Khái lược về tư tưởng Khổng Tử ở Việt Nam

Một phần của tài liệu 238381 (Trang 38 - 41)

Tư tưởng Khổng Tử nói riêng, Nho giáo nói chungvào Việt nam từ rất sớm, có quá trình tồn tại lâu dài và có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Việt Nam.

3.1.1. Thời Bắc Thuộc ( 111 trCN – 939 )

Tư tưởng Khổng Tử vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc qua ba thời kì:

Thời kì thứ nhất, 111 trCN đến năm 39: Các đời Tây Hán và Đông Hán Thời kì thứ hai, năm 43 đến năm 544: Các đời Đông Hán, Tam Quốc, Tấn, Nam Bắc Triều.

Thời kì tứ ba, năm 603 đến năm 939: Các đời Tuỳ, Đường, Ngũ Quý.

Mười thế kỉ đầu công nguyên tư tưởng Khổng Tử ở Việt Nam chưa thịnh, chưa hình thành được tầng lớp Nho sĩ nắm vai trò quan trọng trong xã hội. Nho giáo thời kì này mới chỉ dừng lại ở các quan lại cai trị cấp huyện, thời kì Bắc thuộc tư tưởng Khổng Tử cũng như Nho giáo chưa ảnh hưởng sâu vào cơ tầng xã hội Việt Nam.

3.1.2. Thời Lí - Trần ( 1009 -1400 )

Thời Lí - Trần với xu hướng dung hoà của các học thuyết và các tôn giáo, Nho giáo cũng đã thịnh hành bên cạnh Phật và Đạo. Thời kì này xã hội phong kiến Việt Nam được xây dựng theo kiểu “tôn vua truyền tử” theo thuyết lý

“Quyền huynh thế phụ” theo như mô hình của Khổng Tử.

Ở thời Lí - Trần các vương triều phong kiến đã bắt đầu chú trọng đến việc học hành khoa cử để chọn nhân tài cho bộ máy hành chính. Năm 1070, nhà Lí cho xây dựng văn miếu Quốc Tử Giám thời Khổng Tử năm 1075 triều đình mở khoa thi đầu tiên để chọn nhân tài từ đây Nho giáo và tư tưởng Khổng Tử bắt đầu có địa vị trong xã hội

Còn ở nhà Trần, vương triều đã chính quy hoá, tạo ra quy tắc cho việc học hành, thi cử, lập quốc học viện cho con em quan lại, quý tộc, nho sĩ vào học.

Chính nhờ vào học thuật và tầng lớp nho sĩ này mà tư tưởng Khổng Tử dần dần thấm sâu vào đời sống của nhân dân đưa đến đỉnh cao của nó là thời Lê Sơ.

3.1.3. Thời Lê Sơ (1427-1527)

Dưới thời kì Lê sơ đặc biệt là vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) vào niên hiệu Hồng Đức, là thời kì huy hoàng của Khổng giáo. Ở thời kì này mô hình quản lí xã hội theo mô hình xã hội Khổng Tử đã được xác lập và từng bước hoàn thiện. Tư tưởng Khổng Tử đã phát huy được sức mạnh trong việc duy trì một trật tự xã hội ổn định. Những ảnh hưởng mà tư tưởng của Khổng Tử tạo dựng trong thời kì này góp phần tạo nên sức mạnh của nhà nước và đất nước thời Lê sơ trở thành điển phạm cho xã hội chuyên chế quân chủ Việt Nam. Trong thời kì thịnh đạt đó Khổng giáo hầu như chưa biểu hiện những hạn chế trong quản lí đất nước, duy trì ổn định và thái bình xã hội theo quan niệm Khổng giáo. Hết thời Hồng Đức là khép lại giai đoạn hoàng kim của Khổng giáo cục, diện mới phức tạp, đa biến nhiều thách thức xuất hiện.

3.1.4. Thời Trịnh - Nguyễn ( 1545 - 1777 )

Sau đỉnh cao Đại Việt nước ta triền miên lâm vào khủng hoảng: Chiến tranh Nam - Bắc Triều, chiến tranh Đàng Trong – Đàng Ngoài, làm cho đất

nước lâm vào tình trạng “lịch sử vẫn tiếp diễn mà văn hoá không vận động”

[2.161]. Bên trên thì vua - nước không có một chính sách gì mới để tạo sức hấp dẫn dân - làng, vẫn là thiết chế xã hội thời Lê Sơ, tuy nhiên lúc này nó đã bộc lộ nhiều hạn chế. Hơn nữa chính sách “trọng nông ức thương” làm cho xã hội trì trệ chậm phát triển. Thời kì này tư tưởng Khổng Tử vẫn còn ảnh hưởng lớn đến xã hội Việt Nam tuy, nhiên nó đã bộc lộ nhiều hạn chế.

3.1.5. Từ thế kỉ XIX đến nay

Sang thế kỉ XIX, hệ tư tưởng Khổng Tử lại được đề cao hơn trước đó nhiều. Khôi phục lại nền Nho giáo như thế kỉ XV, triều Nguyễn đã ra sức chấn chỉnh chế độ giáo dục khoa cử. Bắt đầu từ vua Gia Long đến Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức, đều ra sức củng cố địa vị của Nho giáo trong đời sống tư tưởng văn hoá. Vua Minh Mệnh soạn ra “mười điều huấn dụ” vua Tự Đức diễn nôm thành “Thập điều diễn ca” nhằm truyền bá tư tưởng Khổng Tử, Nho giáo. Tuy nhiên, dù có cố gắng làm mọi cách nhưng các thế lực vương triều vẫn không làm cho hệ tư tưởng Khổng Tử có được vị thế như nó đã từng có ở thế kỉ XV. Thực chất việc làm này là không thể, lúc này vương triều nên phát triển đất nước chứ không nên “phục cổ”, đó là biểu hiện trì trệ, không cách tân đất nước, dẫn đến phong kiến bảo thủ Nho bục vỡ dần từng mảng khi có sự xâm lược của đế quốc Pháp ,tư tưởng Khổng Tử dưới thời thuộc Pháp, mất dần vị trí trong xã hội Việt Nam..

Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như là giai đoạn đầu quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội nước ta dấy lên phong trào phản đế phản phong, nghiễm nhiên người ta cứ đồng nhất phong kiến là tư tưởng Khổng Tử, thời kì này đúng là “Nho môn đạm bạc” ở nước ta.

Ngày nay, hệ tư tưởng Khổng Tử đang được nhìn nhận lại và đánh giá đúng giá trị của nó. Nếu như ta đem quan điểm Khổng Tử “trọng nông ức thương”, không khuyến khích làm giàu “Vi phú bất nhân, vi nhân bất phú” dẫn đến chỉ quanh quẩn “dĩ nông vi bản” thì không nên.Thế nhưng, lí tưởng về một xã hội mà con người dung hoà với con người với cộng đồng, đặt lợi ích cộng

đồng lên trên , lợi ích cá nhân, chống chủ nghĩa cá nhân cực đoan (kỉ sở bất dục, vật thư ư nhân), lấy nhân chính để dựng nước. Với tư duy dung hợp, hài hoà (tứ hải giai huynh đệ, trung dung chi đạo), với luân lí trung, hiếu, lễ, nghĩa coi trọng gia đình và xã hội (tề gia rồi trị quốc) làm mẫu mực trau dồi nhân cách. Đó chính là điểm mà chúng ta nên tiếp thu.

Lí tưởng về một xã hội hài hoà ấy lại rất phù hợp với văn hoá truyền thống của xã hội Việt Nam. Với truyền thống văn hoá nông nghiệp lúa nước, người Việt Nam có lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng nước, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lí, có đầu óc thực tế, tinh thần cần cù sáng tạo trong lao động, tế nhị trong ứng xử, giản dị trong lối sống. Khi có tư tưởng Khổng Tử du nhập vào thì những yếu tố truyền thống trên được toả sáng hơn, mang đậm bản sắc người dân Việt.

Một phần của tài liệu 238381 (Trang 38 - 41)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(60 trang)
w