1. OB + OFB = O OB = - OFB
2. OFB = Δ R + L + Khác
3. OB= CA + K + OM
4. CA = TB + Se+ Ic+Tr
5. CA = Cán cân hữu hình + Cán cân vô hình
Cán cân hữu hình :TB
Cán cân vô hình : Se+ Ic+Tr
6. K = Kl +Ks+KTr
7. OM = - (CA + K+ OFB)
Nguyên tắc hạch toán kép xem sách trang 252 TCQT GSTS Nguyễn Văn Tiến .
Ký hiệu Nội dung Doanh số
thu + Doanh số chi - Cán cân CA
TB
SE
Ic
Tr
Cán cân vãng lai Cán cân thương mại Xuất khẩu FOB Nhập khẩu FOB Cán cân dịch vụ Thu từ XKDV Chi cho NKDV Cán cân thu nhập Thu
Chi
Chuyển giao vãng lai Thu
Chi
150
120
20
30
(200)
(160)
(10)
(20)
(70) (50)
(40)
10
10
K Kl
Ks
KTr OM
Cán cân vốn Vốn dài hạn
-Vào
--Ra
-Vốn ngắn hạn
-Vào
-Ra
-Chuyển giao vốn một chiều
-Lỗi và sai sót
140
20 5
(50)
(50) (5) (10)
60 90
(30)
(10)
OB Cán cân tổng thể (20)
OFB +/-R L Khác
Cán cân bù đắp chính thức Thay đổi dự trữ
Vay IMF…
Nguồn tài trợ khác
15 5 0
20 15
5 0
Tổng doanh số 505 (505) 0
Đầu tư nước ngoài ngắn hạn gồm các lưu lượng vốn đầu tư vào chứng khoán có kỳ hạn dưới một năm.
Do kỳ hạn ngắn, nhà đầu tư những chứng khoán này thường duy trì vốn của họ ở một quốc gia nào đó chỉ trong một thời gian ngắn, tạo nên biến động nhanh của các dòng vốn đầu tư ngắn hạn theo thời gian.
Những thay đổi quá khứ trong chu chuyển vốn ở Châu Âu.
Vốn chu chuyển đáp ứng với các qui định thay đổi theo thời gian.
Khi hiệp định Châu Âu hợp nhất năm 1987 được thực hiện để đạt được hội nhập toàn Châu Âu, các luồng vốn được chuyển hướng về các quốc gia Châu Âu để tài trợ các dự án mới có thể thực hiện.
Kết quả là vốn chuyển dịch đến các nước khác ít hơn, do đó nguồn cung vốn có sẵn trở nên thấp hơn nhu cầu về vốn.
Hậu quả là có một áp lực gia tăng lãi suất ở các nước này.
Luân chuyển vốn giữa các quốc gia cũng chịu ảnh hưởng do cuộc tái thống nhất nước Đức cuối năm 1989.
Việc khuyến khích kinh doanh sau khi thống nhất nước Đức tạo nên một gia tăng đáng kể nhu cầu về vốn ở đây.
Vào tháng 08.1990, lãi suất ở Tây Đức đạt mức cao nhất trong 7 năm trước đó. Các dòng vốn chuyển hướng về Đức để tài trợ các dự án mới.
Kết quả là lượng vốn chuyển đến Mỹ và các nước khác ít đi, làm cho lãi suất ở các nước này tăng (hình 2.2).
Như vậy, dao động lãi suất giữa các quốc gia có mối tương quan rất cao, cũng như số lượng các luồng vốn chảy vào và chảy ra từ hầu hết các quốc gia đều chịu ảnh hưởng của cùng các yếu tố.
Hình 2.2: Ảnh hưởng của sự tái thống nhất nước Đức đối với lãi suất
Lượng vốn ở Đức Lượng vốn ở Mỹ
iG1 iG2
s1
D2 D1
Lãi suât Đức Lãi suât Mỹ
D1 s1
S2
Ius1 Ius2
Để minh họa cho sự quan trọng của các dòng vốn đầu tư quốc tế, hãy xem việc các nhà đầu tư Nhật thường mua từ 15% đến 30% các trái khoán kỳ hạn 30 năm do Bộ Tài chính Mỹ phát hành.
Ngoài ra, các nhà đầu tư Nhật còn tham gia khoảng 25% khối lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường chứng khoán NewYork.
Một vài nhà phân tích cho rằng hành động của các nhà đầu tư đã gây ra hai lần sụt giảm thị trường chứng khoán lớn nhất trong thập niên 1980.
Lần phá sản ngày 19/10/1987 bắt đầu sau khi các nhà đầu tư Nhật bán một lượng rất lớn dự trữ trái phiếu kho bạc Mỹ, đẩy các lãi suất tăng nhanh một cách đột ngột.
Ngày 13/10/1989, thị trường chứng khoán sụt giảm sau khi hai ngân hàng Nhật quyết định không hỗ trợ tài chính cho các giám đốc UAL mua công ty UAL ở mức đề nghị 6.75 tỷ.
Sự kiện này có vẻ như để làm cho các nhà đầu tư tin rằng không thể hoàn thành các việc hợp nhất hay sáp nhập sắp tới bởi vì không có hỗ trợ đầy đủ của các nhà đầu tư.
Thí dụ, một quốc gia Châu Âu đã áp đặt các hàng rào tương đối lớn trên nhập khẩu sẽ có một gia tăng lớn trên nhập khẩu.
Ngược lại, một quốc gia Châu Âu khác có hàng rào nhỏ hơn sẽ không có thay đổi bởi vì các cơ hội xuất khẩu đến quốc gia đó đã có sẵn.
Sự hội nhập giữa các quốc gia Châu Âu có thể có tác động quan trọng đến cán cân mậu dịch giữa các quốc gia Châu Âu và các quốc gia ngoài Châu Âu.
Có thể có hai trường hợp xảy ra như sau:
Trường hợp 1:
“Châu Âu pháo đài” – không trả đũa
Một vài nhà phân tích đã cho rằng trong khi các quốc gia Châu Âu cắt giảm hàng rào mậu dịch trong phạm vi Châu Âu, họ sẽ kết hợp lại để đặt các hàng rào cho hàng nhập khẩu từ các quốc gia không phải Châu Âu.
Khảo hướng này được gọi là “Châu Âu pháo đài”, theo đó các công ty Châu Âu được bảo hộ chống lại các nhà xuất khẩu bên ngoài Châu Âu.
Nếu các quốc gia Châu Âu cho rằng các hàng rào mậu dịch của các quốc gia khác như Nhật và Mỹ là quá đáng, họ có thể áp đặt các hàng rào đối với hàng hoá xuất khẩu từ các quốc gia này.
Thí dụ, vào năm 1999 – 2000, các quốc gia Châu âu đã cấm nhập thịt bò xử lý bằng các hóc môn tăng trưởng từ Mỹ.
Ngoài ra, vào những năm 90 họ cũng ấn định giá sàn cho các chíp bộ nhớ máy tính nhập từ Nhật, sau khi buộc tội Nhật “bán phá giá- dumping” (bán thấp hơn giá thành) các chíp bộ nhớ máy tính ở Châu Âu.
Nếu các quốc gia Âu Châu gia tăng các hàng rào, xuất khẩu thuần của họ sẽ gia tăng.
“bán phá giá- dumping”là gì ?
Bán phá giá (Dumping) và những ảnh hưởng môi
trường đối với giá cả
Phân biệt giá quốc tế
Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất
Phương pháp xác định bán phá giá
Phương pháp xác định bán phá giá
1.Xác định sản phẩm tương tự
2.Phương thức tìm sản phẩm tương tự:
(1) Nhận dạng các đặc trưng quan trọng nhất của sản phẩm xuất khẩu được bán ở thị trường nhập khẩu và thị trường nội địa (ví dụ như kích cỡ, nét đặc trưng cơ bản...),
(2) Xác định thứ tự ưu tiên của các đặc trưng này một cách nghiêm ngặt căn cứ vào tầm quan trọng của chúng,
(3) Chọn lựa các giới hạn hoặc phân loại thích hợp đối với mỗi thuộc tính phản ánh các phân nhóm thích hợp những thuộc tính được đo lường (các thông số chủ yếu, các bộ phận cao, trung bình, thấp...)
(4) Phân loại sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm trên thị trường nội địa căn cứ vào tất cả các đặc trưng chỉ ra tính chất phù hợp theo thứ bậc.
(5) Nhận dạng và chọn lọc sản phẩm trên thị trường nội địa tương tự với sản phẩm xuất khẩu.
Phương pháp xác định bán phá giá
Trong trường hợp không có sản phẩm tương tự trên thị trường nội địa thì việc xác định sản phẩm tương tự được dựa trên qui định chi tiết của
WTO như sau:
- Nếu không có sản phẩm tương tự được bán ở nước xuất khẩu, hoặc
- Nếu việc bán sản phẩm trong nước không cho phép có được sự so sánh hợp lý do điều kiện đặc biệt của thị trường đó, hoặc
- Nếu số lượng hàng hóa bán ra tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu quá nhỏ (số lượng được xem là đủ lớn nếu chiếm ≥ 5% số lượng sản phẩm xuất khẩu) thì giá bán sản phẩm ở thị trường trong nước được thay bằng:
Thứ nhất, mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được xuất khẩu sang nước thứ ba thích hợp với điều kiện là mức giá có thể so sánh được này mang tính đại diện thông qua so sánh với chi phí sản
xuất tại nước xuất xứ hàng hóa tương tự
Hoặc thứ hai, so sánh với chi phí sản xuất tại nước xuất xứ hàng hóa
cộng thêm một khoản hợp lý chi phí quản trị, bán hàng, các chi phí chung và một khoản lợi nhuận.
Trong trường hợp này, có thể nhận xét rằng đã có một bước chuyển từ sự “phân biệt đối xử qua giá” sang quyết địnhh xem hàng xuất khẩu có bị bán với “giá dưới chi phí” hay không?
Cách tính giá trị thông
thường và giá xuất khẩu
Giá trị thông thường:
Là giá xuất khẩu sản phẩm tương tự sang nước thứ ba hoặc tính bằng cách công
thêm vào giá thành sản xuất với các chi phí hành chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý chung… và lợi nhuận.
Trường hợp sản phẩm thông thường được xuất khẩu từ một nước có nền kinh tế phi thị trường có nghĩa là giá bán sản phẩm và giá nguyên liệu đầu vào do chính phủ ấn định thì các quy tắc trên không được áp dụng để xác định giá trị thông thường.
Cách tính giá trị thông thường và giá xuất khẩu
Cách tính giá xuất khẩu
Giá xuất khẩu là giá mà nhà sản xuất
nước ngoài bán sản phẩm thông thường cho nhà nhập khẩu đầu tiên.
Tuy nhiên, nếu giá này là giá giao dịch được thực hiện trong nội bộ doanh
nghiệp hoặc theo một thoả thuận đền bù thì giá xuất khẩu sẽ tính bằng giá mà sản phẩm nhập khẩu được bán cho người
mua độc lập đầu tiên ở nước nhập khẩu.
Cách tính giá trị thông thường và giá xuất khẩu
So sánh giá trị thông thường và giá xuất khẩu
Để so sánh một cách công bằng giá trị thông
thường và giá xuất khẩu, hai giá này phải được xác định trong cùng điều kiện thương mại,
nghĩa là cùng khâu sản xuất và cùng thời điểm.
Để tiện so sánh, người ta thường lấy giá xuất xưởng làm giá trị thông thường.
Cách tính giá trị thông thường và giá xuất khẩu
Ví dụ, khi lấy giá bán sản phẩm thông thường cho một người mua độc lập làm giá xuất khẩu, thì:
Giá xuất khẩu = Giá bán sản phẩm thông thường – Lợi nhuận – (các loại thuế+ chi phí phát sinh từ khâu nhập khẩu đến khâu bán hàng)
Dumping
Tóm lại, các quốc gia xác định bán phá giá
thường phân tích chỉ tiêu biên độ bán phá giá.
Biên độ phá giá (BĐPG) tính bằng hiệu số giữa giá trị thông thường (GTTT) và giá xuất khẩu (GXK). Nếu biên độ phá giá lớn hơn 0 là bán phá giá.
Biên độ phá giá còn có thể được tính bằng trị giá tuyệt đối hoặc tương đối theo công thức sau:
BĐPG = (GTTT – GXK) / GXK x 100%
Đối với một vài quốc gia Châu Âu, hàng rào mậu dịch đối với nhập khẩu từ các quốc gia bên ngoài cộng đồng Châu Âu có thể bị cắt giảm.
Chẳng hạn, những quốc gia có hạn ngạch rất hạn chế đối với nhập khẩu ôtô của Nhật có thể phải tuân thủ một hạn ngạch EC thống nhất.
Trước đây Ý duy trì một hạn ngạch 3.500 xe Nhật, ít hơn thị trường của mình 1%.
Hạn ngạch EC có thể từ 10 đến 11%.
Nếu hầu hết các hàng rào mậu dịch EC bên ngoài cộng đồng gia tăng, các công ty vừa và nhỏ xuất khẩu sang Châu Âu có thể bị ảnh hưởng ngược lại.
Ngoài ra, việc bãi bỏ các hàng rào giữa các quốc gia Châu Âu có thể tăng cường sự cạnh tranh giữa các quốc gia này.
Đây là một lý do khác tại sao các nhà xuất khẩu sang Châu Âu có thể bị bất lợi.
Các nhà xuất khẩu quá nhỏ không thể tính đến việc đầu tư nước ngoài trực tiếp có thể bị đẩy ra khỏi thị trường.
Trường hợp 2:
“Châu Âu pháo đài” - trả đũa.
Nếu các quốc gia không phải Châu Âu trả đũa đối với khẩu hướng “Châu Âu pháo đài”, lúc đó thay đổi trong xuất khẩu thuần của các quốc gia Châu Âu khó dự đóan hơn.
Trong khi nhập khẩu từ các quốc gia không phải Châu Âu giảm, xuất khẩu đến những quốc gia này cũng giảm.
Nói chung khảo hướng “Châu Âu pháo đài” có thể được coi là không thích hợp vì nó có thể đưa đến sút giảm mậu dịch quốc tế.
Tuy nhiên, nếu nó chỉ được dùng như một răn đe đối với các hàng rào mậu dịch quá cao từ các quốc gia không phải Châu Âu, chứ không được thực thi liên tục, thì theo quan điểm của các nhà kinh tế Châu Âu, khảo hướng này có thể thực sự khuyến khích mậu dịch tự do.