Ngôn ngữ mang tính cộng đồng

Một phần của tài liệu Thế giới nghệ thuật thơ Anh Thơ (Trang 70 - 77)

Chương 3: Phương thức nghệ thuật thơ trong thơ Anh Thơ

3.2. Ngôn ngữ 1 Ngôn ngữ mộc mạc, bình dị gần gũi với đời sống

3.2.2 Ngôn ngữ mang tính cộng đồng

Thơ nữ sĩ gắn liền với những chặng đường lịch sử của dân tộc, những làng quê thanh bình hay những vùng biên giới, rừng núi hải đảo mà nữ sĩ đã từng cùng đồng bào chiến sĩ trải qua trong những ngày lao động chiến đấu gian khổ đượm mùi khói lửa chiến tranh sau cách mạng tháng Tám, Anh Thơ tham gia Việt Minh trong những ngày đầu kháng chiến, làm công tác dân vận, làm thanh niên xung phong rồi phụ trách hội phụ nữ, và đặc biệt là công tác văn nghệ tư tưởng quần chúng trong kháng chiến, rồi làm thư kí, ủy viên hội nhà văn...Cho nên ít nhiều nữ sĩ cũng có những kỉ niệm sâu sắc với những con người, vùng miền Tổ quốc mà mình đã trải qua.

Chất liệu ngôn ngữ trong thơ Anh Thơ mang tính cộng đồng thể hiện trong các bài thơ viết về đề tài phong tục, phản ánh các lễ hội, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng người Việt. Lễ hội, sinh hoạt cộng đồng trong thơ Anh Thơ mang những nét đặc trưng riêng. Mùa xuân có mưa xoan hoa bụi, có tràng pháo chuột, có cây nêu: “ Trước cổng làng chòm nêu vừa thức gió/ Bụi mưa phùn đã đổ xuống sân vôi/ Tràng pháo chuột đua nhau đì đạch nổ/ Xác giấy hồng bắn cả cánh hoa rơi…( Ngày tết ). Những hình ảnh mưa bụi, hoa xoan, tràng pháo cùng không khí ấm áp làm nổi bật bức tranh xuân tươi vui, tràn đấy sức sống. Bức tranh ngày tết thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa cổ truyền ngườiViệt.

Chất liệu ngôn ngữ mang tính cộng đồng, sử thi trong thơ Anh Thơ còn được thể hiện trong mảng đề tài phản ánh về chiến tranh, cách mạng. Chính chất liệu ngôn ngữ thơ nữ sĩ mang hơi thở của núi rừng – chiến khu, mỗi bản làng, vùng miền mà người chiến sĩ – nữ sĩ từng đi qua, từng gắn bó với con người

cuộc sống, chiến đấu của nơi này. Các bài thơ Tiếng chim tu hú, Đàn bầu, Sang thu, Gửi má miền Nam, Bài thơ tình qua cà Mau, Ngõ cũ em về, Ngõ chợ Khâm Thiên, hay chuyện thơ Kể chuyện Vũ Lăng… tất cả đều thể hiện tính cộng đồng rõ nét.

Ngôn ngữ mang tính cộng đồng là ngôn ngữ thể hiện đặc điểm chung của cộng đồng về lời ăn tiếng nói, về tâm lí xã hội, quan niệm đạo đức truyền thống, phong tục tập quán ...Ngôn ngữ cộng đồng ở đây ta xét trong mối quan hệ giữa công dân với cộng đồng dân tộc trong kháng chiến. Đó là ngôn ngữ biểu hiện của lòng yêu nước, của ý thức công dân với cộng đồng, dân tộc. Trong thơ Anh Thơ, ngôn ngữ của những cô gái dám hi sinh tuổi thanh xuân của mình, gác lại tình cảm gia đình, tình cảm riêng tư, lên đường làm nhiệm vụ cách mạng: “ Mười năm trong khói lửa/ Má con dù nhạt hồng/ Nhưng biết bao nhiêu em gái/

Đẹp lên mùa vải chín ven sông”( Tiếng chim tu hú ). Họ ra chiến trường, bỏ lại sau lưng hình bóng quê nhà với bao kỉ niệm, khắc khoải mong chờ ngày sum họp. Sự cống hiến hi sinh thầm lặng tuổi thanh xuân của các em gái làm đẹp thêm mùa vải chín ven sông, làm đẹp hơn cho quê hương đất nước.

Trong bức thư gửi một người em nơi tuyến lửa, cũng tiếp nối truyền thống yêu nước hào hùng ấy, người chị hồi tưởng lại những kỉ niệm đẹp về một thời gia đình sum họp, dưới hình thức một bức thư gửi em nơi tuyến lửa nhưng cũng là lời nhắn nhủ cùng em: chị sẽ đi chiến đấu, hẹn em ngày chiến thắng trở về:

Cửa phòng tạm khép Chị lại ra đi

Để cùng em chiến đấu “Ngày về”

( Ngày về )

Họ ước mơ về cuộc đời độc lập, đất nước thanh bình. Cho nên, họ tạm gác cuộc đời riêng để phụng sự cho Tổ quốc. Ngôn ngữ ấy còn biểu hiện qua bài thơ Người nữ quân y, Người chiến sĩ và nhà thơ, Vợ chồng sĩ quan tên lửa quê Uy Nổ....Tất cả các nhân vật đều thể hiện được cái tôi công dân đầy tinh thần trách nhiệm với cộng đồng.

Như vậy, thơ Anh Thơ thể hiện ngôn ngữ rất đa dạng phong phú, nhưng chủ yếu tập trung ở chất liệu ngôn ngữ mang tính dân gian bình dị và chất liệu ngôn ngữ mang tính cộng đồng trong mối quan hệ với trách nhiệm chung của công dân đôi với cộng đồng, dân tộc. Xuất phát từ lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm với cộng đồng, lòng đam mê thơ ca, nghệ thuật, đồng hành tạo nên trong ngôn ngữ thơ Anh Thơ cái chất dân gian, bình dị, tiếng nói chung thống thiết.

Điều ấy góp phần to lớn tạo nên chất liệu riêng phong phú trong thơ nữ sĩ, vừa thiên nhiên – phong tục vừa nóng bỏng hiện thực của một thời đại lịch sử hào hùng, ngợi ca lí tưởng cách mạng, ca ngợi Đảng và Bác Hồ kính yêu.

3. 3. Giọng điệu

3.3.1 Giọng êm đềm, trầm buồn và nhẹ nhàng sâu lắng

Việc lựa chọn giọng điệu để phản ánh hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ là vô cùng quan trọng. Nó thể hiện tài năng nghệ thuật của nghệ sĩ. Thơ nữ sĩ Anh Thơ, giọng điệu này chủ yếu thể hiện ở thể loại lục bát bộc lộ đó tâm tư tình cảm của nhân vật trữ tình qua bức tranh cuộc sống sinh động. Một nỗi niềm xót thương thầm kín của nhân vật trữ tình trước hình ảnh mái tóc trắng mẹ bay lên nóc nhà do bom đạn kẻ thù. Với giọng điệu êm đềm, nhẹ nhàng của và bút pháp tả thực về sự tàn khốc của chiến tranh: “ Khói bom tan rạng ánh ngày/ Nóc không treo mái tóc bay mẹ già / Đất nhào tung cả thịt da/ Mẹ ơi cuộc sống đã hòa nước non !..”( Mái tóc mẹ bay )

Bài thơ Mái tóc mẹ bay đã gợi lên niềm phẫn uất căm hờn sâu sắc trong lòng độc giả. Với cái nhịp điệu nhẹ nhàng mà sâu lắng ấy, cái chết của mẹ đã hóa thành bất tử hòa vào mây trời non nước, hoa lá cỏ cây và đốt cháy thành ngọn lửa căm hờn, soi sáng cho những người chiến sĩ quyết tâm giết giặc, bảo vệ non sông, gấm vóc. Cùng với hình ảnh mái tóc mẹ bay trắng cả không thời gian, nỗi nhớ; một sức sống bất diệt được tái hiện qua một hồn thơ nhẹ nhàng tình tứ.

Bên cạnh đó, một số bài thơ bảy chữ và tám chữ cũng có giọng trữ tình nhẹ nhàng sâu lắng. Cảnh vật của một ngày mùa xuân, một sáng hè, một trưa hè hiện lên rất nhẹ nhàng vui tươi hồn nhiên, trong sáng, nét đặc trưng cho cảnh sắc

mùa vụ, thiên nhiên, đất trời, cỏ cây hoa lá: “Trời trong biếc không qua mây gợn sóng / Gió nam nồm lộng thổi cánh diều xa/ Hoa lựu nở đầy một vườn đỏ nắng/

Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay qua… (Trưa hè )

Với hình ảnh hoa lựu nở đỏ nắng, lũ bướm vàng, cánh diễu xa…cũng đủ cho ta thấy nét đặc trưng của đất trời mùa hè ở miền đồng bằng Bắc Bộ. Nhịp điệu nhẹ nhàng sâu lắng và cuối câu thơ kết thúc bằng âm tiết mở “ xa”, “qua”

làm cho không gian cảnh vật được mở ra cả ba chiều trở nên mênh mông rợn ngợp hơn.

Như vậy, nhịp điệu nhẹ nhàng sâu lắng trong thơ Anh Thơ vừa thể hiện cái hồn nhiên, tươi vui, duyên dáng, đằm thắm, hồn hậu của con người, cảnh vật;

vừa thể hiện niềm yêu thương kính trọng đối với những miền đất thân thương, chân chất mộc mạc; đối với những người con yêu quý của dân tộc ở một vùng quê thanh bình hay trong những tháng năm chiến tranh ác liệt. Chính giọng điệu êm đềm, nhẹ nhàng, sâu lắng, làm cho thơ Anh Thơ chiếm được cảm tình trong lòng độc giả.

Cùng với giọng êm đềm nhẹ nhàng sâu lắng, thơ Anh Thơ có giọng điệu đều đều trầm buồn bộc lộ tâm trạng nhân vật trữ tình trước cảnh, giọng nhẹ nhàng sâu lắng lại cũng có giọng nhanh, gấp gáp vui tươi và có giọng đều đều trầm buồn thể hiện cái tôi cô đơn của nữ sĩ.

Có người cho rằng cả tập thơ Bức tranh quê của nữ sĩ đều đều một giọng, thiếu hấp dẫn khiến người đọc chán nản. Khảo sát về nhịp điệu trong tập thơ Bức tranh quê của nữ sĩ đa số là nhịp 3/2/3 chiếm 96 %, thỉnh thoảng có đôi câu có nhịp điệu 3/3/2 xen vào nhưng vô cùng ít. Những vật bình dị đời thường trong cuộc sống khi vào thơ cũng mang những nét độc đáo riêng. Đó là những bức tranh khung cảnh thiên nhiên hoang vắng, cô quạnh được tái hiện lên trong thế giới nghệ thuật thơ nữ sĩ. Không gian của một bến đò vắng khách, của một buổi chiều đã vãn, của cảnh đại hạn hay lụt lội.., tất cả đều hiện lên với một giọng điệu đều đều buồn vắng, thể hiện tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trước cảnh: “ …Ngoài đê thẳm không người đi vắng vẻ/ Lũ chuồn chuồn giỡn nắng

đuổi nhau bay/ Nhưng thỉnh thoảng tiếng nhạc đồng buồn tẻ/ Của vài người cỡi ngựa đến xua ngay” ( Trưa hè )

Hình ảnh lũ chuồn chuồn nhớ nắng, tiếng nhạc đồng đều đều buồn tẻ từ những cỗ xe tam mã đi qua..., càng làm cho không gian trưa hè trên đồng quê thêm thanh vắng, tiêu điều, buồn cô đơn. Cùng với không gian, khung cảnh tái hiện với nỗi buồn cô đơn xâm chiếm, âm thanh trong trẻo của tiếng đàn bầu cũng không kém phần lay động lòng người, gợi lên nỗi buồn cô đơn xa xứ. Có khi nghe tiếng đàn bầu du dương, lảnh lót, lành lạnh, lay động thức tỉnh tâm hồn từ cõi vô thức. Có khi là cái buồn vô cớ, cái buồn xâm nhập từ cảm giác không gian mênh mông, hiu quạnh vào tâm hồn thứ lữ đơn độc lạc loài trước đất trời, hay hoài vọng về quá khứ. Có khi cái buồn cô đơn gợi lên từ tâm trạng buồn lo của người nông dân những năm đại hạn mất mùa, thất bát: “…Rồi chiều đến khi mặt trời lặn đỏ/ Mây phương đoài tắm rực nắng bên sông/ Các cô gái đưa nhau thăm ruộng cỏ/ Cuốn dây gầu chán nản tát đồng không” ( Đại hạn ). Cái hoang vắng của cảnh cũng dần xâm chiếm vào tâm hồn con người thứ lữ.

Nữ sĩ vẽ lên Bức tranh quê bằng “cát bụi” và “ánh sáng mặt trời” đậm nét tả chân. Bởi, chính sự thật tạo nên sức sống lâu bền cho nghệ thuật. Anh Thơ mô tả những cảnh nghèo khổ, đói rét, lụt lội hay đại hạn…của con người. Cái khách quan của cảnh vật thiên nhiên trong thơ nữ sĩ chỉ là cái bề ngoài, để che dấu một tâm hồn nóng bỏng, nhân hậu, yêu nước thương nòi ở sâu bên trong sự vật khách thể ấy.

Với nhịp điệu đều đều, không gian trong thơ được dàn trải, mênh mông, vắng vẻ hơn. Đó là không gian mênh mông, vắng lặng của đồng quê, không gian thu hẹp của một ngõ tối làng quê…, không gian ấy dường như cũng lan tỏa cái hoang vắng cô liêu vào cảnh vật, lòng người. Người đọc nhận thấy nỗi buồn, cô đơn của nhân vật trữ tình trong thơ nữ sĩ được gợi lên chủ yếu từ cảm giác không gian.

Anh Thơ sử dụng kiểu câu thơ có giọng điệu đều đều trầm buồn, nhẹ nhàng sâu lắng góp phần làm nổi bật cái mênh mông, yên tĩnh của bức tranh làng

quê xứ Bắc vừa thể hiện tâm trạng cô đơn của con người trước cảnh, cái cô đơn rợn ngợp gợi lên từ không gian non nước mênh mông vừa diễn tả tâm trạng nhẹ nhàng thư thái, hay sự đồng cảm, sẻ chia vui buồn cùng với cảnh vật, cuộc sống.

Và mỗi cung bậc tâm trạng, nhân vật trữ tình hiện lên trong những hoàn cảnh cụ thể.

3.3.2 Giọng điệu nhanh, gấp gáp, vui tươi

Mỗi thể thơ có một đặc trưng riêng về thanh điệu, nhịp điệu. Thơ lục bát thì thường nhẹ nhàng êm đềm như lời ru của bà của mẹ thưở nào, thơ năm chữ lại thể hiện không khí gấp gáp tươi vui, nhí nhảnh…, tuy nhiên cũng còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, bên cạnh đặc điểm thể loại thơ. Cho dù hồi tưởng lại những gian khổ, hi sinh trong chiến tranh hay phản ánh cuộc sống hiện tại, thơ vẫn hiện lên nét đẹp thanh thoát tươi vui, lạc quan của con người trong cuộc sống: “ Cưới nhau đêm mười bảy/ Mười tám giặc gieo bom/ Từ phòng hạnh phúc dậy/ Chồng vợ hai tuyến đường/ ...,Niềm vui bừng đêm đêm”.( Chuyện vợ chồng sĩ quan tên lửa quê Uy Nổ). Mỗi con người đều có lòng yêu thương gia đình, lòng căm thù giặc xâm lăng và tinh thần yêu nước. Nhịp thơ chủ yếu 2/3, nhanh mạnh gấp gáp, khẩn trương, nhưng cũng đầy niềm vui, tin tưởng. Trong chuyện Vợ chồng sĩ quan tên lửa quê Uy Nổ mới cưới nhau hôm mười bảy, mười tám đã bị giặc gieo bom, cả hai người lên đường làm nhiệm vụ cho đất nước nhưng vẫn phơi phới tinh thần lạc quan cách mạng. Hình ảnh quê hương anh vẫn tay súng tay cày…, vẫn cấy hái, cày bừa dưới mưa bom bão đạn của địch luôn hiện hình sức sống bất diệt.

Bài thơ Phòng vắng tặng anh yêu…, Tình yêu như ngọn lửa luôn im ỉ cháy, sưởi ấm tâm hồn nhân vật trữ tình nhất là lúc trống vắng cô đơn. Vì vậy, nhân vật trữ tình trước căn phòng vắng, những công việc và sự vật bình thường trong cuộc sống được tái hiện: “ Con thích tôm to nhất/ Chồng ưa đậu rán này/

Phòng vắng mà không vắng/ Tình yêu vẫn từ đây.” ( Phòng vắng ). Với nhịp điệu ấy, nhân vật trữ tình bộc lộ niềm vui hân hoan trong qua hồi tưởng về một thời gia đình sum họp, hạnh phúc. Hình ảnh hiện tại của căn phòng lại thôi thúc

tinh thần yêu nước, cống hiến cho cách mạng của nhân vật trong bài thơ này.

Bên cạnh đó, nhân vật trữ tình cũng bộc lộ niềm vui, hân hoan, lạc quan đầy cảm xúc trước cảnh: “ Con chim nho nhỏ/ Sa trước gió…, Vì đôi cánh non/ Mẹ ra trận địa/ Giữ bầu trời son/ Cho con chim con/ Cho con của mẹ” (Con chim nhỏ).

Với nhịp điệu nhanh, khẩn trương, âm hưởng vui tươi, người mẹ thể hiện niềm vui tươi trò chuyện với đứa con mình, qua hình ảnh chú chim non, bị mất tổ sau trận bom thù. Người mẹ ra trận để giữ bầu trời son, cho cảnh vật muôn loài, cho con của mẹ được yên bình, hạnh phúc. Từ hình ảnh con chim non, Anh Thơ liên hệ đến cuộc sống gia đình hết sức tự nhiên vui tươi như tâm hồn trẻ thơ và rộng lớn hơn chính là tình yêu đồng loại, yêu cảnh vật, thiên nhiên, yêu đồng bào: “

…Rơm mới đầy đầy sân hương lúa/ Thoảng trong khói đạn mịt mù/ Sông nước êm ru/ Dừa tươi xóm nhỏ/ Anh lại nghe vang giọng hò sông Mã/ Yêu sao người giữ bến quê em” ( Mời anh ghé bến quê em ). Với nhịp điệu nhanh mạnh, câu thơ ngắn dài phù hợp với diễn biến tâm trạng của người con gái, nhân vật trữ tình thể hiện niềm tự hào trước chiến công của người lính qua. Sau mỗi trận đánh, quê hương lại hồi sinh, dừa lại xanh xóm nhỏ, vẫn hát ngân vang giọng hò sông Mã.

Say đắm, nhập tâm vào cảnh vật, cuộc sống, Anh Thơ phân thân, nhập vai vào nhân vật để nói lên niềm vui sum họp gia đình, niềm hạnh phúc riêng tư cá nhân trong quan hệ với trách nhiệm chung, niềm vui chung của dân tộc. Thơ Anh Thơ vừa có đều đều trầm buồn thể hiện cái tôi cô đơn, chan hòa cùng thiên nhiên, tạo vật, cuộc sống, vừa có âm điệu, nhịp điệu nhẹ nhàng, vui tươi hồn nhiên tự nhiên để diễn tả niềm lạc quan của con người trong lao động hay của người chiến sĩ cách mạng, tâm trạng của nhân vật trữ tình trong thời khắc giao mùa. Nhưng niềm vui lớn nhất của nhân vật trữ tình vẫn là niềm vui được cống hiến, hi sinh cao đẹp và trọn vẹn cho Tổ quốc. Chính nhịp điệu này đã tạo nên cho thơ Anh Thơ một diện mạo mới mẻ lôi cuốn độc giả, mang tâm thế một người con ưu tú của dân tộc trong thời đại hào hùng.

Một phần của tài liệu Thế giới nghệ thuật thơ Anh Thơ (Trang 70 - 77)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(82 trang)
w