THIÊN NHIÊN TRONG VĂN HỌC
1.1. Thiên nhiên - đối tượng miêu tả của văn chương
1.1.2.1. Quá trình hình thành quan niệm thiên nhiên như là bản chất
Cách hiểu thiên nhiên như là bản chất có liên quan đến ngành nhân học và dân tộc học. Như chúng ta đã biết , ở phương Tây việc tìm hiểu, nghiên cứu về những vấn đề xã hội đã được các triết gia quan tâm từ thời cổ đại. Thế kỉ XVIII, các nhà nghiên cứu phương Tây đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến khái niệm Tự nhiên khi nghiên cứu về những người nguyên thủy. Những câu chuyện du lịch và mô tả các tập quán của các dân tộc xa xôi được mở rộng. Nếu như trước đó, những người nguyên thủy Châu Phi, Châu Mĩ và Châu Úc thường được mô tả một cách ghê tởm thì ở thế kỉ XVIII này các nhà nghiên cứu hết sức đề cao họ. Có thể nói đây là thời kì thắng thế của huyền thoại “người dã man tốt”. Tiêu biểu cho quan niện này phải kể đến Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778), triết gia Pháp nổi tiếng. Khác với Platon, người đã quan niệm rằng có thể thay đổi bản chất con người bằng việc thay đổi những thể chế xã hội của con người. Đối với Rousseau, tất cả mọi cái bóp méo và đè bẹp bản chất con người đều là sai. “Con người tự nhiên cũng có nghĩa là con người hiện thực”. Do đó quay về với tự nhiên có nghĩa là quay về với tính người căn bản của con người, là cái phải được giải thoát ra khỏi mọi ràng buộc giả tạo. Con người đẻ ra tự do, con người đáng lẽ phải được tự do nhưng lại phải sống trong xiềng xích.
Trong luận văn “Bàn về nguồn gốc và những cơ sở của sự bất bình đẳng giữa người và người”, Rousseau đã miêu tả người dã man như là một sự hoàn hảo của nhân loại :
Một con người trong đó không có bất cứ cái gì giả tạo mà một tiến trình lịch sử lâu dài đem lại. Đó là một con người từ trong thiên nhiên mà ra, khát thì uống nước suối, giường là dưới gốc cây đã cung cấp thức ăn, và tình trạng đó chính là tuổi thơ của thế giới. Mọi sự tiến bộ về sau tưởng như đưa tới sự hoàn chỉnh của con người, nhưng về thực chất thì lại đưa đến sự suy đồi của nòi giống. [21, tr.12 – 13].
Trong các tác phẩm của mình, Rousseau thường miêu tả những bức tranh tuyệt đẹp về cảnh hồ, cảnh đêm trăng, cảnh núi rừng, những con đường nhỏ, con suối… Ông cũng ca ngợi cuộc sống nơi thôn dã với những người nông dân thật thà, chất phác, bình dị, tốt bụng.
Như vậy có thể thấy Rousseau muốn dựa vào thiên nhiên làm nơi của trật tự, của sự hòa hợp.
Thực ra quan điểm này cũng đã từng được Montaigne (1533 – 1592), nhà nhân văn chủ nghĩa người Pháp nói đến từ cuối thế kỉ XVI. Trong chương sách nổi tiếng “Những người dã man” ông đã viết về những người da đỏ ở Brazil như sau :
Ở họ, những phẩm chất và đức tính có thật, hữu ích nhất và tự nhiên nhất, thể hiện ra một cách sinh động và mạnh mẽ… Những luật của tự nhiên mà không bị những luật của chúng ta làm cho hư hỏng đi, còn đang chi phối họ… Như vậy, tôi xem các dân tộc ấy là dã man, là vì họ còn ít tiếp nhận cách thế của trí tuệ con người và còn gần gũi với sự chất phác nguyên thủy của họ. Và họ còn đang ở trong tình trạng trong sáng đến nỗi nhiều khi tôi lấy làm bực rằng người ta không biết đến họ sớm hơn, từ những ngày mà có những người có thể đánh giá họ đúng hơn chúng ta. [21, tr.8 – 9].
Điều này cho thấy, nguyên tắc xuất phát điểm của Montaigne là tính tự nhiên và sự gần gũi với thiên nhiên. Ong còn khẳng định nguyên tắc này nhiều lần trong Những tiểu luận của mình: “Tất cả những gì xảy ra đúng như tự nhiên đều đáng tôn trọng”. Hay
“…biết tự biểu hiện ra một cách xứng đáng trong bản chất tự nhiên của mình là một dấu hiệu của sự hoàn thiện”. [21, tr.10].
Tất cả làm nên một trào lưu tư tưởng về nguồn, tức là quay về tìm hiểu xã hội chất phác thời nguyên thủy, mà đỉnh cao của nó là ở thế kỉ XVIII.
Sang đến thế kỉ XIX, ngành xã hội học bước vào thời kì xây dựng, thường được gọi là xã hội học cổ điển, các nhà nhân học và dân tộc học bắt đầu sự mô tả khách quan các xã hội nguyên thủy. Đến đây, ta thấy có sự “gặp nhau” giữa folklore và dân tộc học. Hai phạm trù cơ bản mà các định nghĩa về folklore thường xoay quanh chính là : phạm trù truyền thống và phạm trù dân chúng. Do đó, kết quả nghiên cứu của folklore sẽ bổ sung cho những công trình nghiên cứu của dân tộc học. Vai trò chủ yếu của nó là phát hiện trong các dân tộc văn minh, những tàn dư của tâm tính nguyên thủy để từ đó có thể hiểu về bản chất của con người cổ xưa. Những phát hiện trong quá trình tìm kiếm đã khiến các nhà folklore học nhận ra rằng :
Ở các thời kì trước kia, sự biến đổi chậm chạp hơn và kém thường xuyên hơn, vì vậy mà những phong tục và tín ngưỡng thuở đó phải mất thời gian để hình thành và trở nên cố thủ sâu trong tiềm thức chủng tộc. Những mẫu mực nguyên thủy này đã chín muồi và chín mọng giống như những mảnh gỗ đã được đánh bóng và vẫn tồn tại dai dẳng dưới cái vỏ bề ngoài vội vã của những nền văn minh ngày hôm nay đã làm chúng ta kinh ngạc bởi vẻ đẹp của chúng mỗi khi chúng ta có dịp bắt gặp và phát hiện ra chúng. Chúng có vẻ đẹp đó bởi vì chúng được hình thành và phát triển một
cách chậm rãi trong mối quan hệ gần gũi với bản thân thiên nhiên và đồng thời phản ánh sự đối xứng và giản dị của thiên nhiên. [21, tr.42].
Ở phạm trù dân chúng, từ việc phân chia các tầng lớp xã hội với những đặc điểm riêng biệt, các nhà folklore cũng đã có những phát hiện có thể giúp lí giải vấn đề bản chất tự nhiên của con người cổ xưa. Trong rất nhiều phát hiện, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới đối tượng trẻ em và vấn đề địa vị xã hội vì đây chính là một trong những cơ sở quan trọng giúp lí giải bản chất thuần phác nơi các nhân vật của Mark Twain trong chương thứ ba của luận văn.
Theo các nhà nghiên cứu thì cùng với hai đối tượng là phụ nữ và người già, trẻ em chính là nơi kí thác một nền văn hóa được lưu truyền bên rìa văn hóa của người lớn. Những trò chơi, những bài hát … của chúng được xem như những hình thức đã bị biến chất đi của những nghi lễ, tập tục của người lớn xưa kia. Có nghĩa là ở đối tượng này vẫn còn những dấu vết thể hiện bản chất tự nhiên của con người trong những xã hội cổ xưa. Bản chất ấy trong con nguời còn được folklore lí giải thông qua các truyền thuyết, phong tục tập quán, tín ngưỡng của người bình dân, của dân chúng, của những tầng lớp ít bị biến đổi nhất bởi sự giáo dục học hành, ít chịu sự ảnh hưởng nhất của sự tiến bộ văn hóa. Ở những con người này, mọi suy nghĩ và hành động đều thể hiện sự tự nhiên, thần phác bởi họ sống bên ngoài những qui định xã hội, những quan điểm đạo đức chuẩn mực.
Chúng tôi vừa sơ lược trình bày những tư tưởng của các nhà xã hội học về vấn đề bản chất tự nhiên của người cổ xưa trong quá trình phát triển của ngành học này ở phương Tây. Đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, điều này trở nên đặc biệt có ý nghĩa bởi sự phát triển của chủ nghĩa tư bản có nguy cơ xâm lấn, tàn phá thiên nhiên ngày càng nghiêm trọng.
Khi ấy việc quay về với thiên nhiên còn mang thêm những ý nghĩa khác nữa mà chúng tôi sẽ trình bày kĩ hơn khi nói về Mark Twain ở các chương sau.