Trong quá trình biến đổi đá móng thành đối tượng sản phẩm thì yếu tố kiến tạo đóng vai trò quan trọng. Các hoạt động kiến tạo đã làm đá móng biến đổi một cách sâu sắc và rộng khắp mang tính toàn khu vực.
Mỏ Bạch Hổ nói riêng và bồn trũng Cửu Long nói chung nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các chu kỳ kiến tạo mạnh nhất vào thời kỳ tạo móng trước Kainozoi và thới kỳ tách giãn Oligoxen. Các hệ thống đứt gãy
chủ yếu được hình thành sâu sắc, chúng bị nứt nẻ, dập vỡ và cà nát ở những mức độ khác nhau. Trong mẫu lõi tại nhiều giếng khoan thấy tồn tại những lớp đá móng bị vỡ vụn và cà nát rất mạnh nhiều khi đạt tới mức milonit (khả năng phục hồi lại của mẩu lõi không quá 67%). Đôi nơi gặp những đá gritoit bị vỡ nát thành những mảnh vụn có kích thước nhỏ hơn 5cm trông gần giống như dăm kết kiến tạo (Bhadravaman_402:3844.5_3845.8m…).
Bên cạnh đó, phát triển song song với các đứt gãy kiến tạo là các hệ thống khe nứt tồn tại trong đá móng theo những phương thức khác nhau. Tuy nhiên những khe nứt có hướng vuông góc với hệ thống đứt gãy chính ở mỗi khu vực là phát triển hơn cả. Trong phạm vi mẫu lõi, các nứt nẻ quan sát được có góc cắm khác nhau từ trung bình 45_700 đến sâu 80_900 với chiều rộng thay đổi từ <0.5mm tới 3cm. Ở lát mỏng, chiều dài của vi nứt nẻ thay đổi phần lớn từ 0.1_0.3mm. Hầu hết các nứt nẻ đều liên thông với nhau và hình thành những kênh nối với các hang hốc, tạo nên tính thấm rất tốt cho đá móng.
Nhìn chung, những đới có cường độ nứt nẻ và mực độ khe nứt cao thường nằm trùng vào các đới đứt gãy, phá hủy lớn (100_150 nứt nẻ/m) đặc biệt là ở đường khâu của các đứt gãy và giảm khi xa dần các đứt gãy (35_50 nứt nẽ/m đến khoảng 1.5 m ). Chiều dày của các lớp đá móng bị nứt nẻ cũng biến đổi rất mạnh từ vài cm đến vài chục m. Theo kết quả nghiên cứu địa chấn, ở phần trung tâm của cấu tạo Bạch Hổ tồn tại một số nứt nẻ với chiều rộng 1_2 km, dài 4_8 km và sâu hơn 1 km kể từ bề mặt móng.
Song song với các nứt nẻ liên quan với đứt gãy là các nứt nẻ liên quan đến sự có mặt của các lớp trầm tích mới. Sự tích lũy trầm tích mới phủ không đều lên trên cấu tạo (bên cánh thường được tích lũy nhiều hơn phần vòm) dẫn đến lực nén địa tỉnh không đều và hình thành vết nứt thẳng đứng hay hơi nghieâng.
Ở cấu trúc Tây Bạch Hổ, đứt gãy nghịch đã nâng khối đá móng nhô cao và kề áp lên trên lớp trầm tích phủ Oligoxen. Do sự co giản thể tích của các trầm tích vụn và sét diễn ra liên tục trong quá trình Diagenese đã tạo ra những khoảng rỗng phía bên dưới của khối móng. Khoảng rỗng càng lớn thì sập lỡ trọng lực, phá vỡ khối móng càng mạnh, xuất hiện các khe nứt mới và cũng đồng thời mở rộng các khe nứt cũ.
Ngoài ra, sự bóc vỏ do phong hóa bề mặt khi khối macma nhô lên mặt đất tiến tới giảm tải trọng lực ở phần vòm nhanh hơn phần cánh, đã tạo nên các nứt nẻ, đó là kết quả của sự thoát trọng lực của các lớp bên trên.
Quá trình nứt nẻ, cà nát và vỡ vụn tuy không làm thay đổi thành phần nhưng lại làm biến đổi khá mạnh mẽ kiến trúc, cấu tạo và đặc biệt tính vật lí thạch học của đá móng. Mức độ nứt nẻ, vỡ vụn của đá móng phụ thuộc chủ yếu vào cường độ hoạt động kiến tạo của từng khu vực. Ngoài ra nó còn phụ thuộc khá nhiều vào thành phần khoáng vật của đá móng. Trong cùng một điều kiện bị tác động bởi các lực kiến tạo như nhau thì những đá chứa nhiều các khoáng vật có tính mềm dẻo như Fenpat và Mica sẽ ít bị vỡ vụn và nứt nẻ bằng những đá chứa nhiều khoáng vật có tính chất cứng và giòn như Thạch anh.
Như vậy, có thể nói rằng tất cả những biến đổi của đá móng nói trên đều là kết quả của các hoạt động kiến tạo diễn ra mạnh mẻ khu vực. Những biến đổi này là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động thủy nhiệt, phong hóa diễn ra nhanh mạnh hơn góp phần biến đổi đá móng thành đá chứa có tiềm năng. Mật độ, cự ly dịch chuyển, các kiểu nứt nẻ là những yếu tố chính chi phối cường độ phong hóa và mức độ biến đổi của đá.(xem ảnh 9 và10).