nhân ngày khai trường của một trường cấp ba mới được thành lập ở thị xã miền núi: “Hôm nay, thị xã ta khai giảng trường cấp ba. Rồi đây chúng ta sẽ mở trường cấp bốn, cấp năm, cấp sáu. Cũng như hiện tỉnh ta đã có giống lợn Mường Khương, nhiều mỡ, rồi đây ta sẽ có giống lợn lai kinh tế nhiều nạc, tăng trọng nhanh” [82, tr. 102]. Một sản phẩm được đào tạo hết sức chắp vá là hiệu trưởng Cẩm. “Cẩm vào nghề giáo đâu có phải là từ một hành vi tự nguyện! Có sức khỏe, lại giật giải trong cuộc chạy thi 1.000m ở huyện, anh bí thư đoàn xã tên Nguyễn Văn Cẩm nọ được mời vào dạy thể dục ở trường...”. Sau đó “vì Cẩm là đảng viên duy nhất ở trường” nên được đề bạt làm hiệu trưởng và được cử đi học Đại học Sư phạm, nghĩa là do nhu cầu khách quan chứ không phải do Cẩm muốn. Và cuối cùng là Cẩm trở thành một giáo viên văn mà cả đời “chưa đọc hết lượt truyện Kiều” nên Cẩm dạy truyện Kiều như “làm trò cười cho giáo giới”. Bí thư chi bộ Dương lại xuất hiện như là một cái máy, một điển hình cho sự giáo điều, lúc nào cũng chỉ có mấy từ cửa miệng: “Xét trên quan điểm toàn diện”. Là một bí thư chi bộ hẳn hoi nhưng ông Dương cắt nghĩa Mácxít là “chủ nghĩa Mác cộng với Xittalin”. Ở ngôi trường Trung học số 5 ấy, Dương giữ chức vụ bí thư chi bộ đã mười lăm năm nhưng ông chẳng có được công trạng gì đáng kể. Mọi người nhìn vào thì thấy đó chỉ là một con người “vô tích sự và thật lố lăng, vì ông như một con rối mà lại tưởng rằng mình là
nhân vật quan trọng số một”. Đó còn là ông cục trưởng Nguyễn Văn Phô nổi tiếng với câu nói
“Tôi không cần người có tài, tôi chỉ cần đoàn kết”...
Ma văn Kháng đã khắc họa mỗi nhân vật với một chân dung mang những nét riêng biệt, rất sinh động. Điểm chung của họ: đều là những người nắm giữ cương vị quan trọng, gánh vác trọng trách của Đảng và nhà nước, của đoàn thể, song lại kém năng lực, kém phẩm chất của người cán bộ. Các nhân vật quản lý tiêu cực ấy đều đặt nhầm chỗ và ngồi sai vị trí. Bởi vậy, họ trở thành những mối họa cho xã hội, kìm hãm những con người tài năng đức độ xung quanh họ.
Vậy tại sao lại có hiện tượng như thế? Tại sao lại có nhiều sự đặt nhầm chỗ đến vậy? Ở chỗ này, chỗ kia trong tác phẩm của mình, Ma Văn Kháng đã cắt nghĩa hiện tượng ấy xuất phát từ cái nhìn đầy chính trị, cực đoan khi nhìn nhận, đánh giá con người của một thời bằng các hình tượng nghệ thuật sinh động. Giá trị của con người được xem xét chủ yếu ở những phần không cơ bản, nằm ngoài con người, cụ thể là căn cứ vào lý lịch và thành phần xuất thân. Hiệu trưởng Cẩm là “sản phẩm của một thời lấy lý lịch ba đời nghèo khó, lấy tấn phân xanh, phân chuồng làm ra thước đo giá trị duy nhất mỗi con người”, còn “lý lịch ba đời Cẩm, khỏi chê. Cụ nội, ông nội, bố đều là mõ, loại cùng đinh, mạt hạng bấy giờ”. Một người đạp xích lô như ông Nhuần cũng ý thức rất rõ về giá trị của mình trong gia đình. Hằng ngày ông có thể kiếm được một khoản tiền gấp bảy tám lần lương của một anh thợ tiện bậc bảy trên bảy, nhưng không vì thế mà ông thấy mình có giá trị hơn. Điều đáng tự hào là ở chỗ, cái nghề đạp xích lô đó của ông Nhuần đã đem lại cho gia đình ông danh hiệu “gia đình lao động dân nghèo thành phố”. Vào thời này, đi đâu người ta cũng bắt gặp bức tranh vẽ những nhân vật tiêu biểu cho bốn tầng lớp chính yếu của xã hội: công, nông, binh, trí. Bởi thế mà Liệu sẵn sàng “bỏ dở lớp bảy trong khi hoàn toàn có thể hoàn thành cấp học PTCS này” để trở thành “gã đánh xe ngựa ở một xí nghiệp in của Hà Nội”. Với Liệu, đó là một con đường tiến thân dễ dàng, vì anh có thể đến với tầng lớp thợ thuyền, được đứng cùng vị trí với những con người “hội đủ các ưu điểm lớn của thời đại”, là “người tiêu biểu cho phương thức sản xuất mới”…
Trạng thái tư duy thô sơ của một bộ phận trong xã hội đã được phản ánh rõ nét qua câu ca dao “Hết gạo chạy rông lại nhất nông nhì sĩ”. Với suy nghĩ đó thì anh trí thức thời ấy chỉ là
“những kẻ mang sẵn cái mầm bất phục tùng và thói tự phụ cùng các nhược điểm thâm căn cố đế như hoang mang dao động, xa rời đời sống…” [82, tr. 329] nên phải nhận những cái nhìn khinh rẻ, nghi ngờ của xã hội. Hơn thế, trong con mắt bí thư Lại, tầng lớp trí thức tiểu tư sản
“chẳng qua chỉ là cái sinh thực khí, tức là cái của thằng đàn ông. Nghĩa là xung trận, được kích thích nó cương lên. Rồi sau đó thì ỉu xìu như thằng chết trôi”. Có lẽ xuất phát từ đây mà trong
những tác phẩm Ma Văn Kháng viết ở giai đoạn sau, ta thấy ông đặc biệt quan tâm tới thân phận của tầng lớp trí thức chân chính. Ông thấu hiểu nỗi niềm của họ, thông cảm với họ một cách chân thành. Ông gọi họ là “những kẻ đồng hành với cách mạng” và trăn trở rằng “đi cùng với nhau trên một đoạn đường, mà lại cứ luôn luôn bị chê bai, đả kích và nhất là…bị dè chừng”. Phải chăng, đằng sau nỗi niềm ấy, Ma Văn Kháng muốn nhắn gửi điều gì? Thiết nghĩ rằng, đó là mong muốn nhìn con người bằng đôi mắt nhân bản hơn, xuất phát từ giá trị tự thân của con người. Bởi chỉ có như vậy, mỗi con người trong xã hội mới có thể tìm thấy giá trị đích thực của mình và những căn bệnh khác của xã hội mới có thể giải quyết được một cách rốt ráo.
Đã có một thời, người ta coi số đông là duy nhất đúng, anh làm trái với số đông chứng tỏ tư tưởng của anh “có vấn đề”. Cho nên, khi viết về đề tài quản lý, Ma Văn Kháng một lần nữa đặt ra vấn đề về mối tương quan giữa số đông và chân lý. Ông đồ Biểu, bố của Tự trong tác phẩm Đám cưới không có giấy giá thú là một bằng chứng. Ông là một Đảng viên, “tuy đứng cùng một đội ngũ với ông bí thư huyện ủy, anh cán bộ thuế nông nghiệp, chị huyện hội phụ nữ, chú giám mã huyện đội… nhưng trong đối xử, vẫn bị gạt ngầm sang một phía khác”. Hay trong các kỳ sinh hoạt chi bộ cũng luôn bị phê phán là “lạc hậu, cổ hủ, cá nhân chủ nghĩa cao độ, xa rời tập thể…”. Có muôn vàn lý do để họ đối xử với ông như vậy. Họ cho rằng làm sao ông có thể xứng danh là một cán bộ cách mạng được, khi mà “cứ đến ngày húy kỵ ông bà cha mẹ lại thắp một nén hương, ngồi bần thần tưởng niệm!”. Vì “hai cha con nấu ăn riêng, anh em ngồi chơi tú lơ khơ thì ngồi trong màn đọc sách. Công đoàn đề ra kế hoạch tăng gia trồng mướp, thì lại bắc giàn thiên lý, bảo trồng rau muống thì lại ươm lay ơn với thược dược. Rõ phức tạp!
Thậm chí, quanh năm chẳng thấy bao giờ ra suối tắm cùng đồng chí đồng nghiệp…”. Cũng chính vì “số đông” ấy mà cuộc sống của Khiêm và cuốn “Bến bờ” - một tác phẩm tâm huyết của anh phải lao đao, khốn đốn… Do được hình thành dưới áp lực của quyền hành, sự đồng lõa của nỗi sợ hãi, tính a dua a tòng, thói tính toán vụ lợi và thiếu năng lực tự chủ cá thể, nên “số đông” đâu thể biết thế nào là sai thì làm sao biết được thế nào là đúng. Đây thực sự là một vấn đề bức thiết của xã hội, cho nên việc Ma Văn Kháng đặt lại vấn đề như thế quả là rất cần thiết.
Sự cần thiết để cổ vũ cho tinh thần dân chủ, ý thức làm chủ của mỗi cá nhân.
Vì tính cần thiết đó mà văn xuôi của những năm 80 đã hướng về đề tài quản lý một cách có quy mô và sôi động. Nhìn vào thực tế cho thấy, giai đoạn này các nhà văn khác cũng đã cho ra đời những cuốn tiểu thuyết nóng bỏng tính thời sự. Tiêu biểu là Nguyễn Mạnh Tuấn với hai tác phẩm: Đứng trước biển (1982) và Cù lao tràm (1985). Cù lao tràm chính là “một diễn đàn phát ngôn về nhiều vấn đề phát triển kinh tế, tổ chức đời sống làng xã, về đào tạo và sử dung
cán bộ, về phẩm chất và năng lực, nhân cách và lối sống của người cán bộ trong điều kiện Đảng cầm quyền” [Lại nguyên Ân, Sống với văn học cùng thời, tr.119]. Điều đó cho thấy sự nhạy cảm đặc biệt tinh tế cũng như bản lĩnh mạnh mẽ của những người cầm bút. Trong dòng chảy đó, Ma Văn Kháng cũng đã hướng ngòi bút của mình trợ lực cho công cuộc cải tạo xã hội với Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985) và mạnh mẽ nhất là Đám cưới không có giấy giá thú (1989). Cùng viết về đề tài quản lý nhưng mỗi nhà văn lại có hướng đi riêng của mình. Trong khi Nguyễn Mạnh Tuấn tập trung vào “việc áp dụng một phương thức quản lý mới trong kinh tế, nhằm phát huy quyền chủ động của xí nghiệp cơ sở và tính tích cực của người lao động”, hay có nên “cưỡng bức nông dân vào hợp tác xã hay không?”, thì Ma Văn Kháng lại chú ý nhiều hơn đến vấn đề quản lý xã hội, con người ở tầm vĩ mô. Tuy nhiên giữa các nhà văn có điểm gặp gỡ, đó là họ đều đặt ra vấn đề trí thức và người lãnh đạo. Và khi đề cập đến vấn đề này, Ma Văn Kháng đã nhấn mạnh về tư cách của người lãnh đạo, về mối liên minh có tính tất yếu giữa lực lượng công nhân với tầng lớp trí thức, về cách nhìn và đối xử với người trí thức… Tất nhiên, khi Ma Văn Kháng nói về vấn đề này, nhiều người nhận ra rằng vẫn có đôi chỗ còn phải bàn. Điều đáng qúy và ghi nhận đó chính là tâm huyết, sự nhiệt thành, một cái tâm trong sáng và bản lĩnh của người cầm bút nơi ông.
Như đã nói ở trên, trong giai đoạn sau 1975, đặc biệt là từ những năm 80 trở đi, tiểu thuyết Ma Văn Kháng đã có sự chuyển hướng trên phương diện đề tài. Bên cạnh đề tài quản lý xã hội là mảng đề tài đời tư - thế sự, đạo đức xã hội, một đề tài mới của văn xuôi sau 1975.
Sống ở Lào Cai một thời gian khá dài nên khi chuyển công tác về Hà Nội, Ma Văn Kháng đã “phải mất đến dăm sáu năm mới làm quen được với lớp ngôn ngữ mới và tạo lập được cảm xúc mới”. Thế nhưng, ở mảng sáng tác này ông cũng đã có nhiều tác phẩm thành công trong việc miêu tả một xã hội thành thị sôi động nhưng đầy bất ổn trong quan hệ đời sống, đạo đức của con người.
Sau chiến tranh, sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường cũng như cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai con đường XHCN và TBCN đang đẩy tới sự phân cực giữa đạo đức và phi đạo đức, nhân cách và phi nhân cách, thiện và ác, ánh sáng và bóng tối... Xã hội lúc này trở nên phức tạp hơn và đang phải đối mặt với những “căn bệnh” nguy hại. Đó là nguy cơ của sự băng hoại các giá trị chuẩn mực đạo đức truyền thống, nhân cách và bản lĩnh của mỗi con người trong xã hội đang bị thử thách. Hơn lúc nào hết, với thiên chức của mình văn học cần phải hướng tới con người nhiều hơn, nâng đỡ tâm hồn họ và đưa họ trở về với những chuẩn mực thiện, mĩ. Đó là lý
do ra đời của hàng loạt tác phẩm tiếp cận cuộc sống từ góc độ đạo đức nhân sinh, đời tư thế sự của Ma Văn Kháng cũng như các nhà văn khác.
Viết về đề tài này, Ma Văn Kháng đã miêu tả cuộc sống đô thị ở tất cả các phương diện có thể nhưng ngòi bút của ông đặc biệt hướng vào việc khám phá gia đình - cái tế bào của xã hội. Ông đã đặt ra nhiều vấn đề mà xã hội đang phải đối đầu: Vấn đề về khoảng cách giữa hai thế hệ, sự chông chênh của các mối ràng buộc gia đình. “Gia đình, giọt nước của biển cả, cá thể của xã hội, liệu có thể vững vàng trong cuộc sống xây dựng đang có nhiều khó khăn, lắm bê bối này?” [34, tr.24]. Ngược lại với quan điểm một thời xem gia đình là cái gì đó nhỏ nhoi, không đáng kể, Ma Văn Kháng đã dành hẳn một cuốn tiểu thuyết để viết về gia đình: Mùa lá rụng trong vườn. Câu chuyện tập trung xoay quanh gia đình ông Bằng, một gia đình trí thức cũ ở Hà Nội. Cứ ngỡ rằng, với sự cố gắng duy trì nếp sống cổ truyền vốn có của ông Bằng thì gia đình ông sẽ có một cuộc sống bình yên, tốt đẹp, nhưng cuối cùng, nếp sống ấy cũng không thể nào thoát khỏi sự chi phối của kinh tế thị trường. Ở Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng không viết về những gì to tát, điều đáng chú ý là trong gia đình ấy không biết đã có bao nhiêu chuyện xảy ra chỉ sau một năm, giữa hai mùa cây trong vườn thay lá. Cừ đã bỏ ra nước ngoài phản bội Tổ quốc, Lý rời bỏ gia đình mà đi theo một gã trai khác vào Sài Gòn, và ông Bằng cũng không còn. Điều gì đã làm cho một gia đình vốn được coi là “mô phạm mẫu mực” ấy lung lay, đổ vỡ, rơi vào bi kịch?
Ma Văn Kháng đã xây dựng gia đình ông Bằng với hai lối sống trái ngược nhau. Trong gia đình ấy, có những con người chọn cho mình lối sống nghiêng về các giá trị tinh thần như ông Bằng, chị Hoài, vợ chồng Luận - Phượng và Cần. Và một bên là những người như Lý, Cừ, đại diện cho một lối sống tự do hơn, đặt nặng vấn đề vật chất hơn. Đó chính là nguyên nhân gây ra sự lủng củng, bất hòa, bất ổn trong các mối tương giao. Điều mà ông Bằng mong muốn là
“cố gắng duy trì cái nền nếp có trăm ngàn điều nhỏ nhặt” để “xây dựng một gia đình hòa thuận, tôn ti trật tự, trên kính dưới nhường, trọng nghĩa khinh tài, hướng về sự phát triển đạo đức tinh thần…”, vì thế, ông luôn khuyên răn con cái là “giữ gìn từ cái nho nhỏ vì từ những cái nho nhỏ cộng lại, hợp thành văn hóa, nền tảng của đạo lý”. Trong lúc ông cố gắng chủ động tạo sự cân bằng trong cuộc sống bằng cách “dựa vào một nền tảng tinh thần vững bền để chống lại tất cả cái xấu đang tàn phá cuộc sống”, thì trái lại, Cừ và Lý luôn muốn thoát ra ngoài những ràng buộc ấy. Trong mắt Cừ thì “ba lạc hậu hàng thế kỷ. Luật lệ đạo đức gì mà cổ quá”. Còn Lý lại nhận xét: “Chưa thấy cái nhà nào cổ hủ như cái nhà này. Chỉ thịnh đạo lý, sách vở... Thế thì suốt đời đói nghèo là phải”. Và chính từ những nhận thức đó, họ đi đến phủ định đạo đức