Chương III. Các quy định pháp luật hiện
3. Những quy định theo Luật Luật sư 2006, các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật có liên quan khác
3.7. Thủ tục xin cấp Giấy phép thành lập, đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động; thủ tục sáp
3.7.1. Thủ tục xin cấp Giấy phép thành lập, đăng ký hoạt động, đăng báo, thông báo về việc thành lập tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài
Thủ tục xin cấp Giấy phép thành lập: quy định tại Điều 78, Luật Luật sư 2006
Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài phải gửi một bộ hồ sơ xin cấp Giấy phép thành lập Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài đến Bộ Tư pháp. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ và lệ phí, Bộ Tư pháp xem xét cấp Giấy phép thành lập Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản
Hồ sơ thành lập Chi nhánh gồm có:
- Đơn đề nghị thành lập Chi nhánh
- Bản sao giấy tờ chứng minh việc thành lập hợp pháp của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài cấp.
- Bản giới thiệu về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài - Danh sách luật sư nước ngoài dự kiến làm việc tại Chi nhánh
- Quyết định cử luật sư làm Trưởng Chi nhánh Hồ sơ xin thành lập Công ty luật nước ngoài gồm có:
- Đơn đề nghị thành lập Công ty luật nước ngoài
- Bản sao giấy tờ chứng minh việc thành lập hợp pháp của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài cấp; bản sao Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam đối với hình thức liên doanh.
- Bản giới thiệu về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài;
bản giới thiệu về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam đối với hình thức liên doanh.
- Danh sách luật sư nước ngoài dự kiến làm việc tại Công ty; danh sách luật sư Việt Nam dự kiến làm việc tại Công ty kèm theo bản sao Chứng chỉ hành nghề luật sư, bản sao Thẻ luật sư.
- Dự thảo Điều lệ Công ty luật nước ngoài; hợp đồng liên doanh đối với hình thức liên doanh
Thủ tục đăng ký hoạt động, đăng báo, thông báo về việc thành lập tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài: quy định tại Điều 79 Luật Luật sư và Điều 18, Nghị định 28/2007/NĐ-CP
Về đăng ký hoạt động, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài phải nộp hồ sơ đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp địa phương nơi đặt trụ sở, gồm có:
- Bản sao Giấy phép thành lập Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài - Giấy tờ chứng minh về trụ sở
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động cho tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài phải đăng báo địa phương hoặc báo Trung ương trong ba số liên tiếp, phải thông báo bằng văn bản cho Đoàn luật sư, cơ quan thuế địa phương nơi đặt trụ sở về các nội dung chủ yếu sau:
- Tên gọi, địa chỉ trụ sở tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài - Lĩnh vực hành nghề
- Họ tên Trưởng Chi nhánh, Giám đốc Công ty luật nước ngoài.
3.7.2. Thay đổi nội dung Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động:
quy định tại Điều 80 Luật Luật sư
Tổ chức luật sư nước ngoài muốn thay đổi một trong các nội dung sau đây của Giấy phép thành lập thì phải làm đơn gửi Bộ Tư pháp và chỉ được thay đổi khi có sự chấp thuận của Bộ Tư pháp:
- Tên Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài
- Thay đổi trụ sở từ tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương này sang tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác.
- Trưởng Chi nhánh, Giám đốc Công ty luật nước ngoài - Lĩnh vực hành nghề
Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được văn bản chấp thuận của Bộ Tư pháp, tổ chức luật sư nước ngoài phải đăng ký việc thay đổi tại Sở Tư pháp địa phương nơi đặt trụ sở.
Trong trường hợp thay đổi nội dung Giấy đăng ký hoạt động, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài được cấp lại Giấy đăng ký hoạt động.
3.7.3. Thủ tục sáp nhập, hợp nhất Công ty luật nước ngoài: quy định tại Điều 19, 20 Nghị định 28/2007/NĐ-CP
Hai hay nhiều Công ty luật nước ngoài muốn hợp nhất thành một Công ty luật nước ngoài mới phải gửi hồ sơ xin phép đến Bộ Tư pháp gồm có: đơn xin hợp nhất, hợp đồng hợp nhất và hợp đồng thành lập Công ty mới. Trong thời hạn 10 ngày, Bộ Tư pháp cấp Giấy phép thành lập Công ty luật nước ngoài mới hoặc thông báo từ chối bằng văn bản. Công ty luật nước ngoài mới sau đó phải thực hiện các thủ tục đăng ký hoạt động, đăng báo, thông báo như phần trên.
Một hoặc nhiều Công ty luật nước ngoài có thể sáp nhập vào một Công ty luật nước ngoài khác. Các bên liên quan phải chuẩn bị hợp đồng sáp nhập; Công ty luật nước ngoài nhận sáp nhập không phải đăng ký hoạt động mà chỉ làm thủ tục thay đổi nội dung Giấy phép theo Điều 80 Luật Luật sư.
3.7.4. Quy định về tạm ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động: Điều 21, 22 Nghị định 28/2007/NĐ-CP
Các trường hợp tạm ngừng hoạt động và nghĩa vụ của tổ chức luật sư nước ngoài:
- Tự quyết định tạm ngừng hoạt động
- Bị xử phạt vi phạm hành chính với hình thức đình chỉ hoạt động có thời hạn
Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Đoàn luật sư, cơ quan thuế địa phương
nơi đặt trụ sở; thanh toán các nghĩa vụ tài chính, chịu trách nhiệm về các hợp đồng dịch vụ pháp lý, hợp đồng lao động đã ký.
Các trường hợp chấm dứt hoạt động và nghĩa vụ của tổ chức luật sư nước ngoài:
- Tự chấm dứt hoạt động - Bị thu hồi Giấy phép
Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Đoàn luật sư, cơ quan thuế địa phương nơi đặt trụ sở; thanh toán các nghĩa vụ tài chính, thanh lý các hợp đồng dịch vụ pháp lý, hợp đồng lao động đã ký
3.7.5. Các quy định chuyển tiếp: quy định tại phần V, Thông tư 02/2007/
TT-BTP
Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam được cấp theo Nghị định 87/2003/NĐ-CP tiếp tục có hiệu lực theo Luật Luật sư 2006.
3.8. Các quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài: quy định tại Điều 73 Luật Luật sư
Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài có các quyền sau đây:
- Thực hiện dịch vụ pháp lý về các lĩnh vực ghi trong Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động
- Nhận thù lao từ khách hàng
- Thuê luật sư nước ngoài, luật sư Việt Nam, lao động nước ngoài, lao động Việt Nam
- Nhận người tập sự hành nghề luật sư Việt Nam vào tập sự hành nghề luật sư
- Chuyển thu nhập từ hoạt động hành nghề ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
- Các quyền khác theo quy định của luật này, pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư và các quy định pháp luật khác có liên quan.
Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài có các nghĩa vụ sau đây:
- Hoạt động theo đúng lĩnh vực ghi trong Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động
- Thực hiện đúng những nội dung đã giao kết với khách hàng
- Bồi thường thiệt hại vật chất do lỗi của luật sư gây ra trong khi tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác.
- Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho các luật sư hành nghề tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm
- Chấp hành quy định của pháp luật Việt Nam về lao động, kế toán, thống kê và thực hiện nghĩa vụ thuế, tài chính. Cụ thể, hiện nay, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài phải nộp các khoản thuế là thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế môn bài, thuế xuất khẩu, nhập khẩu (nếu có hành vi xuất khẩu, nhập khẩu) và các khoản lệ phí xin cấp Giấy phép thành lập, đăng ký hoạt động và thay đổi nội dung Giấy phép.
- Nhập khẩu phương tiện cần thiết cho hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của luật này, pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư và các quy định pháp luật khác có liên quan.
Trên đây là các quy định cơ bản của pháp luật hiện hành về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam. So sánh với các quy định trước đây, ta rút ra một số nhận xét như sau:
- Thứ nhất, hệ thống các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài không chỉ gói gọn trong Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành mà còn nằm trong các cam kết của
Việt Nam khi gia nhập WTO và các văn bản pháp luật có liên quan (như pháp luật về đầu tư, pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về thuế…)
- Thứ hai, các quy định pháp luật hiện hành, cụ thể là Luật Luật sư được xây dựng theo hướng đơn giản, ngắn gọn, đầy đủ, có kết cấu hợp lý hơn trước và chỉ tập trung quy định những vấn đề chuyên môn, thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Luật sư.
- Thứ ba, các quy định của Luật Luật sư đi theo hướng thông thoáng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, cụ thể là ở việc giảm bớt các điều kiện hành nghề, mở rộng các hình thức hành nghề, phạm vi hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài.
Phần thứ ba. Một số kiến nghị
và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động của tổ chức hành nghề
luật sư nước ngoài tại Việt nam
Có thể nói rằng trong vòng hơn 12 năm qua, kể từ khi Nghị định 42/CP được ban hành mở đường cho các tổ chức luật sư nước ngoài vào Việt Nam, chế định về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam đã có những bước tiến rất nhanh. Một phần do đòi hỏi từ nhu cầu thực tiễn, nhưng quan trọng hơn, Nhà nước Việt Nam đã rất quan tâm tới hoạt động hành nghề của các tổ chức luật sư nước ngoài, bằng chứng là qua bốn văn bản đã ban hành, các quy định đối với hoạt động của tổ chức luật sư nước ngoài ngày càng được hoàn thiện, đầy đủ hơn và đi theo hướng mở cửa, tạo thuận lợi cho các tổ chức này. Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận rằng ở Việt Nam chưa có một nền tảng kiến thức pháp lý đầy đủ, vững chắc, mang tính chuẩn hoá về thị trường dịch vụ pháp lý, hay nói đúng hơn, kiến thức về thị trường dịch vụ pháp lý của Việt Nam không xuất phát từ thực tiễn phát triển của đất nước. Các quốc gia có hệ thống các quy định pháp luật về thị trường dịch vụ pháp lý rất hoàn thiện như Mỹ, Anh, Pháp, úc…, họ đã có lịch sử phát triển thị trường dịch vụ pháp lý hàng trăm năm, từ đó đúc rút ra những quy định pháp luật. Nhưng ngay cả những quốc gia có lịch sử thị trường dịch vụ pháp lý ngắn hơn rất nhiều như Singapore, Trung Quốc hay Nhật, họ vẫn có hệ thống các quy định pháp luật đầy đủ, hoàn thiện hơn Việt Nam rất nhiều, đó là bởi vì thực tiễn thu hút đầu tư, tốc độ mở cửa, phát triển thị trường của các nước này là rất cao. Một điểm quan trọng cần lưu ý nữa đó là về thực tiễn thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam. Yếu tố thị trường mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước.
Với một thị trường đặc thù như thị trường dịch vụ pháp lý thì quả thật, mới chỉ
thực sự phát triển trong vài năm trở lại đây. Hơn nữa, ý thức pháp luật của người dân, đặc biệt là các doanh nghiệp – những người luôn phải đồng hành với dịch vụ pháp lý – chưa cao. Dù xuất phát từ nhiều nguyên nhân như lịch sử, quan niệm, thói quen… nhưng điều này dẫn đến hai hệ quả không tốt là: thứ nhất, người dân nói chung và các doanh nghiệp nói riêng dễ phải gánh chịu các hậu quả không đáng có do không có ý thức tìm hiểu pháp luật trước khi thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật hay giao kết các hợp đồng kinh doanh, thương mại…; thứ hai, làm mất đi tiềm năng phát triển của thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam. Chắc chắn với chức năng quản lý xã hội của mình, Nhà nước phải có biện pháp để thay đổi tình hình trên. Nói như vậy để thấy một điều, thị trường dịch vụ pháp lý cũng như hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về thị trường dịch vụ pháp lý muốn phát triển, hoàn thiện hơn trong tương lai thì nhất định phải hoàn thành hai nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nhiệm vụ về nghiên cứu lý luận: trong thời gian tới, nhiệm vụ của các học giả, các nhà nghiên cứu pháp luật là phải xây dựng được nền tảng hệ thống kiến thức lý luận về thị trường dịch vụ pháp lý trong điều kiện Việt Nam, bao gồm hệ thống các nguyên tắc, khái niệm, nội hàm thuộc lĩnh vực dịch vụ pháp lý; xác định rõ vị trí, vai trò, chức năng của dịch vụ pháp lý trong tổng thể cơ cấu các ngành dịch vụ; xác định rõ những định hướng cơ bản để phát triển thị trường dịch vụ pháp lý trong tương lai; nghiên cứu cụ thể nhu cầu dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, có tính đến sự phát triển trong tương lai, trên cơ sở đó xây dựng mô hình dịch vụ pháp lý phù hợp với điều kiện tình hình kinh tế, xã hội và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong đó xác định rõ các loại hình dịch vụ pháp lý, các chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý, các hình thức cung cấp dịch vụ pháp lý cũng như các biện pháp quản lý đối với việc cung ứng dịch vụ pháp lý.
- Nhiệm vụ về xây dựng và phát triển thị trường dịch vụ pháp lý trong thực tiễn: như đã nói ở trên, rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của
thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay không phải là khung pháp lý hay các quy định pháp luật mà nằm ở nhu cầu của xã hội, nằm ở ý thức của người dân. Vậy nên, nhiệm vụ quan trọng nhất của Nhà nước có lẽ không phải là ban hành thật nhiều Luật, Pháp lệnh hay Nghị định mà phải tăng cường ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật của người dân, tăng cường nguyên tắc pháp chế, mỗi công dân phải thầm nhuần nguyên tắc: mọi vấn đề đều phải được giải quyết trên cơ sở pháp luật. Nhà nước có thể thực hiện điều này thông qua việc tăng cường công khai, minh bạch, tạo nhiều phương thức để người dân tiếp xúc với pháp luật, hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ của bản thân, tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật, trừng trị nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật. Khi người dân đã có ý thức pháp luật, tự giác tuân thủ pháp luật thì chắc chắn nhu cầu về dịch vụ pháp lý sẽ tăng cao. Đó chính là con đường hợp lý nhất để phát triển thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam.
Quay trở lại với các quy định về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam, sau quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá cụ thể ở trên, luận văn xin được đưa ra một số kiến nghị cụ thể như sau:
- Thứ nhất, là quy định của pháp luật hiện hành về hình thức hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài. Hiện nay, có ba quy định khác nhau về vấn đề này trong ba văn bản đang có hiệu lực thi hành:
+ Đầu tiên là trong Biểu cam kết về dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO, phần các cam kết cụ thể đối với phân ngành dịch vụ pháp lý, quy định bốn hình thức là:
a. Chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài b. Công ty con của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài c. Công ty luật nước ngoài